Đề Xuất 1/2023 # Chi Tiết Bài Học 5.Biến Trong Python # Top 3 Like | Welovelevis.com

Đề Xuất 1/2023 # Chi Tiết Bài Học 5.Biến Trong Python # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Chi Tiết Bài Học 5.Biến Trong Python mới nhất trên website Welovelevis.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

5.Biến trong Python

Một biến Python là một khu vực bộ nhớ được dành riêng để lưu trữ các giá trị. Nói cách khác, biến trong python cung cấp dữ liệu cho quá trình xử lý của máy tính.

Mỗi giá trị trong Python có một kiểu dữ liệu. Các kiểu dữ liệu khác nhau trong Python là kiểu số, kiểu danh sách, kiểu bộ (tuple), kiểu chuỗi (string), kiểu từ điển (dictionary), v.v … Các biến có thể được khai báo bằng bất kỳ tên nào hoặc thậm chí cả bằng chữ cái như a, aa, abc, v.v.

Trong bài học này, chúng ta sẽ tìm hiểu về:

Cùng xét một ví dụ. Chúng ta sẽ khai báo biến “a” và in nó.

a=100 print a

Bạn có thể khai báo lại biến ngay cả khi bạn đã khai báo nó trước đó.

Xét một biến đã được khởi tạo f = 0.

Sau đó, chúng ta gán lại giá trị “guru99” cho biến f

# Declare a variable and initialize it f = 0 print f # re-declaring the variable works f = 'guru99' print f # Declare a variable and initialize it f = 0 print(f) # re-declaring the variable works f = 'guru99' print(f)

Cùng tìm hiểu xem liệu bạn có thể nối các loại dữ liệu khác nhau như chuỗi và số với nhau không. Ví dụ: chúng ta sẽ ghép “Guru” với số “99”.

Nếu trong Java chúng ta có thể thực hiện nối số với chuỗi mà không cần khai báo số đó dưới dạng chuỗi thì trong Python, việc khai báo số dưới dạng chuỗi là cần thiết. Nếu bạn không khai báo, chương trình sẽ báo lỗi kiểu dữ liệu (TypeError).

Đoạn mã nguồn sau sẽ có đầu ra không xác định(báo lỗi: TypeError: cannot concatenate ‘str’ and ‘int’ objects):

a="Guru" b = 99 print a+b

Khi khai báo số nguyên dưới dạng chuỗi, bạn có thể kết hợp “Guru” + str(“99”) trong đầu ra:

a="Guru" b = 99 print(a+str(b))

Trong Python khi bạn muốn sử dụng cùng một biến cho toàn bộ chương trình hoặc mô-đun, bạn cần khai báo nó dưới dạng biến toàn cục. Trường hợp bạn muốn sử dụng biến trong một hàm hoặc phương thức cụ thể, bạn hãy sử dụng biến cục bộ.

Biến “f” là biến toàn cục và được gán giá trị 101, giống như giá trị được in ra.

Biến f được khai báo một lần nữa trong hàm và được coi là biến cục bộ. Nó được gán giá trị “I am learning Python.”, giống như giá trị được in ra. Biến này khác với biến toàn cục “f” được xác định trước đó.

# Declare a variable and initialize it f = 101 print f # Global vs. local variables in functions def someFunction(): # global f f = 'I am learning Python' print f someFunction() print f # Declare a variable and initialize it f = 101 print(f) # Global vs. local variables in functions def someFunction(): # global f f = 'I am learning Python' print(f) someFunction() print(f)

Biến “f” là biến toàn cục và được gán giá trị 101, giống như giá trị được in ra.

Biến f được khai báo sử dụng từ khóa global. Đây KHÔNG PHẢI là một biến cục bộ mà là biến toàn cục được khai báo trước đó. Do đó khi chúng ta in giá trị của nó, kết quả sẽ là 101.

f = 101; print f # Global vs.local variables in functions def someFunction(): global f print f f = "changing global variable" someFunction() print f f = 101; print(f) # Global vs.local variables in functions def someFunction(): global f print(f) f = "changing global variable" someFunction() print(f) f = 11; print(f) del f print(f)

Các biến được coi như một chiếc “phong bì” hoặc “xô” nơi mà thông tin có thể được duy trì và tham chiếu. Giống như bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào khác, Python cũng sử dụng một biến để lưu trữ thông tin.

Tóm tắt:

Soạn Bài Ý Nghĩa Văn Chương (Chi Tiết)

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Trả lời câu 1 (trang 62 sgk Ngữ Văn 7 Tập 2): Theo Hoài Thanh, nguồn gốc cốt yếu của văn chương là gì? Hãy chú ý đến nghĩa của hai từ cốt yếu (chính, quan trọng nhất nhưng chưa phải là tất cả) và đọc bốn dòng đầu của văn bản để tìm ý trả lời. Lời giải chi tiết:

Nguồn gốc cốt yếu của văn chương:

– “Cốt yếu” là nói cái chính, cái quan trọng nhất chứ chưa phải là tất cả. Vậy theo Hoài Thanh: “Nguồn gốc cốt yếu của văn chương là lòng thương người và rộng ra thương cả muôn vật, muôn loài”. Nói như vậy là rất đúng, nhưng vẫn có cách quan niệm khác, có thể bổ sung cho nhau. Ví dụ: “Văn chương bắt nguồn từ cuộc sống lao động của con người.

Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 62 sgk Ngữ Văn 7 Tập 2): Hoài Thanh viết: “Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng. Chẳng những thế văn chương còn sáng tạo ra sự sống.. “. Hãy đọc lại chú thích 5 rồi giải thích và tìm dẫn chứng để làm rõ các ý đó. Lời giải chi tiết:

Trong nội dung lời văn của Hoài Thanh có hai ý chính:

a) Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng.

b) Văn chương còn sáng tạo ra sự sống.

– Ý thứ nhất nghĩa là: Cuộc sống của con người, cùa xã hội vốn là muôn hình vạn trạng. Văn chương có nhiệm vụ phản ánh cuộc sống đó. Ớ đây, “hình dung” là danh từ, nó có ý nghĩa như hình ảnh, kết quả của sự phản ánh, sự miêu tả trong văn chương.

– Ý thứ hai nghĩa là: Văn chương dựng lên những hình ảnh đưa ra những ý tưởng mà cuộc sống hiện đại chưa có, hoặc chưa cần để mọi người phấn đấu xây dựng, biến chúng thành hiện thực tốt đẹp trong tương lai.

Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 62 sgk Ngữ Văn 7 Tập 2): Theo Hoài Thanh, công dụng của văn chương là gì? Hãy đọc đoạn văn từ “Vậy thì, hoặc hình dung sự sống” đến hết văn bản để tìm ý trả lời. Lời giải chi tiết:

Công dụng của văn chương là: giúp cho người đọc có tình cảm, có lòng vị tha, “gây cho ta những tình cảm không có, luyện những tình cảm ta sẵn có”, biết cái đẹp, cái hay của cảnh vật, thiên nhiên. Lịch sử loài người, nếu xóa bỏ văn chương thì sẽ xóa bỏ hết dấu vết của chính nó, sẽ nghèo nàn về tâm linh đến mức nào.

Câu 4 Trả lời câu 4 (trang 62 sgk Ngữ Văn 7 Tập 2): Đọc lại những kiến thức về bài văn nghị luận đã học trong phần Tập làm văn ở Bài 18, 19, 20, từ đó trả lời các câu hỏi:

a) Văn bản ý nghĩa văn chương thuộc loại văn bản nghị luận nào trong hai loại sau? Vì sao?

– Nghị luận chính trị – xã hội;

– Nghị luận văn chương.

b) Văn nghị luận của Hoài Thanh (qua Ý nghĩa văn chương) có gì đặc sắc? Hãy chọn một trong các ý sau để trả lời:

– Lập luận chặt chẽ, sáng sủa;

– Lập luận chặt chẽ, sáng sủa và giàu cảm xúc;

– Vừa có lí lẽ, vừa có cảm xúc, hình ảnh.

Tìm một đoạn trong văn bản đế làm dần chứng và làm rõ ý đã chọn.

Lời giải chi tiết:

a) Văn bản Ý nghĩa văn chương thuộc văn nghị luận văn chương, vì phạm vi nghị luận là thuộc vấn đề của văn chương.

b) Đặc sắc của văn nghị luận Hoài Thanh (qua Ý nghĩa văn chương ) là vừa có lí lẽ, vừa có cảm xúc và hình ảnh.

– Ví dụ như trong đoạn văn mở đầu: “Người ta kể… nguồn gốc của thi ca.”

+ Đoạn này nghị luận về nguồn gốc của thi ca

+ Tác giả lấy dẫn chứng từ một câu chuyện có từ xa xưa về thi sĩ Ấn Độ

Câu 5 LUYỆN TẬP Hoài Thanh viết: “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có”. Hãy dựa vào kiến thức văn học đã có, giải thích và tìm dẫn chứng để chứng minh cho câu nói đó. Lời giải chi tiết: Trả lời:

– “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có: văn chương giúp ta có thêm hiểu biết đối với các thông tin, các đối tượng mà tác phẩm nhắc đến.

– Văn chương rèn luyện những tình cảm ta sẵn có”: văn chương bồi đắp thêm cho chúng ta những cảm xúc yêu, mến, giận, hờn… đối với những đối tượng có trong tác phẩm.

Từ việc hiểu ý kiến của Hoài Thanh, em hãy đối chiếu, kiểm tra lại thực trạng tình cảm của mình trước và sau khi học Bài ca Côn Sơn của Nguyễn Trãi, ghi lại những điều gì trước chưa có, nay mới có, trước “sẵn có” nhưng còn mờ nhạt, nay rõ nét hơn, thấm thía hơn.

Ví dụ 1: Trước, em chưa hề biết gì về Côn Sơn, do đó chưa hề thích thú gì nơi này. Nay nhờ học đoạn thơ mà bắt đầu biết Côn Sơn là một thắng cảnh, nơi mà người anh hùng kiêm đại thi hào Nguyễn Trãi đã có nhiều năm tháng gắn bó, lại có Bài ca Côn Sơn hấp dẫn tuyệt vời, vì vậy em yêu thích và khát khao được đến Côn Sơn để tham quan, để thưởng ngoạn cảnh đẹp, chiêm ngưỡng di tích lịch sử. Đó là thuộc tình cảm “không có “, nay nhờ văn chương mà có;

Ví dụ 2: Trước, em đã thích nghe tiếng suối chảy róc rách, nay sau khi học Bài ca Côn Sơn em hình dung “Côn Sơn suối chảy rì rầm, ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai” – nghĩa là nghe tiếng suối như tiếng đàn, thì việc nghe tiếng suối chắc chắn sẽ càng thích thú hơn). Đó là trường hợp tình cảm đã “sẵn có ” nhưng nhờ văn chương mà “luyện” cho thích thú hơn.

Bố cục Lời giải chi tiết:

Bố cục (3 phần):

– Đoạn 1 (từ đầu … muôn loài): Nguồn gốc cốt yếu của văn chương.

– Đoạn 2 (tiếp … sáng tạo ra sự sống): Nhiệm vụ của văn chương.

– Đoạn 3 (còn lại): Công dụng của văn chương.

ND chính

Với một lối văn vừa có lí lẽ, vừa có cảm xúc và hình ảnh, Hoài Thanh khẳng định: nguồn gốc cốt yếu của văn chương là tình cảm và lòng vị tha. Văn chương là hình ảnh của sự sống muôn hình vạn trạng và sáng tạo ra sự sống, gây những tình cảm không có, luyện những tình cảm sẵn có. Đời sống tinh thần của nhân loại nếu thiếu văn chương thì sẽ rất nghèo nàn.

chúng tôi

Phong Trào Đông Du Là Gì? Diễn Biến, Kết Quả, Ý Nghĩa Và Bài Học

Số lượt đọc bài viết: 5.264

Bối cảnh nước ta thời kì này hầu như Pháp tăng cường sự xâm chiếm, đàn áp nhân dân trong nước. Các cuộc khởi nghĩa của quân dân ta vẫn liên tiếp nổ ra nhưng chưa giành được thắng lợi vì lực lượng và kế hoạch còn non yếu. Trước tình hình đó, Phan Bội Châu và các sĩ phu yêu nước bắt đầu đi khắp nơi để chiêu mộ quân thành lập tổ chức cách mạng.

Vào năm 1904, sau khi đi Nam Kỳ trở về, Phan Bội CHâu và các đồng ý chí tổ chức cuộc họp tại nhà riêng của vị Nguyễn Hàm. Đồng ý lập ra một rổ chức bí mật hoạt động cách mạnh yêu nước có tên gọi là Duy Tân hội. Một số hội viên yêu nước khác như Trình Hiền, Lê Võ, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân,…

Diễn biến phong trào Đông Du

Phan Bội Châu tin rằng có thể liên kết với Nhật Bản để giúp đỡ phong trào chống Pháp trong nước. Vì vậy đã tập hợp người tài giỏi để chuẩn bị đưa sang Nhật học hành. Vào tháng 1/1905, một số vị sĩ phu Việt Nam bắt đầu sang tới Nhật Bản.

Cuối cùng Phan Bội Châu đã đồng ý với người Nhật, gửi học sinh sang học tập và nghiên cứu để làm chỗ dựa cho phong trào đấu tranh yêu nước về sau. Tới năm 1908 thì số lượng học sinh sang tới Nhật học tập vào khoảng 200 người. Trong đó có đủ học sinh ở mọi vùng miền của Tổ Quốc.

Chương trình học tập được giảng dạy ở các trường lớn đa dạng về các lĩnh vực khác nhau, có cả về quân sự và chiến lược đấu tranh. Phan Bội Châu đã cùng các đồng chí Việt khác thành lập ra Hội Việt Nam Cống Hiến để giúp đỡ công cuộc học tập và quản lý học sinh.

Tuy nhiên, phong trào không phát triển được bao lâu thì bọn thực dân Pháp lại câu kết với Nhật Bản. Bởi vậy, chúng ra sức đàn áp du học sinh Việt bên đất nước Nhật Bản, toàn bộ học sinh và Phan Bội Châu bị buộc trục xuất về nước. Phong trào chính thức thất bại nhưng vẫn đạt được nhiều thành tựu đáng kể.

Những thanh niên du học học tập được nhiều điều mới mẻ về trợ giúp cách mạng trong nước. Sau này chính họ trở thành hạt nhân của các phong trào cách mạng giai đoạn sau, bền bỉ đấu tranh chống bọn thực dân xâm lược.

Ý nghĩa phong trào Đông Du là gì?

Phong trào Đông Du mặc dù chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian ngắn, song được coi là một trong những phong trào yêu nước mạnh mẽ nhất của nhân dân ta đầu thế kỷ 20.

Nhiều thanh niên du học của phong trào Đông Du sau này đã trở thành những hạt nhân của các phong trào cách mạng tiếp theo trong công cuộc giải phóng dân tộc.

Phong trào Đông Du tuy không đạt được nhiều thành công như mong đợi nhưng các vị sĩ phu, thanh niên nước ta vẫn về nước. Họ chính là những người thắp lửa, dẫn đường cho phong trào cách mạng bùng nổ quyết liệt về sau. Thế nhưng, phong trào Đông Du thất bại để lại nhiều bài học đắt giá.

Đầu tiên chủ trương bạo động tập hợp nhân dân đứng lên đấu tranh để giành lấy độc lập tự do của các vị lãnh đạo là hoàn toàn đúng đắn. Tuy nhiên tư tưởng nhờ sự trợ giúp của bọn tư bản hiếu chiến, tham lam là không đúng. Bởi bản chất chúng là quân chuyên đi xâm lược các nước khác, vẫn có ý định lăm le chiếm Việt Nam, coi như con mồi béo bở.

Như vậy thì cuộc đấu tranh của quân dân Việt Nam mới có cơ hội được hỗ trợ mạnh mẽ và giành thắng lợi. Tuy nhiên, phong trào Đông Du cũng để lại nhiều ý nghĩa tuyệt vời, mở đường cho việc cứu nước là đi ra bên ngoài để học hỏi. Đồng thời thổi bùng ngọn lửa yêu nước chưa bao giờ nguôi của người dân nước ta.

Please follow and like us:

Bài Văn Thuyết Minh Về Chùa Trấn Quốc Lớp 10, Chi Tiết, Có Dàn Ý

Đề bài: Thuyết minh về chùa Trấn Quốc

Thuyết minh về chùa Trấn Quốc

Mẹo Cách làm bài văn thuyết minh hay

I. Dàn ý Thuyết minh về chùa Trấn Quốc

Giới thiệu khái quát về chùa Trấn Quốc

a. Lịch sử hình thành, tên gọi– Vốn có tên là chùa Khải Quốc, bắt đầu dựng từ thời Lý Nam Đế tại một thôn quê gần bờ sông Hồng.– Năm 1842, vua Thiệu Trị quyết định đổi tên chùa thánh Trấn Bắc.– Đến đời vua Lê Hy Tông, chùa đổi tên là Trần Quốc và được dùng cho đến ngày nay.

b. Vị trí địa lý– Nằm trên đường Thanh Niên, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.– Chùa tọa lạc tại một hòn đảo phía đông Tây Hồ

c. Kết cấu chùa Trấn Quốc– Có ba ngôi chính với nhiều lớp nhà, được nối thành hình chữ công, bao gồm Tiền đường, thượng điện và nhà thiêu hương.– Tiền đường của chùa Trấn Quốc hướng về phía Tây. Có hai dãy hành lang dài ở hai bên nhà thượng điện và nhà thiêu hương.– Có một gác chuông ba gian nằm trên trục sánh chính, ở phía sau thượng điện.– Mộ tháp cổ nổi bật trong khuôn viên của chùa là Bảo tháp lục độ đài sen.

d. Ý nghĩa– Là một trong những biểu tượng của nền văn hóa lâu đời của Hà Nội.– Minh chứng cho sự phát triển của Phật giáo ở Việt Nam.

Khẳng định giá trị của chùa Trấn Quốc.

II. Bài văn mẫu Thuyết minh về chùa Trấn Quốc

Nhắc đến chùa Hà Nội không thể không nhắc đến chùa Trấn Quốc – một trong những ngôi chùa cổ lịch sử lâu đời nhất nơi đây. Chùa Trấn Quốc cũng là một trong những niềm tự hào của người dân Hà Nội nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung.

Theo sử sách ghi chép lại thì chùa Trấn Quốc vốn có tên là chùa Khải Quốc, bắt đầu dựng từ thời Lý Nam Đế tại một thôn quê gần bờ sông Hồng. Chùa được dời vào và dựng trên nền xưa của cung Thúy Hoa, điện Hàn Nguyên vào năm 1615. Những năm về sau, được sự hỗ trợ của vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị cùng đóng góp của nhân dân chùa được trùng tu lại, đặt thêm chuông tượng và mở rộng diện tích. Năm 1842, vua Thiệu Trị quyết định đổi tên chùa thánh Trấn Bắc. Đến đời vua Lê Hy Tông, chùa đổi tên là Trần Quốc và được dùng cho đến ngày nay.

Chùa Trấn Quốc nằm trên đường Thanh Niên, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Chùa tọa lạc tại một hòn đảo phía đông Tây Hồ của một hồ nước ngọt rộng lớn.

Phía trên của chùa là hai câu đố được viết bằng chữ Nôm: “Vang tai xe ngựa qua đường tục/ Mở mặt non sông đứng cửa thiền”, ngoài ra, con được ghi thêm ba chữ Phương điện môn ở trung tâm.

Chùa có kết cấu được thiết kế theo những nguyên tắc, trình tự nhất định. Có ba ngôi chính với nhiều lớp nhà, được nối thành hình chữ công, bao gồm Tiền đường, thượng điện và nhà thiêu hương. Tiền đường của chùa Trấn Quốc hướng về phía Tây. Có hai dãy hành lang dài ở hai bên nhà thượng điện và nhà thiêu hương. Có một gác chuông ba gian nằm trên trục sánh chính, ở phía sau thượng điện.

Bên trong chùa Trấn Quốc còn có các nhà tổ, nhà bia và một số mộ tháp cổ. Mộ tháp cổ nổi bật trong khuôn viên của chùa là Bảo tháp lục độ đài sen. Bao tháp cổ cao hơn 15m với 11 tầng. Mỗi tầng đều được đặt những pho tượng Phật bà trong các ô cửa hình vòm. Đỉnh tháp được gọi là Cửu phẩm liên hoa vì nó là đài sen 9 tầng, được làm từ đá quý. Đối xứng với bảo tháp là một cây bồ đề lớn với ý nghĩa: “Hoa sen tượng trưng cho Phật tính chân, như tính sinh ở dưới bùn mà không bị ô uế. Bồ đề là trí giác, trí tuệ vô thượng. Tất cả đều hàm ý nghĩa bản thể và hiện tượng của các pháp”.

Chùa Trấn Quốc không chỉ là ngôi chùa cổ có kiến trúc độc đáo mà còn là một biểu tượng của nền văn hóa lâu đời của người dân Hà Nội nói riêng, của Việt Nam nói chung. Hơn nữa, ngôi chùa còn là một trong những minh chứng rõ nét cho sự phát triển Phật giáo ở Việt Nam.

Có thể thấy rằng, kiến trúc chùa có sự hài hòa giữa tính uy nghiêm, cổ kính với sự thanh nhã, yên bình của cảnh quan. Nhớ vậy mà nơi đây thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, đặc biệt là các tín đồ phật tử. Hy vọng rằng trong tương lai những nét văn hóa của chùa sẽ được lưu giữ và phát triển hơn nữa.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Chi Tiết Bài Học 5.Biến Trong Python trên website Welovelevis.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!