Đề Xuất 2/2023 # Giáo Án Ngữ Văn 12 Tiết 49+ 50: Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông # Top 2 Like | Welovelevis.com

Đề Xuất 2/2023 # Giáo Án Ngữ Văn 12 Tiết 49+ 50: Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Giáo Án Ngữ Văn 12 Tiết 49+ 50: Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông mới nhất trên website Welovelevis.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Về kiến thức

– Hiểu được những cảm nhận tinh tế, su sắc tình yu, niềm tự ho

tha thiết, su lắng của tc giả dnh cho sơng Hương, cho xứ Huế

thn yu được thể hiện qua một ng văn đẹp đẽ, ti hoa

– Nhận biết được đặc trưng của thể loại bút kí và nghệ thuật viết

– Giáo dục bồi dưỡng tình yêu, niềm tự hào với quê hương Tổ quốc

Ngµy so¹n: Ngµy d¹y: TiÕt sè:49- 50 A. Mơc tiªu bµi häc: (Hoàng Phủ Ngọc Tường) Giĩp HS 1. Về kiến thức - Hiểu được những cảm nhận tinh tế, sâu sắc tình yêu, niềm tự hào tha thiết, sâu lắng của tác giả dành cho sơng Hương, cho xứ Huế thân yêu được thể hiện qua một áng văn đẹp đẽ, tài hoa 2. Về kĩ năng: - Nhận biết được đặc trưng của thể loại bút kí và nghệ thuật viết bút kí. 3. Về thái độ: - Giáo dục bồi dưỡng tình yêu, niềm tự hào với quê hương Tổ quốc B. Ph­¬ng tiƯn thùc hiƯn: - SGK, SGV, thiÕt kÕ bµi häc - Gi¸o ¸n c¸ nh©n lªn líp C. C¸ch thøc tiÕn hµnh - Gi¸o viªn tỉ chøc giê d¹y häc theo c¸ch kÕt hỵp c¸c ph­¬ng ph¸p: ®äc s¸ng t¹o, gỵi t×m, t¸i hiƯn, thuyÕt tr×nh, kÕt hỵp víi c¸c h×nh thøc trao ®ỉi th¶o luËn, tr¶ lêi c¸c c©u hái. D. TiÕn tr×nh d¹y häc 1 KiĨm tra bµi cị: 2. Giíi thiƯu bµi míi "Chúng ta đã từng biết đến vẻ đẹp con sông Đa ø (Tây Bắc) , vừa hùng vĩ, vừa dữ dội, vừa trữ tình thơ mộng qua trang viết tài hoa, độc đáo của Nguyễn Tuân. Trong bài học hôm nay, chúng ta sẽ thưởng thức vẻ đẹp dòng sông Hương qua bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường: "Ai đã đặt tên cho dòng sông". Hoạt động của GV và HS Nội dung và yêu cầu cần đạt Hoạt động 1 - Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu phần tiểu dẫn. (?)Trình bày những nội dung cơ bản trong phần tiểu dẫn? - Hs dùa vµo sgk tr×nh bµy - Gv nhËn xÐt tỉng hỵp Hoạt động 2 - HD HS đọc - GV : s"ng H­¬ng ®­ỵc nh×n tõ 2 gãc ®é: Dßng s"ng TN vµ dßng s"ng v¨n ho¸ - lÞch sư - Th¶o luËn nhãm (5 phĩt) - Học sinh làm việc theo nhom, trình bày trước lớp. + Nhãm 1: C¶nh s¾c thiªn nhiªn cđa s"ng Hư¬ng ë thưỵng nguån ®ưỵc miªu t¶ như thÕ nµo? DÉn chøng minh ho¹ trong t¸c phÈm? (?) Gi÷a lßng Tr­êng S¬n con s"ng ®­ỵc miªu t¶ nh­ thÕ nµo ? T¸c gi¶ ®· sư dơng nh÷ng biƯn ph¸p nghƯ thuËt nµo ®Ĩ miªu t¶ ? (?) Khi ra khái rõng giµ con s"ng cã vỴ ®Đp nh­ thÕ nµo? + Nhãm 2: Sơng Hương ở đồng bằng được miêu tả như thế nào? Dẫn chứng minh họa. - Học sinh làm việc cá nhân, trình bày trước lớp + Nhãm 3: Trong c¸i nh×n cđa Hoàng Phủ Ngọc Tường, s"ng Hư¬ng khi ®i qua thµnh phè ®ưỵc c¶m nhËn như thÕ nµo? - Học sinh làm việc theo nhãm, trình bày trước lớp - Giáo viên liên hệ với thơ Hàn Mặc Tử và Tố Hữu: "Gío theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay" (Hàn Mặc Tư)û " Hương giang ơi dòng sông êm Quả tim ta vẫn ngày đêm tự tình" (Tố Hữu) + Nhãm 4: Sơng Hương trước khi đi ra biển cả cĩ điểm gì đặc biệt ? - Hs lµm viƯc theo nhãm, ®¹i diƯn tr×nh bµy tr­íc líp (?) D­íi gãc ®é v¨n ho¸, s"ng H­¬ng ®­ỵc t¸c gi¶ c¶m nhËn nh­ thÕ nµo? - GV gỵi ý: + Tím dẫn chứng cho thấy tác giả miêu tả sơng Hương gắn với âm nhạc cổ điển Huế? + Tác giả đã liên tưởng đến đại thi hào Nguyễn Du như thế nào? (?) Những chi tiết nào cho thấy tác giả miêu tả sơng Hương gắn với những sự kiện lịch sử? (?) Qua viƯc t×m hiĨu vỴ ®Đp s"ng Hư¬ng, em nhËn xÐt g× vỊ t×nh c¶m cđa t¸c gi¶ dµnh cho dßng s"ng? - Th¶o luËn nhãm: 3 phĩt + Nhãm1: T¸c gi¶ ®· sư dơng nh÷ng ®iĨm nh×n trÇn thuËt nµo? - Hs lµm viƯc theo nhãm, ®¹i diƯn tr×nh bµy tr­íc líp + Nhãm 2: Em cã nhËn xÐt g× vỊ viƯc sư dơng ng"i kĨ? - Hs lµm viƯc theo nhãm, ®¹i diƯn tr×nh bµy tr­íc líp + Nhãm 3: VỴ ®Đp cđa s"ng Hư¬ng ®ưỵc t¸c gi¶ miªu t¶ b"ng giäng ®iƯu như thÕ nµo ? - Hs lµm viƯc theo nhãm, ®¹i diƯn tr×nh bµy tr­íc líp (?) Từ đoạn văn em hiểu thêm điều gì về thể loại bút kí? Thể lo¹i nµy có gì giống và khác với thể loại tuỳ bút? - Hs lÇn l­ỵt tr¶ lêi - Gv nhËn xÐt, tỉng hỵp Hoạt động 3 - GV cho 1-2 HS đọc phần ghi nhớ. Hoạt động 4 Cách đặt tiêu đề và kết thúc tác phẩm bằng câu hỏi "Ai đã đặt tên cho dịng sơng?" nhằm mục đích gì? I.TÌM HIỂU CHUNG: 1.Tác giả: Hoàng Phủ Ngọc Tường - Sinh năm 1937 tại thành phố Huế - Quê gốc: Làng Bích Khê - Xã Triệu Phong - Huyện Triệu Phong - Tỉnh Quảng Trị. - Lµ mét trÝ thøc yªu n­íc, cã vèn hiĨu biÕt s©u réng trªn nhiỊu lÜnh vùc - Lµ nhµ v¨n chuyªn viÕt vỊ thĨ lo¹i bĩt kÝ à Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với tư duy đa chiều ®­ỵc tỉng hỵp tõ vốn kiến thức sâu rộng, lối viết hướng nội, sĩc tÝch, mª đắm, tài hoa. - Sáng tác văn chương: Văn xuơi và thơ - Tác phẩm chính: SGK 2. Tác phẩm: " Ai đã đặt tên cho dịng sơng? " - Thể loại: Tùy bút - Xuất xứ: In trong tập sách cùng tên. - Bố cục: Gồm 3 phần Phần 1: Cảnh quan thiên nhiên của sơng Hương Phần 2+ 3: Phương diện lịch sử và văn hĩa của sơng Hương à Đoạn trích trong sgk thuộc phần một + lời kết của tồn tác phẩm II. Đọc - Hiểu văn bản. 1. Đọc 2. Tìm hiểu chú thích 3. Tìm hiểu văn bản. 3.1. Vẻ đẹp của sơng Hương qua cảnh sắc thiên nhiên * Sơng Hương ở thượng nguồn + Sức sống mãnh liệt, hoang dại + Dịu dàng và say đắm. Gi÷a lßng Tr­êng S¬n: à Gi÷a lßng Tr­êng S¬n, S"ng H­¬ng mang mét vỴ ®Đp trµn ®Çy søc sèng, m·nh liƯt, man d¹i vµ c¸ tÝnh - H×nh ¶nh so s¸nh: mét b¶n tr­êng ca cđa rõng giµ ("RÇm ré gi÷a bãng c©y ®¹i ngµn- M·nh liƯt v­ỵt qua ghỊnh th¸c- Cuén xo¸y nh­ c¬n lèc") - H×nh ¶nh Nh©n ho¸: C" g¸i Di-gan phãng kho¸ng vµ man d¹i (B¶n lÜnh gan d¹ - T©m hån tù do vµ trong s¸ng) Khi ra khái rõng giµ: à VỴ ®Đp dÞu dµng, s©u th¼m, bÝ Èn +DÞu dµng vµ trÝ tuƯ +Trë thµnh ngêi mĐ phï sa cđa mét vïng v¨n ho¸ xø së +§ãng kÝn t©m hån s©u th¼m ë cưa rõng Tãm l¹i: s"ng H­¬ng ë th­ỵng nguån mang vỴ ®Đp phãng kho¸ng, man d¹i, bÝ Èn nh­ng cịng rÊt dÞu dµng vµ trÝ tuƯ * Sơng Hương ở đồng bằng - Sơng Hương thay đổi về tính cách: + Chế ngự được bản năng của người con gái + "mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hĩa xứ sở" - Cảnh đẹp sơng Hương như bức tranh cĩ đường nét, cĩ hình khối: + ChuyĨn dßng liªn tơc; vßng gi÷a khĩc quanh ®ét ngét, uèn m×nh theo nh÷ng ®­êng cong thËt mỊm. "Sơng mềm như tấm lụa" trơi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách" Vẻ đẹp s"ng Hư¬ng đa màu mà biến ảo: "sớm xanh , trưa vàng, chiều tím". -Vẻ đẹp trầm mặc cđa sơng Hương. -Vẻ đẹp mang màu sắc triết lí, cổ thi khi đi trong âm hưởng ngân nga của tiếng chuơng chùa Thiên Mụ. * Sông Hương khi đi qua thành phố Huế: S"ng Hư¬ng mang vỴ ®Đp dÞu dµng, cã linh hån vµ vui tư¬i h¼n lªn như "t×m ®ĩng ®ưêng vỊ". Råi ngay lËp tøc, s"ng Hư¬ng g¾n bã tha thiÕt víi thµnh phè "như mét tiÕng v©ng kh"ng nãi ra cđa t×nh yªu, ngËp ngõng nh­ muèn ®i muèn ë vư¬ng vÊn kh"ng muèn xa rêi. - Trong c¸ch biĨu ®¹t tµi hoa cđa t¸c gi¶, s"ng Hư¬ng ®ưỵc c¶m nhËn dưíi nhiỊu gãc ®é: + B"ng con m¾t héi ho¹: s"ng Hư¬ng vµ nh÷ng chi lưu cđa nã t¹o nh÷ng ®ưêng nÐt tinh tÕ lµm nªn vỴ ®Đp cỉ kÝnh cđa cè ®". + Qua c¸ch c¶m nhËn ©m nh¹c: SH ®Đp nh­ ®iƯu slow chËm r·i, s©u l¾ng, tr÷ t×nh. + Dưíi c¸i nh×n say ®¾m cđa mét tr¸i tim ®a t×nh: S"ng Hư¬ng lµ ngưêi t×nh dÞu dµng, thủ chung. * Song Hương trở lại để nĩi một lời thề trước khi về biển cả. - §ưỵc so s¸nh như "nµng KiỊu trong ®ªm t×nh tù trë l¹i t×m Kim Träng". - "Lời thề ấy vang vọng thành giọng hị dân gian". §ã là tấm lßng con người HuÕ "mãi chung tình với quê hương xứ sở". * Như vËy , vỴ ®Đp cđa s"ng Hư¬ng qua c¶nh s¾c thiªn nhiªn " nh­ mét c" g¸i HuÕ duyªn d¸ng ®iĨm t" cho vỴ ®Đp HuÕ". 3.1.2 .VỴ ®Đp cđa s"ng Hư¬ng d­íi gãc ®é v¨n ho¸ - Dưíi gãc ®é v¨n ho¸: + G¾n víi nh¹c cỉ ®iĨn vµ nh÷ng ®ªm ca HuÕ trªn s"ng. + G¾n víi NguyƠn Du vµ khĩc nh¹c "tø ®¹i c¶nh". + Lµ nguån c¶m høng bÊt tËn cđa thi ca à Tác giả cho cĩ một dịng thi ca về sơng Hương.Đĩ là dịng thơ khơng lặp lại mình: "Dịng sơng trắng- lá cây xanh"(Chơi xuân-Tản Đà) "Như kiếm dựng trời xanh"( Trường giang như kiếm lập thanh thiên-Cao Bá Quát). "Con sơng dùng dằng, con sơng khơng chảy. Sơng chảy vào lịng nên Huế rất sâu"(Thơ của Thu Bồn) à S"ng Hư¬ng thuéc vỊ mét thµnh phè tõng lµ chèn ®Õ ®" vµ tù b¶n th©n nã ®· thÊm ®Ém phÈm chÊt v¨n ho¸ ®éc ®¸o xø HuÕ - Dưíi gãc ®é ®êi thưêng: S"ng Hư¬ng trë l¹i lµ mét ngưêi con g¸i dÞu dµng cđa ®Êt nưíc. 3.1.3 VỴ ®Đp s"ng Hư¬ng g¾n liỊn víi nh÷ng sù kiƯn lÞch sư. - Thêi vua Hïng s"ng Hư¬ng lµ dßng s"ng biªn thuú xa x"i. - Trong "dư ®Þa chÝ" (NguyƠn Tr·i), s"ng Hư¬ng ®ưỵc ®Ỉt tªn Linh Giang, g¾n víi nh÷ng cuéc chiÕn ®Êu oanh liƯt cđa qu©n d©n §¹i ViƯt. - ThÕ kû XVIII: S"ng Hư¬ng "vỴ vang soi bãng kinh thµnh Phĩ Xu©n cđa ngưêi anh hïng NguyƠn HuƯ". - ThÕ kû XIX: S"ng Hư¬ng sèng hÕt lÞch sư bi tr¸ng víi m¸u cđa nh÷ng cuéc khëi nghÜa. - §i vµo thêi ®¹i cđa C¸ch m¹ng th¸ng T¸m b"ng nh÷ng chiÕn c"ng rung chuyĨn. - Chøng kiÕn cuéc nỉi dËy tỉng tiÕn c"ng tÕt MËu Th©n 1968. * Tãm l¹i: S"ng Hư¬ng lµ mét h×nh tưỵng nghƯ thuËt héi tơ ®Çy ®đ vỴ ®Đp cđa thiªn nhiªn, v¨n ho¸, lÞch sư vµ t©m hån - T×nh c¶m cđa Hoàng Phủ Ngọc Tường víi s"ng Hư¬ng: T¸c gi¶ ®· soi s¸ng vỴ ®Đp h×nh tưỵng dßng s"ng Hư¬ng b"ng t©m hån m×nh vµ b"ng t×nh yªu tha thiÕt ®èi víi quª hư¬ng xø së, khiÕn nã trë nªn lung linh, ®a d¹ng như ®êi sèng t©m hån con ngưêi. 3.2. NghƯ thuËt trÇn thuËt. - §iĨm nh×n trÇn thuËt: BiÕn ®ỉi linh ho¹t: + Phư¬ng diƯn thêi gian + Phư¬ng diƯn kh"ng gian + Phư¬ng diƯn kÕt cÊu Ng"i kĨ: Nh©n vËt T"i - Ngưêi trÇn thuËt. Quan s¸t, tr×nh bµy nh÷ng hiĨu biÕt suy nghÜ cđa m×nh vỊ s"ng Hư¬ng. Béc lé c¶m xĩc c¸ nh©n víi s"ng Hư¬ng b"ng nh÷ng liªn tưëng phong phĩ, bÊt ngê. - Giäng ®iƯu trÇn thuËt: + Giäng ®iƯu tr÷ t×nh giµu chÊt suy tưëng vµ chÊt triÕt luËn. + Sư dơng nhiỊu biƯn ph¸p nghƯ thuËt víi nh÷ng h×nh ¶nh ®Ỉc s¾c, giµu chÊt héi ho¹, nh¹c vµ th¬. III. Ghi nhớ: (SGK) Đoạn trích bài bút kí "Ai đã đặt tên cho dòng sông?" là đoạn văn xuôi súc tích và đầy chất thơ về sông Hương. Nét đặc sắc làm nên sức hấp dẫn của đoạn văn là những xúc cảm sâu lắng được tổng hợp từ một vốn hiểu biết phong phú về văn hoá, lịch sử, địa lí và văn chương cùng một văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế và hài hoà. IV.luyện tập Bài tập 1: Bài kí kết thúc bằng cách lí giải về cái tên của dòng sông, gợi lai huyền thoại về chuyện người dân hai bên bờ sông nấu nước của trăm hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước thơm mãi mãi. "Dòng sông ai đã đặt tên Để người đi nhớ Huế không quên ?" - Mục đích + Giúp người đọc hiểu về cái tên đẹp của dịng sơng: S"ng H­¬ng- S"ng th¬m + Gợi lên niềm biết ơn đối với người đã khai phá miền đất này

Giáo Án Bài Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực

Soạn bài Ai đã đặt tên cho dòng sông, SGK ngữ văn lớp 12. Giáo án soạn theo phương pháp dạy học tích cực

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG? Hoàng Phủ Ngọc Tường

MỤC TIÊU 1.Về kiến thức Giúp HS: – Cảm nhận được vẻ đẹp, chất thơ từ cảnh sắc thiên nhiên của sông Hương từ bề dày lịch sử, văn hóa của Huế và tâm hồn con người vùng đất cố đô. Hiểu được tình yêu, niềm tự hào tha thiết, sâu lắng của tác giả dành cho dòng sông quê hương, cho xứ Huế thân yêu và cũng là cho đất nước. – Hiểu được những đặc sắc về phong cách nghệ thuật của HPNT.2.Về kĩ năng – Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại – Kết nối, vận dụng những kiến thức đã học được từ bài học vào việc đọc hiểu các tác phẩm văn học có cùng thể loại.3.Về thái độ – Yêu mến, tự hào, trân trọng vẻ đẹp của quê hương đất nước, con người – Có cách ứng xử thân thiện, tích cực với môi trường; ý thức giữ gì các giá trị văn hóa truyền thống.

Giáo viên: SGK, SGV, Tài liệu tham khảo, thiết kế bài học, máy chiếu

Học sinh: SGK, Tài liệu tham khảo, soạn bài

QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC CHO HỌC SINH

I. Hoạt động 1- Khởi động – GV cho HS nghe một bài hát về sông Hương. – HS thực hiện các yêu cầu sau: + Dòng sông nào được nhắc đến trong lời bài hát? Có những địa danh nào được nhắc đến ở đây? + Ghi lại những từ ngữ những từ ngữ, hình ảnh, chi tiết đặc sắc về sông đó. + Qua những từ ngữ đó, trình bày cảm nhận về dòng sông này… + GV kết nối để giới thiệu về tác phẩm

2. HD HS tìm hiểu văn bản theo đặc trưng thể kí hiện đại VN (cái tôi trữ tình của tác giả theo đặc trưng thể kí thong qua VB)

II. Đọc hiểu văn bản1. Hình tượng sông Hương

– Hình tượng sông Hương được miêu tả từ những góc độ nào?

– Sông Hương nhìn từ nguồn cội – Sông Hương trong mối quan hệ với kinh thành Huế – Trong lòng TP Huế – Khi rời khỏi TP Huế

* GV chiếu yêu cầu:– Hs làm việc cá nhân (ở nhà) + Liệt kê các chi tiết, hình ảnh đặc sắc t/g sd để khắc họa sông Hương. + Xác định các bpnt. + Trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của sông Hương. – HS làm việc cặp đôi (tại lớp): đọc bài của bạn, trao đổi, bổ sung, hoàn thiện sản phẩm. – HS trình bày, 1 HS ghi vắn tắt nội dung lên bảng (cặp đôi) – HS lắng nghe, ghi chép, nhận xét, bổ sung – GV nhận xét, bổ sung, chốt – Đánh giá sản phẩm, kĩ năng thuyết trình

* GV chiếu yêu cầu:– Hs làm việc cá nhân (ở nhà) + Liệt kê các chi tiết, hình ảnh đặc sắc t/g sd để khắc họa sông Hương. + Xác định các bpnt. + Trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của sông Hương. – HS làm việc cặp đôi (tại lớp): đọc bài của bạn, trao đổi, bổ sung, hoàn thiện sản phẩm. – HS trình bày, 1 HS ghi vắn tắt nội dung lên bảng (cặp đôi) – HS lắng nghe, ghi chép, nhận xét, bổ sung – GV nhận xét, bổ sung, chốt – Đánh giá sản phẩm, kĩ năng thuyết trình

* GV chiếu yêu cầu:– Hs làm việc cá nhân (ở nhà) + Liệt kê các chi tiết, hình ảnh đặc sắc t/g sd để khắc họa sông Hương. + Xác định các bpnt. + Trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của sông Hương. – HS làm việc cặp đôi (tại lớp): đọc bài của bạn, trao đổi, bổ sung, hoàn thiện sản phẩm. – HS trình bày, 1 HS ghi vắn tắt nội dung lên bảng (cặp đôi) – HS lắng nghe, ghi chép, nhận xét, bổ sung – GV nhận xét, bổ sung, chốt – Đánh giá sản phẩm, kĩ năng thuyết trình

* GV chiếu yêu cầu:– Hs làm việc cá nhân (ở nhà) + Liệt kê các chi tiết, hình ảnh đặc sắc t/g sd để khắc họa sông Hương. + Xác định các bpnt. + Trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của sông Hương. – HS làm việc cặp đôi (tại lớp): đọc bài của bạn, trao đổi, bổ sung, hoàn thiện sản phẩm. – HS trình bày, 1 HS ghi vắn tắt nội dung lên bảng (cặp đôi) – HS lắng nghe, ghi chép, nhận xét, bổ sung – GV nhận xét, bổ sung, chốt – Đánh giá sản phẩm, kĩ năng thuyết trình

Từ hình tương sông Hương, GV HD HS tìm hiểu cái tôi trữ tình của tác giả – Qua hình tượng một dòng sông Hương với những vẻ đẹp đầy ấn tượng, mê đắm lòng người, em hình dung được những gì về nhân vật trữ tình?

* Phương án kiểm tra, đánh giá hoạt động và kết quả học tập của học sinh: – Đánh giá tiến trình thực hiện – Đánh giá ý thức, thái độ, tinh thần khi thực hiện nhiệm vụ – Đánh giá kĩ năng hợp tác, khả năng ứng xử trong việc thực hiện – Đánh giá sản phẩm, kĩ năng thuyết trình

e. Cái tôi trữ tình của tác giả – Cái tôi tài hoa, vốn hiểu biết phong phú – Cái tôi tinh tế, dạt dào cảm xúc, hướng nội – Tình yêu, sự gắn bó sâu sắc với xứ Huế

– Dẫn chứng trong đoạn trích thể hiện cái tôi tài hoa, vốn hiểu biết phong phú – Dẫn chứng trong đoạn trích thể hiện cái tôi tinh tế, dạt dào cảm xúc, hướng nội – Dẫn chứng trong đoạn trích thể hiện tình yêu, sự gắn bó sâu sắc với xứ Huế

IV. Hoạt động vận dụng/mở rộng (hoạt động ở nhà) – Đọc toàn bộ tác phẩm – HS sưu tầm thêm một số tài liệu về TP/ Đọc tài liệu GV giới thiệu. – Sưu tầm đề, đáp án, biểu điểm – Chọn 1 đề bài, viết thành bài văn hoàn chỉnh.

4. Vận dụng/mở rộng

– Đọc toàn bộ tác phẩm – Sưu tầm thêm một số tài liệu về TP/ Đọc tài liệu GV giới thiệu.

– Sưu tầm đề, đáp án, biểu điểm – Chọn 1 đề bài, viết thành bài văn hoàn chỉnh.

Ai đã đặt tên cho dòng sông

Cảm Nhận Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông

Gia sư anh văn tphcm nhận thấy trên dải đất cong cong, mềm mại này có biết bao nhiêu dòng sông cho thi nhân xúc cảm sinh tình, cho con người chiêm ngưỡng yêu thương và suy tưởng về nguồn cội, cho tuổi thơ trong trẻo, hồn nhiên ngâm mình trong dòng nước mát. Trong đời, ai cũng chọn cho mình một dòng sông để lưu giữ một phần kí ức, niềm nhớ thương về quê hương, xứ sở. Tế Hanh đi xa mà lòng đau đáu “nhớ con sông quê hương” biếc xanh, có gương soi trong bóng “những hàng tre”, Nguyễn Khắc Hiếu cung kính lấy tên sông đặt cho một nửa tên nghệ danh của mình; Nguyễn Tuân gọi sông Đà là cố nhân. Lại nhớ Nguyễn Khoa Điềm cảm khái: “Ôi, những dòng sông bắt nước từ đâu/ Mà khi về Đất Nước mình thì cất lên thành câu hát”. Với Hoàng Phủ Ngọc Tường nỗi hoài niệm quê hương của ông gửi gắm trong dòng sông Hương, cảm xúc thể hiện rất nhẹ nhàng trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông”.

Các trung tâm gia sư uy tín tại tphcm thấy bài kí được viết tại Huế tháng 1/1981, trích từ tập kí cùng tên. Ta gặp nơi đây là niềm yêu nước sâu đậm với tình yêu thiên nhiên tha thiết trong dòng chảy miên man của lịch sử, của văn hóa dân tộc. Ông đã cố gắng tìm tòi, tích lũy một cách say mê và đầy trân trọng, cố gắng truyền đạt bằng ngòi bút tinh hoa với lời văn thật đẹp nhưng vô cùng sâu thẳm. Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp sông Hương, thiên nhiên và con người xứ Huế với những trang văn “vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa, lịch sử phong phú”.

Bài bút kí cũng chảy như một dòng sông theo mạch cảm xúc và suy tư của tác giả. Sông Hương được miêu tả như một cá thể sống động, như người con gái đẹp với từ ngữ gợi cảm, diễn tả tình yêu say đắm của con người với dòng sông: “Sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. Sông Hương khi về đồng bằng đã thay đổi tính cách, sông như: “đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình” để “nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng, trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một nền văn hóa xứ sở”.

Những trung tâm gia sư uy tín ở tphcm thấy với liên tưởng kì thú, diễm tình, tác giả ví ống Hương như một người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng được đánh thức bởi người tình mong đợi. Những câu văn đẹp đầy màu sắc ấn tượng: “Sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “sắc nước trở nên xanh thẫm”, “nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách”, “dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé bằng con thoi.”

Ngoại vi phố Huế, sông Hương lại có vẻ đẹp trầm mặc như những rừng thông u tịch và những lăng tẩm đồ sộ phong kín niềm kiêu hãnh âm u. Đoạn tả sông Hương vào thành phố, tác giả tạo nên những hình ảnh ấn tượng: “chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn nhưng những vành trăng non”, “sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ”. Văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường giàu chất nhạc: “Điệu nhạc chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố… Đó là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”. Những câu văn trải dài, uyển chuyển, du dương mà tự nhiên, nhuần nhị như dòng sông, dòng nhạc đẹp.

Trung tâm gia sư tphcm được biết Đinh Xuân Lạc từng nhận xét: “Bài bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường đầy chất liệu quý, thể hiện một vốn sống, vốn văn hóa phong phú, nhất là về Huế. Nhưng nếu chỉ có thế, bài bút kí sẽ không hơn một bài báo và nó sẽ nhanh chóng qua đi trong tâm trí người đọc. Bài bút kí này còn ngân mãi vì nó đầy chất thơ. Chất thơ ấy gắn liền với nhiều yếu tố, bắt đầu từ nhiều nguồn, nhưng yếu tố quan trọng nhất, nguồn lớn lao nhất là tình yêu tha thiết với dòng sông, với Huế, với đất nước của tác giả”.

Sông Hương là dòng sông sống như thế kỉ vnh quang với nhiệm vụ lịch sử và thẩm mĩ. Trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” Hoàng Phủ Ngọc Tường khẳng định: “dòng sông ấy không bao giờ tự lập lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”. Sức sống của vẻ đẹp sông Hương và thiên bút kí này hẳn sẽ miên viễn vì cái tình quá đỗi thẳm sâu và cây bút tài hoa của người nghệ sĩ.

Tham khảo từ khóa tìm kiếm bài viết từ google :

cảm nhận ai đã đặt tên cho dòng sông

cảm nghĩ ai đã đặt tên cho dòng sông

cảm nhận bài ai đã đặt tên cho dòng sông

cảm nhận về ai đã đặt tên cho dòng sông

bình giảng ai đã đặt tên cho dòng sông

Các bài viết khác…

Phân Tích Hình Ảnh Trữ Tình, Thơ Mộng Của Dòng Sông Việt Nam Qua Hai Bài Tùy Bút Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân Và Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Của Hoàng Phủ Ngọc Tường

[Văn mẫu học sinh] Phân tích hình ảnh trữ tình, thơ mộng của dòng sông Việt Nam qua hai bài tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường

1)

Mở bài:

_ Nêu vấn đề nghị luận: vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của dòng sông Việt Nam qua “Người lái đò Sông Đà” và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”.

2) Thân bài: 2.1. Luận điểm 1: Khái quát về tác giả, tác phẩm. Tác giả Nguyễn Tuân và “Người lái đò Sông Đà”.

*Tác giả:

_Nguyễn Tuân là nhà văn lớn của văn học hiện đại Việt Nam, sáng tác trong cả hai thời kì trước và sau Cách mạng với những phong cách khác nhau.

_trước Cách mạng, Nguyễn Tuân xoay quanh ba đề tài là chủ nghĩa “xê dịch”, “thiếu quê hương” và “đời sống trụy lạc”.

_sau Cách mạng, tập trung ca ngợi con người và thiên nhiên.

_ông có đóng góp lớn cho nền văn học nước nhà với phong cách nghệ thuật độc đáo.

*Tác phẩm:

_đoạn trích “Người lái đò Sông Đà” in trong tập tùy bút “Sông Đà”.

_là thành quả của chuyến đi thực tế của nhà văn vào những năm 1959-1960 tại Tây Bắc.

_tùy bút thể hiện tình yêu, niềm tự hào của Nguyễn Tuân dành cho thiên nhiên, con người Tây Bắc.

Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

*Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường.

_là nhà văn chuyên viết về bút kí.

_lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm, tài hoa, uyên bác và có vốn hiểu biết, vốn kiến thức phong phú trên nhiều lĩnh vực.

*Tác phẩm.

_được hoàn thành ngày 4/1/1981 khi nhà văn sống bên bờ sông Hương, trong lòng thành Huế hơn bốn mươi năm.

_được in trong tập bút kí cùng tên vào năm 1986.

2.2. Luận điểm 2: Hình ảnh dòng sông trữ tình, thơ mộng trong “Người lái đò sông Đà”. Sông Đà trữ tình, thơ mộng qua dáng vẻ.

_Sông Đà hiện ra như người thiếu nữ duyên dáng với hình ảnh so sánh độc đáo, câu văn trùng điệp nhiều tầng lớp, âm hưởng nhẹ nhàng.

_những gì thuộc về Sông Đà đều mang vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng:

+nước Sông Đà thay đổi theo mùa và màu sắc không giống như những dòng sông khác trên đất nước ta.

+ hai bên bờ sông hoang dại như mang nỗi niềm cổ tích từ ngàn xưa.

+trên bờ sông có hình ảnh con nai ngơ ngác

+trên mặt nước có hình ảnh con cá dầm xanh quẫy vọt.

Sông Đà trữ tình, thơ mộng qua tâm hồn.

_vẻ đẹp của người cố nhân

Ý nghĩa của vẻ đẹp trữ tình thơ mộng của dòng sông và ý nghĩa của hình tượng Sông Đà.

_vẻ đẹp trữ tình là nét bút nhẹ nhàng, tinh tế của người nghệ sĩ đang đắm mình trong bức tranh thiên nhiên, cảnh vật.

_là tiếng nói nội tâm lãng mạn của chính tác giả.

_thể hiện lòng yêu nước của nhà văn.

2.3. Luận điểm 3: Hình ảnh dòng sông trữ tình, thơ mộng trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” được gợi tả chủ yếu qua góc nhìn địa lí và góc nhìn văn hóa. Vẻ đẹp từ góc nhìn địa lí: thủy trình của sông Hương được tái hiện ở ba chặng.

_sông Hương giữa núi rừng Trường Sơn.

+như một bản trường ca của rừng già.

+cô gái Di- gan phóng khoáng và man dại.

+người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở.

_sông Hương trong không gian Châu Thổ, Châu Hóa.

+vẻ đẹp của một người con gái đẹp: chuyển mình liên tục, uốn mình theo những đường cong mềm mại.

+vẻ đẹp của Hương giang rất mực đa dạng: có khi sắc nước trở nên xanh thẳm, có khi trở nên mềm như tấm lụa, có khi mang vẻ đẹp trầm mặc.

_sông Hương trong không gian kinh thành Huế.

+bắt đầu đi vào thành phố: được so sánh với “người tình vui tươi và duyên dáng”.

+trong lòng thành phố: điệu slow dành riêng cho Huế và được đặt trong trường liên tưởng so sánh với những con sông khác trên thế giới.

+rời khỏi thành phố: mang vẻ đẹp của “người tình dịu dàng và thủy chung”.

Vẻ đẹp từ góc nhìn văn hóa được chứng minh qua âm nhạc, thi ca và huyền thoại.

_dòng sông của thi ca bởi nó khơi gợi cảm hứng cho tâm hồn bao người nghệ sĩ.

_dòng sông của âm nhạc: được so sánh với nàng Kiều xinh đẹp, tài sắc trong thơ Nguyễn Du.

_dòng sông của huyền thoại: bắt nguồn từ tên gọi của sông Hương đã gắn với những dấu ấn riêng biệt.

2.4. Luận điểm 4: vẻ đẹp của dòng sông Việt Nam qua vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà và sông Hương.

_hai dòng sông đại diện cho hàng nghìn con sông trên khắp đất nước với những vẻ đẹp đa dạng.

_vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của dòng sông cũng chính là biểu trưng của vẻ đẹp thiên nhiên, con người Việt Nam.

_vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của dòng sông Việt Nam đều được cảm nhận bằng trái tim co người Việt Nam nặng lòng vơi quê hương, đất nước như “Bên kia Sông Đuống” của Hoàng Cầm, dòng sông Kinh Thầy đi vào trang thơ của Trần Đăng Khoa.

3. Kết bài:

Khẳng định vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của hai dòng sông: sông Đà và sông Hương Giang, khơi gợi tự hào, trân trọng với dòng sông trên quê hương, đất nước Việt Nam.

Nhà văn Nguyễn Tuân là tên tuổi lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Ông là người trí thức yêu nước, giàu tinh thần dân tộc và rất mực tài hoa, uyên bác. Sáng tác văn chương của Nguyễn Tuân luôn có sự chuyển mình rất tích cực theo biến chuyển của thời đại. Nếu trước Cánh mạng, ngòi bút của ông hướng đến ba đề tài lớn là “thiếu quê hương”, “chủ nghĩa xê dịch”, đời sống trụy lạc thì sau Cách mạng, tác phẩm của Nguyễn Tuân trở nên phong phú hơn với đề tài về ngợi ca thiên nhiên, con người, đất nước Việt Nam.

Tùy bút “Người lái đò Sông Đà” được trích từ tập “Sông Đà”- tác phẩm kí thành công bậc nhất của nhà văn Nguyễn Tuân và cũng gắn với nhiều kỉ niệm của ông. Đó là thành quả chuyến đi thực tế của nhà văn vào những năm 1959,1960. Ông lên Tây Bắc để khám phá thiên nhiên, con người nơi đây, tìmkiếm thứ vàng mười đã qua thử lửa. Và ấn tượng sâu đậm mà bút kí Sông Đà cùng tùy bút Sông Đà để lại trong lòng bạn đọc là một dòng sông hung bạo nhưng cũng rất đỗi trữ tình dưới đôi tay chèo điệu nghệ.

Còn tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn chuyên về bút kí. Ông có lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm,tài hoa, kiến thức phong phú về nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa tư duy đa chiều với nghị luận sắc bén, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã mang đến cho bạn đọc nhiều tác phẩm đặc sắc. Các tác phẩm bút kí chính của ông phải kể đến: “Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu”, “Rất nhiều ánh lửa” và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”.

“Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một trong số những tập bút kí xuất sắc của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Bút kí ban đầu vốn có nhan đề “Hương ơi e phải mày chăng?” được tác giả hoàn thành ngày 4/1/1981 khi nhà văn sống bên bờ sông Hương, trong thành phố Huế hơn bốn mươi năm. Tình yêu sông Hương, xứ Huế thơ mộng đã vun đắp trong ông tình cảm để viết những trang kí đẹp về sông Hương, xứ Huế.

Sau những trang viết về một Sông Đà hung bạo, nhà văn Nguyễn Tuân mở ra trước mắt ta hình ảnh con sông trữ tình, thơ mộng như một sinh thể sống với sự thơ mộng, trữ tình qua dáng vẻ và qua tâm hồn. Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của Sông Đà mang theo màu sắc huyền ảo, ẩn chứa những gì thơ mộng, tinh túy nhất của nơi thiên nhiên núi rừng Tây Bắc hoang dại.

Dáng vẻ của Sông Đà là vẻ đẹp bên ngoài của dòng sông mà bạn đọc dễ dàng bắt gặp khi đến với Sông Đà, khi tìm về mảnh đất Tây Bắc. Dòng sông được so sánh với người thiếu nữ mang vẻ đẹp kiều diễm “Con Sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Cách so sánh của Nguyễn Tuân rất độc đáo, duyên dáng khi nhìn dòng sông như một mái tóc mềm mại sinh thể sống sống động đến từng chi tiết. Từ “áng” làm câu văn tăng thêm tính thẩm mĩ bởi nó là thường được dùng trong cụm “áng văn, áng thơ”. Ví von dòng sông như “áng tóc trữ tình” quả là cảm nhận tinh tế của nhà văn khiến ai cũng phải yêu phải quý. Nguyễn Tuân còn không quên khẳng định vẻ đẹp của Sông Đà cũng mang đậm hơi thở của cái đẹp nơi thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc với những hoa ban, hoa gạo, mù khói núi Mèo. Trong cả một câu văn, nhà văn chỉ dùng hai dấu ngắt câu, có lẽ là bởi dòng cảm xúc trong Nguyễn Tuân đã dâng trào mãnh liệt khi bắt gặp khung cảnh tuyệt đẹp đó. Một sự biến chuyển đầy tinh tế từ những dữ dội, hiểm nguy đến vẻ dịu dàng, e ấp của người thiếu nữ Tây Bắc- dòng Sông Đà. Tất cả đều trở nên hợp lí, tinh tế dưới ngòi bút tài hoa của nhà văn.

Khám phá nét đẹp trữ tình, thơ mộng của dòng sông vốn hung bạo. Tưởng chừng đó là một thách thức, nhưng thách thức ấy cũng trở nên êm đẹp dưới tài hoa của người nghệ sĩ chân chính. Ông phát hiện được những vẻ đẹp đa dạng của Sông Đà và với bản thân tác giả, những gì thuộc về Sông Đà đều khoác trên mình cái đẹp trữ tình, thơ mộng. Đó là những lời văn khẳng định về nét riêng của nước Sông Đà. Đặt Sông Đà trên bình diện so sánh với nhiều dòng sông khác trên đất nước ta. Điều mà tác giả muốn khẳng định đâu phải sự “trên cơ”. Nguyễn Tuân rất nhẹ nhàng để bạn đọc nhìn được nét riêng của dòng sông. Nước Sông Đà không đục ngầu, mỗi mùa lại có những vẻ đẹp rất riêng cho sắc nước Sông Đà: mùa xuân dòng sông xanh ngọc bích, mùa thu thì lừ lừ chín đỏ…Tác giả so sánh ví von rất triệt để và minh oan cho dòng sông. Sông Đà chưa bao giờ đen, xấu xí như thực dân Pháp từng vu oan. Dường như khám phá của nhà văn không chỉ dừng lại ở hình ảnh nước sông. Ông còn hướng ánh nhìn và ngòi bút của mình để phát hiện đến tận cùng của cái đẹp để khám phá ra vẻ đẹp rất đỗi nên thơ của con sông: Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Nhà văn Nguyễn Tuân đã dùng rất nhiều so sáng trong bài viết của mình. Ông tinh tế khi nhìn ngắm cái tĩnh lặng của khung cảnh Sông Đà. Ông khơi gợi trong bạn đọc bao hoài niệm dù chưa một lần đặt chân đến Tây Bắc. Nó quen thuộc vì ta đã bắt gặp nó đâu đó trong những câu chuyện cổ tích. Bên bờ sông còn thơ mộng bởi hình ảnh con nai ngơ ngác nghe tiếng còi.Trong cái lặng tờ, yên ả của cảnh vật, tiếng còi xé tan không gian yên tĩnh và làm con người, cảnh vật thức tỉnh với sức sống tươi mới.

Và có lẽ người ta càng thêm yêu bởi Sông Đà đã trở thành kí ức sâu đậm. Sông Đà được ví như một người cố nhân. Người cố nhân- người bạn cũ đã từng chứng kiến những vui buồn trong đời ta. Giống như bao người bạn khác, Sông Đà đã trở thành người bạn yêu thương của hiện tại, cố nhân của người đi xa để dù đi đâu ai cũng thương, cũng nhớ.

Ngòi bút ngông tài hoa của Nguyễn Tuân đã cho bạn đọc một góc nhìn mới lạ hơn về Sông Đà. Những thủ pháp so sánh, liệt kê đã trở thành trợ thủ đắc lực để ngòi bút Nguyễn Tuân tung hoành và thỏa sức sáng tạo. Sông Đà trữ tình, thơ mộng cũng chính là vẻ đẹp biểu trưng cho thiên nhiên Tây Bắc và là lời mời gọi thiết tha mọi người một lần đến ngắm nhìn dòng sông đẹp nên thơ. Nguyễn Tuân gửi vào từng câ chữ của mình là tâm tư, tình cảm trân trọng cho cảnh sắc tươi đẹp của thiên nhiên, đất nước Việt Nam.

Một Sông Đà trữ tình, thơ mộng qua dáng vẻ, qua tâm hồn đã làm say lòng bạn đọc dưới ngòi bút Nguyễn Tuân. Nhưng khi đến với Hoàng Phủ Ngọc Tường với trang bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông”, người đọc còn được khám phá một dòng Hương giang thơ mộng, trữ tình không kém. Vẻ đẹp trữ tình của sông Hương được tái hiện rất rõ nét và hệ thống qua từng chặng đường nó đi qua và trên nhiều góc nhìn của nhà văn. Trong mỗi góc nhìn, sông Hương lại khoác lên mình nó tấm áo đẹp riêng để thể hiện cái tôi, cái tài hoa của cây bút hướng nội Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Sông Hương được gắn với điểm nhìn đầu tiên là từ góc nhìn địa lí. Đây cũng là điểm nhìn mà tác giả tập trung khai thác hơn cả trong toàn bài bút kí đi tìm cội nguồn của cái tên: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. Sông Hương được minh chứng cho vẻ đẹp của mình ngay khi nó còn nằm trong không gian núi rừng Trường Sơn. Sông Hương được so sánh “như một bản trường ca của rừng già”. Dòng sông đẹp một cách hùng vĩ qua cách miêu tả của tác giả “rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác và cuộn xoáy như cơn lốc vào đáy vực sâu thẳm”. Nhưng nó cũng rất đỗi trữ tình “dịu dàng và say đắm khi đi qua những rặng dài chói loại màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Đến một điểm nhìn khác là giữa lòng Trường Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường nhân hóa sông Hương “cô gái di gan phóng khoáng và man dại”. Hình ảnh cô gái Di- gan đã cho thấy cái nhìn mới mẻ, độc đáo của tác giả. Sông Hương trong mắt nhà văn là một sinh thể sống tự do, mạnh mẽ, có cá tính, tâm hồn riêng như cô gái Di- gan. Phải rất kỳ công trong khám phá, tinh tế trong cảm nhận thì ông mới phát hiện được cái riêng biệt của người con gái ấy. Nhưng như vậy thôi chưa đủ, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn tìm tòi và hướng ngòi hút của mình tới cả những chỗ khuất lấp nhất của dòng sông ấy để viết lên câu chữ đặc sắc. Sông Hương- người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở. Lúc này, con sông mang theo vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ bởi lẽ “quãng sông này đã hết ghềnh thác”. Nó mang vẻ dịu hiền của người mẹ và ngày ngày góp phần bồi đắp văn hóa cho người dân sống hai bên bờ sông và xứ Huế. Sông Hương đã góp công to lớn để hình thành, bảo tồn và giữ gìn văn hóa xứ Huế. Dòng sông là người mẹ ngày đêm lặng lẽ, âm thầm cống hiến tạo nên cái đẹp riêng mộng mơ của Huế.

Sông Hương tiếp tục được khám phá ở nhiều nét đẹp trong không gian cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại. Trước hết, nhà văn so sánh “Nó là người gái đẹp nằm ngủ mơ màng”. Người gái đẹp ấy mang vẻ đẹp gợi cảm và đang phô khoe nét đẹp của mình khi chuyển dòng liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm. Và những chướng ngại vật cản trở như núi Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo đã tạo cơ hội giúp Hương Giang phô khoe những đường cong mềm mại. Bên cạnh đó, người đọc còn được biết đến nét đẹp đa dạng của con sông với những biến chuyển màu sắc lạ mắt. Có khi các nước trở nên xanh thẳm khi đi qua dư vang của Trường Sơn, sự in bóng của những hàng cây đại ngàn tạo màu xanh cho mặt nước. Còn lại những quãng sông êm đềm, nó trở nên mềm như tấm lụa. Vẻ đẹp đa dạng ấy còn được minh chứng qua sự biến màu của mặt nước: sớm xanh, trưa vàng, chiều tím. Một loạt hình ảnh liệt kê mang đến bao khám phá về vẻ đẹp của dòng sông. Không chỉ rực rỡ, nổi bật, Hương giang còn quyện mình vào cái lặng tờ và trầm mặc của không gian. Nó mang vẻ đẹp trầm mặc đi qua những lăng tẩm ở rừng thông u tịch, nhưng rồi lại bừng sáng và tươi tắn khi nghe thấy âm thanh của thành phố, của tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà. Cuộc hành trình sông Hương thực sự trở thành hành trình đi tìm người yêu của người gái đẹp, phô khoe và hoàn thiện vẻ đẹp của mình để đến với người yêu: tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, Thúy Kiều và Kim Trọng.

Trải qua bao chặng đường, Hương Giang đã đến được với người yêu: không gian kinh thành Huế. Khi mới bắt đầu vào thành phố thân yêu, sông Hương được so sánh với “người tình vui tươi và duyên dáng”. Nó rạo rực khi thấy dấu hiệu của thành phố với những bờ bãi xanh biếc và chiếc cầu trắng như vầng trăng non. Những hình ảnh hiện ra tức khắc ấy cũng có cái e ấp của mối tình chớm hé nơi người con gái đẹp. Và người con gái ấy cũng làm duyên, làm dáng lần cuối trước khi gặp mặt người yêu: uốn một cánh cung rất nhẹ sang Cồn Hến. Và khi được ở trong vòng tay người yêu, con sông như luyến tiếc nên dành tặng một điệu slow dành riêng cho Huế. Nó chảy với lưu tốc chậm đến mức mà Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm nhận “cơ hồ chỉ còn là mặt hồ yên tĩnh”. Để nhấn mạnh độ chảy chậm rãi của Hương giang, nhà văn đã đặt nó trong thế đối sánh với sông Nêva “chảy nhanh đến mức làm lũ hải âu muốn nói một câu với người bạn của mình cũng không kịp”. Vì vật mà ông càng thêm yêu quý điệu chảy ngập ngừng. lặng tờ muốn đi muốn ở của dòng sông quê mình. Chúng ta cũng đã từng bắt gặp nét riêng lặng tờ ấy của Hương giang trong những vần thơ của Tố Hữu.

Hương giang ơi dòng sông êm Con tim ta ngày đêm vẫn tự tình.

Đến cách mà nhà văn lí giải về sự chậm ấy của dòng sông cũng không hoàn toàn theo cái nhìn chủ quan. Hoàng Phủ Ngọc Tường lí giải vận tốc chậm ấy trước hết là do địa lí tự nhiên: ở Huế có nhiều chi lưu làm giảm vận tốc nước cùng với hai hòn đảo nhỏ ở giữa sông ngăn cản dòng chảy. Nhưng theo lí lẽ của trái tim nhà văn thì sông Hương dành quá nhiều tình cảm cho Huế nên không muốn rời xa, muốn nằm mãi trong lòng người yêu. Dù có luyến tiếc thì Hương giang vẫn phải nói lời từ biệt người yêu, rời xa thành phố song con tim vẫn mãi là ” người tình dịu dàng và chung thủy”. Tưởng như sẽ mãi rời xa song sự am hiểu của tác giả đã giúp người đọc biết đến quãng đường đẩy đưa qua lại của dòng sông, rùng rằng nửa đi nửa ở. Sông Hương rời khỏi kinh thành, chếch về hướng chính bắc rồi lại uốn mình theo hướng tây đông và gặp Huế lần cuối ở thị trấn Bao Vinh cổ xưa. Người con gái lưu luyến người yêu và bịn rịn giờ phút chia tay.

Sông Hương càng thêm thi vị khi được nhà văn đặt dưới góc nhìn văn hóa. Con sông tình yêu càng thêm lung linh bởi âm nhạc, thi ca và huyền thoại. Sông Hương được so sánh “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya” bởi điệu chảy của nó rất phù hợp với những đêm nhạc và đây cũng là nơi sinh thành nền âm nhạc dân gian và cung đình Huế. Như một nàng Kiều, sông Hương có cả tài và sắc. Đồng thời, dòng sông thân thương ấy còn là dòng sông của thi ca. Nó là “nàng thơ” gợi cảm hứng cho biết bao tâm hồn thi sĩ và chưa bao giờ lặp lại mình trong những trang viết. Với mỗi người, sông Hương lại gợi cảm, lại đẹp theo một cách riêng. Phải chăng vì lẽ đó mà nó được biết là dòng sông của huyền thoại. Tên gọi sông Hương quả xứng tầm với nét đẹp dịu dàng nhưng cũng rất cá tính, độc đáo. Và nhà văn đặt ra câu hỏi: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” thể hiện nỗi niềm băn khoăn, suy ngẫm và ham thích khám phá. Từ truyền thuyết người dân hòa mùi hương của hàng nghìn bông hoa rồi đổ xuống dòng sông mà tác giả đã gợi ra cái đẹp vĩnh hằng cùng danh thơm muôn thuở của dòng sông thần tiên. Những dấu ấn riêng biệt của con sông quê hương với thi, nhạc, họa sẽ không bao giờ phai tàn trong lòng độc giả.

Hai dòng sông thuộc hai dải đất khác nhau trên đất nước ta nhưng lại là những dòng chảy tiêu biểu nhất cho vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của dòng sông Việt Nam. Ngày ngày, những dòng sông ấy vẫn đang cống hiến không ngừng cho sự phát triển kinh tế, gìn giữ nền văn hóa dân tộc mà chẳng cần một sự ghi danh. Dòng sông yêu thương với dòng chảy, với mạch nguồn phù sa bồi đắp cho non sông tươi đẹp. Trải qua những bão lũ, những ngập lụt, bao khó khăn khắc nghiệt xảy đến làm ta càng thêm yêu cái đẹp bình dị, trữ tình của dòng sông Việt Nam như cách Nguyễn Tuân viết về sông Đà, như áng văn Hoàng Phủ Ngọc Tường khám phá Hương giang thơ mộng. Đề tài dòng sông Việt Nam nói riêng, thiên nhiên Việt Nam nói chung sẽ luôn là nơi thi sĩ gửi gắm trực tiếp niềm yêu, sự trân trọng, tự hào của mình dành cho quê hương. Ta từng bắt gặp một Hoàng Cầm say lòng với “Bên kia sông Đuống”, hay Trần Đăng Khoa với những vần thơ về dòng sông Kinh Thầy- dòng sông quê hương. Như một mạch nguồn cảm xúc lớn lao, dòng chảy trữ tình, thơ mộng của dòng sông Việt Nam cũng là mạch chảy ngọt ngào đi vào thơ ca, nghệ thuật và tao nên những áng thơ văn sống mãi cùng thời gian.

Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường là hai cây bút kí thật sự xuất sắc. Tài năng, phong cách của các tác giả đã được minh chứng qua những câu chữ trữ tình, thơ mộng viết về những dòng sông. Họ mang thiên nhiên, cuộc sống đến gần hơn với bạn đọc và vun đắp trong từng thế hệ tình yêu to lớn với thiên nhiên, với quê hương đất nước. Dòng chảy của sông Đà, sông Hương sẽ luôn tỏa hương và rực sáng trên thi đàn văn học nước nhà.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Giáo Án Ngữ Văn 12 Tiết 49+ 50: Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông trên website Welovelevis.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!