Đề Xuất 11/2022 # Lịch Sử Các Tên Gọi Của Thủ Đô Hà Nội / 2023 # Top 16 Like | Welovelevis.com

Đề Xuất 11/2022 # Lịch Sử Các Tên Gọi Của Thủ Đô Hà Nội / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Lịch Sử Các Tên Gọi Của Thủ Đô Hà Nội / 2023 mới nhất trên website Welovelevis.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bản đồ thành Cổ Loa.

Trong thời kỳ cai trị của người Trung Quốc nó từng có tên là huyện Tống Bình, xuất hiện trong sử sách từ những năm 454-456 thời Nam Bắc triều của Trung Quốc.

Năm 545, Lý Bí đánh thắng quân nhà Lương lập nên nước Vạn Xuân độc lập. Ông tự xưng Lý Nam Đế, định đô ở miền cửa sông Tô Lịch Hà Nội. Ông cho lập điện Vạn Thọ là nơi họp bàn việc nước. Lý Nam Đế cũng cho dựng một ngôi chùa lớn ở phường Yên Hoa (Yên Phụ) tên là Khai Quốc, tiền thân của chùa Chùa Trấn Quốc ngày nay.

Về sau Hà Nội được đổi tên gọi là Đại La (nguyên là tên của vòng thành ngoài cùng bao bọc lấy vòng thành nhỏ hơn ở trong). Sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục có viết:

“Thành này do Trương Bá Nghi đắp từ năm Đại Lịch thứ 2 (767) đời Đường; năm Trinh Nguyên thứ 7 (791), Triệu Xương đắp thêm; năm Nguyên Hòa thứ 3 (808), Trương Chu lại sửa đắp lại; năm Trường Khánh thứ 4 (824), Lý Nguyên Gia dời phủ trị tới bên sông Tô Lịch, đắp một cái thành nhỏ, gọi là La Thành; năm Hàm Thông thứ 7 (866), Cao Biền đắp ngoại thành bao quanh “kim thành”, cũng gọi tên là La Thành.”

Long Đỗ (rốn rồng) cũng là một tên gọi của Hà Nội, nhưng không phải tên gọi chính thức, tên gọi này xuất hiện từ thời Cao Biền. Truyền thuyết kể rằng, vào năm 866, khi Cao Biền mới đắp thành Đại La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ. Do đó trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Đỗ.

Thời kỳ đô hộ Phương Bắc nhà Tuỳ (581-618), nhà Đường (618-907), trị sở ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay), tới đời Tuỳ chúng mới chuyển đến Tống Bình, tức Hà Nội.

Thành cũng còn có tên là Đại La. Đại La, hay Đại La thành, nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao bọc lấy Kinh Đô. Theo kiến trúc xưa, Kinh Đô thường có “Tam trùng thành quách”: trong cùng là Tử Cấm thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng là Đại La thành. Năm 866 Cao Biền bồi đắp thêm Đại La thành rộng hơn và vững chãi hơn trước. Từ đó, thành này được gọi là thành Đại La. Thí dụ trong Chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ viết năm 1010 có viết: “… Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời đất…” (Toàn thư, Tập I, H, 1993, tr 241).

Khi Việt Nam giành được độc lập, Hà Nội lúc đó trở thành thủ đô của Đại Việt từ thế kỷ thứ 11, với tên gọi Thăng Long (có nghĩa là “rồng bay lên”), sau khi Lý Công Uẩn ra chiếu dời đô năm 1010. Thăng Long là thủ đô cho đến năm 1397, khi thủ đô được di chuyển về Thanh Hóa (tức Tây Đô). Thăng Long khi đó có tên gọi là Đông Đô. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Mùa hạ tháng 4 năm Đinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán Thương (tức Hồ Hán Thương – TM) coi phủ đô hộ là Đông Đô” (Toàn thư Sđd – tr.192). Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sử thần nhà Nguyễn chú thích: “Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hoá là Tây Đô, Thăng Long là Đông Đô” (Cương mục – Tập 2, H 1998, tr 700).

Năm 1408, nước Đại Ngu của cha con họ Hồ bị quân đội của nhà Minh xâm chiếm và Đông Đô bị người Minh đổi tên thành Đông Quan.

Năm 1428, sau khi quân đội của Lê Lợi giải phóng đất nước thì Đông Quan được đổi tên thành Đông Kinh – tên gọi này người châu Âu phiên âm thành Tonkin. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết sự ra đời của cái tên này như sau: “Mùa hạ, tháng 4 năm Đinh Mùi (1427), Vua (tức Lê Lợi – TM) từ điện tranh ở Bồ Đề, vào đóng ở thành Đông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại Việt đóng đô ở Đông Kinh. Ngày 15 vua lên ngôi ở Đông Kinh, tức là thành Thăng Long. Vì Thanh Hóa có Tây Đô, cho nên gọi thành Thăng Long là Đông Kinh” (Toàn thư – Sđd. Tập 2, tr 293).

Thời Tây Sơn, vì kinh đô đóng ở Phú Xuân thành còn có tên là Bắc Thành.

Năm 1802, khi nhà Nguyễn chuyển kinh đô về Huế, nó lại được đổi tên thành Thăng Long, nhưng lần này chữ “Long” biểu hiện cho sự thịnh vượng, chứ không phải là rồng, với lý do rằng rồng là tượng trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây thì không được dùng chữ “Long” là “rồng” (Trần Huy Liệu (chủ biên), Lịch sử thủ đô Hà Nội, H. 1960, tr 81).

Sau đó vua Gia Long còn hạ lệnh phá bỏ hoàng thành cũ, vì vua không đóng đô ở Thăng Long, mà hoàng thành Thăng Long lại rộng quá.

Năm 1831 vua Minh Mạng lập ra tỉnh Hà Nội: tỉnh nằm trong (nội) hai con sông (hà) là sông Hồng và sông Đáy. Khi Việt Nam tiếp xúc với phương Tây, tên Hán-Việt của Hà Nội Đông Kinh, được viết thành Tonkin và được người châu Âu dùng phổ biến. Năm 1873, người Pháp bắt đầu tiến đánh Hà Nội và 10 năm sau thì chiếm toàn bộ. Từ năm 1887, Hà Nội trở thành thủ phủ của Đông Dương thuộc Pháp.

Năm 1940, thành phố bị phát xít Nhật xâm chiếm và đến năm 1945 Hà Nội được giải phóng và là nơi đặt các cơ quan của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ 1946 đến 1954, Hà Nội là chiến địa ác liệt giữa Việt Minh và quân đội Pháp. Sau khi được giải phóng vào ngày 10 tháng 10 năm 1954, Hà Nội trở thành thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trong Chiến tranh Việt Nam, các công trình giao thông của Hà Nội như cầu và đường tàu bị bom đạn phá hủy, tuy nhiên ngay lập tức được sửa chữa. Trong thời gian này Hà Nội được xưng tụng là “Thủ đô của phẩm giá con người”. Hà Nội trở thành thủ đô của toàn Việt Nam sau ngày Bắc Nam thống nhất 2 tháng 7 năm 1976.

Hà Nội còn có nhiều các tên gọi không chính thức khác, chủ yếu xuất hiện trong văn thơ và dân gian: Trường An hay Tràng An (lấy theo tên gọi của kinh đô của Trung Quốc thời kỳ nhà Hán và nhà Đường); Phượng Thành hay Phụng Thành (trong bài phú của Nguyễn Giản Thanh); Long Thành, Long Biên, Kẻ Chợ (trong dân gian); Thượng Kinh, Kinh Kỳ, Hà Thành, Hoàng Diệu, ngay sau Cách mạng tháng Tám – 1945, đôi khi trong các báo chí của Việt Nam sử dụng tên này để chỉ Hà Nội.

Từ khóa: hanoitvdai truyen hinh ha noiđài truyền hình hà nộidai truyen hinhdai phat thanhphat thanhtruyen hinhhanoitelevisionradiophát thanhtruyền hìnhhà nộitvHanoi television

Ý Nghĩa Những Tên Gọi Của Hà Nội Qua Các Thời Kỳ Lịch Sử / 2023

Thăng Long – Hà Nội là kinh đô lâu đời nhất trong lịch sử Việt Nam. Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long – Hà Nội có nhiều tên gọi khác nhau được ghi chép trong sử sách Nhà nước Việt Nam và chia thành hai loại: chính thức và không chính thức, theo thứ tự thời gian.

Những tên gọi chính thức của Thăng Long – Hà Nội qua chiều dài lịch sử

Tên chính thức là những tên được chép trong sử sách do các triều đại phong kiến, Nhà nước Việt Nam chính thức đặt ra:

Tống Bình: Thành Tống Bình là trị sở của những kẻ đô hộ phương Bắc thời Tùy (581-618), Đường (618-907). Trước đây, trị sở của chúng là ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay). Tới đời Tùy, chúng mới chuyển đến Tống Bình.

Long Đỗ: Truyền thuyết kể rằng lúc Cao Biền nhà Đường, vào năm 866 mới đắp thành Đại La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ. Do đó, trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Đỗ.

Vào năm Quang Thái thứ 10 (năm 1397) đời vua Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly có ý định cướp ngôi nhà Trần nên muốn dời kinh đô về đất An Tôn, phủ Thanh Hóa.

Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói: “Ngày xưa, nhà Chu, nhà Ngụy dời kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Long Đỗ có núi Tản Viên, có sông Lô Nhị (tức sông Hồng ngày nay), núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi.” Điều đó cho thấy Long Đỗ đã từng là tên gọi đất Hà Nội thời cổ.

Đại La: Đại La hay Đại La thành nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao lấy Kinh Đô Thăng Long xưa. Theo kiến trúc xưa, Kinh Đô thường có “Tam trùng thành quách.” Trong cùng là Tử Cấm thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng là Đại La thành.

Năm 866, Cao Biền bồi đắp thêm Đại La thành rộng hơn và vững chãi hơn trước. Từ đó, thành này được gọi là thành Đại La. Chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ (năm 1010) viết: “… Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời đất…” (Sách ” Toàn thư “, Tập 1, Hà Nội 1993, tr 241).

Thăng Long (Rồng bay lên). Đây là cái tên có tính văn chương nhất, gợi cảm nhất trong số các tên của Hà Nội. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết lý do hình thành tên gọi này như sau: “Mùa Thu, năm Canh Tuất (1010) vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra Kinh phủ thành Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long” (Sách ” Toàn thư “, Tập 1, Hà Nội 1993, tr 241).

Đông Đô: Sách ” Đại Việt sử ký toàn thư” viết: “Mùa Hạ tháng 4 năm Đinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Hồ Hán Thương coi phủ đô hộ là Đông Đô” (Sách ” Toàn thư “, Tập I, Hà Nội 1993, tr 192). Hồ Quý Ly lên ngôi đóng đô ở Tây Đô (Thanh Hóa), Thăng Long là Đông Đô.

Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục chú thích: “Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hóa là Tây Đô, Thăng Long là Đông Đô” (Sách “Cương mục”, Tập 2, Hà Nội 1998, tr 700).

Đông Quan: Đây là tên gọi Thăng Long do quan quân nhà Minh đặt ra với hàm nghĩa kỳ thị Kinh đô của Việt Nam, chỉ được ví là “cửa quan phía Đông” của Nhà nước phong kiến Trung Hoa. Sử cũ cho biết năm 1408, quân Minh đánh bại cha con Hồ Quý Ly đóng đô ở thành Đông Đô, đổi tên thành Đông Quan.

Sách ” Đại Việt sử ký toàn thư” chép: “Tháng 12 năm Mậu Tý (1408), Giản Định đế bảo các quân “Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch như sét đánh không kịp bưng tai, tiến đánh thành Đông Quan thì chắc phá được chúng” (Sách ” Toàn thư “, Tập 2, Hà Nội 1993, tr 224).

Đông Kinh: Sách ” Đại Việt sử ký toàn thư ” viết về sự ra đời của tên “Đông Kinh” như sau: “Mùa Hạ, tháng 4 năm Đinh Mùi (1427), Vua (tức Lê Lợi) từ điện tranh ở Bồ Đề, vào đóng ở thành Đông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại Việt đóng đô ở Đông Kinh. Ngày 15, vua lên ngôi ở Đông Kinh, tức là thành Thăng Long. Vì Thanh Hoá có Tây Đô, cho nên gọi thành Thăng Long là Đông Kinh” (Sách “Toàn thư”, Tập 2, Hà Nội 1993, tr 293).

Bắc Thành: “Đời Tây Sơn (Nguyễn Huệ-Quang Trung 1787-1802) vì kinh đô đóng ở Phú Xuân (Huế) nên gọi Thăng Long là Bắc thành. Đầu đời Gia Long đặt “Tổng trấn Bắc Thành,” đem phủ Phụng Thiên lệ vào” (Nguyễn Vinh Phúc-Trần Huy Bá, Đường phố Hà Nội, Hà Nội 1979, tr12).

Thăng Long (Thịnh vượng lên): Sách ” Lịch sử Thủ đô Hà Nội ” viết: “Năm 1802, Gia Long quyết định đóng đô ở tại nơi cũ là Phú Xuân (Huế), không ra Thăng Long, cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn miền Bắc và đổi kinh thành Thăng Long làm trấn thành miền Bắc. Kinh thành đã chuyến làm trấn thành thì tên Thăng Long cũng cần phải đổi. Nhưng vì tên Thăng Long đã có từ lâu đời, quen dùng trong nhân dân toàn quốc, nên Gia Long thấy không tiện bỏ đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long, nhưng đổi chữ “Long” là Rồng thành chữ “Long” là Thịnh vượng, lấy cớ rằng rồng là tượng trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây thì không được dùng chữ “Long” là “Rồng” [Trần Huy Liệu (chủ biên), Lịch sử thủ đô Hà Nội, Hà Nội 1960, tr 81].

Việc thay đổi nói trên xảy ra năm 1805, sau đó vua Gia Long còn hạ lệnh phá bỏ hoàng thành cũ, vì vua không đóng đô ở Thăng Long, mà hoàng thành Thăng Long lại quá lớn rộng.

Hà Nội: Sách Lịch sử Thủ đô Hà Nội viết: “Năm 1831, vua Minh Mạng đem kinh thành Thăng Long cũ hợp với mấy phủ huyện xung quanh như huyện Từ Liêm, phủ Ứng Hòa, phủ Lý Nhân và phủ Thường Tín lập thành tỉnh Hà Nội, lấy khu vực kinh thành Thăng Long cũ làm tỉnh lỵ của Hà Nội” [Trần Huy Liệu (chủ biên). Lịch sử thủ đô Hà Nội. Hà Nội 1960, Tr 82].

Những cái tên trong văn học của Thăng Long – Hà Nộ i

Trong văn thơ, ca dao, khẩu ngữ…,thành Thăng Long-Hà Nội được gắn với nhiều tên gọi khác nhau.

Trường An: Vốn là tên Kinh đô của hai triều đại phong kiến thịnh trị vào bậc nhất của nước Trung Quốc: Tiền Hán (206 trước công nguyên-III sau công nguyên) và Đường (618-907). Do đó, Tràng An được các nhà nho Việt Nam xưa sử dụng như một danh từ chung chỉ kinh đô, từ đó cũng được người bình dân sử dụng nhiều trong ca dao, tục ngữ chỉ kinh đô Thăng Long.

Thí dụ: ” Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.”

Rõ ràng chữ Tràng An ở đây là để chỉ kinh đô Thăng Long.

Phượng Thành (Phụng Thành): Vào đầu thế kỷ XVI, ông Trạng Nguyễn Giản Thanh (người Bắc Ninh) có bài phú nôm rất nổi tiếng: “Phượng Thành xuân sắc phú” (Tả cảnh sắc mùa xuân ở thành Phượng).

Nội dung của bài phú trên là tả cảnh mùa xuân của Thăng Long đời Lê. Phụng Thành hay Phượng Thành được dùng trong văn học Việt Nam để chỉ thành Thăng Long.

Long Biên: Vốn là nơi quan lại nhà Hán, Nguỵ, Tấn, Nam Bắc triều (thế kỷ III, IV, V và VI) ở Giao Châu (tên nước Việt Nam thời đó) đóng trị sở. Sau đó, đôi khi cũng được dùng trong thơ văn để chỉ Thăng Long-Hà Nội. Sách Quốc triều đăng khoa lục có đoạn chép về tiểu sử Tam nguyên Trần Bích San (1838-1877); ghi lại bài thơ của vua Tự Đức viếng ông, có hai câu đầu như sau:

“Long Biên tài hướng Phượng thành hồi Triệu đối do hi, vĩnh biệt thôi!”

Dịch nghĩa:

“Nhớ người vừa từ thành Long Biên về tới Phượng Thành.

Trẫm còn đang hy vọng triệu ngươi về triều bàn đối, bỗng vĩnh biệt ngay.”

Thành Long Biên ở đây, vua Tự Đức dùng để chỉ Hà Nội, bởi vì bấy giờ Trần Bích San đang lĩnh chức Tuần phủ Hà Nội. Năm 1877 vua Tự Đức triệu ông về kinh đô Huế để sung chức sứ thần qua nước Pháp, chưa kịp đi thì mất.

Long Thành: Là tên viết tắt của Kinh thành Thăng Long. Nhà thơ thời Tây Sơn Ngô Ngọc Du, quê ở Hải Dương, từ nhỏ theo ông nội lên Thăng Long mở trường dạy học và làm thuốc.

Ngô Ngọc Du là người được chứng kiến trận đại thắng quân Thanh ở Đống Đa-Ngọc Hồi của vua Quang Trung. Sau chiến thắng xuân Kỷ Dậu (1789), Ngô Ngọc Du có viết bài Long thành quang phục kỷ thực (Ghi chép việc khôi phục Long thành).

Hà Thành: Là tên viết tắt của thành phố Hà Nội được dùng nhiều trong thơ ca để chỉ Hà Nội. Thí dụ như bài Hà Thành chính khí ca của Nguyễn Văn Giai, bài Hà Thành thất thủ, tổng vịnh (khuyết danh), Hà Thành hiểu vọng…

Hoàng Diệu: Ngay sau Cách mạng Tháng Tám-1945, đôi khi trong các báo chí của Việt Nam sử dụng tên này để chỉ Hà Nội.

Ngoài ra, trong cách nói dân gian, còn nhiều từ được dùng để chỉ Thăng Long-Hà Nội như: Kẻ Chợ (Khéo tay hay nghề đất lề Kẻ Chợ-Khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ); Thượng Kinh, tên này để nói đất kinh đô ở trên mọi nơi khác trong nước, dùng để chỉ kinh đô Thăng Long (Chẳng thơm cũng thể hoa nhài. Chẳng thanh lịch cũng thể người Thượng Kinh). Kinh Kỳ, tên này nói đất có kinh đô đóng (Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến).

Và đôi khi chỉ dùng một từ kinh như “Ăn Bắc, mặc Kinh.” Bắc đây chỉ vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh), Kinh chỉ kinh đô Thăng Long.

Loại tên “không chính quy” của Thăng Long – Hà Nội còn được sử dụng khá linh hoạt trong văn học, ca dao…

Sau khi triều Tây Sơn sụp đổ, vua Gia Long đã đổi phủ Phụng Thiên (vốn là đất đai của kinh thành Thăng Long cũ) thành phủ Hoài Đức và vẫn coi là một đơn vị trực thuộc ngang với trấn tức trực thuộc trung ương mà đại diện là Tổng trấn Bắc Thành.

Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đã tiến hành một đợt cải cách hành chính lớn, xóa bỏ Bắc Thành (gồm 11 trấn và 1 phủ trực thuộc) ở miền Bắc, chia cả nước ra làm 29 tỉnh, trong đó có 15 tỉnh trực thuộc trung ương.

Lúc đó, Hoài Đức trở thành một trong bốn phủ họp thành tỉnh Hà Nội. Danh từ Hà Nội bắt đầu có từ bấy giờ. Hà Nội có nghĩa là phía trong sông. Vì trong thực tế, tỉnh mới này nằm trên trong 3 con sông Hông, sông Nhuệ và sông Đáy. Tỉnh Hà Nội có 4 phủ là:

– Phủ Hoài Đức gồm 3 huyện: Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm

– Phủ Thường Tín gồm 3 huyện: Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên

– Phủ Ứng Hoà gồm 4 huyện: Sơn Minh (nay là Ứng Hòa), Hoài An (nay là phía nam Ứng Hòa và một phần Mỹ Đức), Chương Đức (nay là Chương Mỹ-Thanh Oai)

– Phủ Lý Nhân gồm 5 huyện: Nam Xang (nay là Lý Nhân), Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục.

Tên gọi Hà Nội bắt đầu có từ năm 1831. Như vậy, tỉnh Hà Nội so với nay gồm thành phố Hà Nội, nửa phía đông tỉnh Hà Tây (chính là tỉnh Hà Đông thời Pháp thuộc) và toàn bộ tỉnh Hà Nam, rõ ràng nằm kẹp giữa sông Hồng, sông Đáy và sông Nhuệ.

Cũng từ đó, thành Hà Nội cũng được coi là thành tỉnh, và con đường đi từ Hàng Bông qua Mang Cá (công trình phòng thủ hình tam giác xây trước cửa thành) đi vào Cửa Đông của toà thành được gọi là phố “Cửa Đông Cổng tỉnh” nay là phố Đường Thành.

Có người cho rằng chữ Hà Nội là lấy từ câu trong sách Mạnh Tử (Thiên Lương Huệ Vương): “Hà Nội hung tắc di kỳ dân ư Hà Đông, chuyển kỳ túc ư Hà Nội” (nghĩa là: Hà Nội bị tai họa thì đưa dân về Hà Đông, đưa thóc từ Hà Đông về Hà Nội). Nhưng đó là trường hợp năm 1904 khi muốn đổi tên tỉnh Cầu Đơ cho khỏi nôm na, “tiểu ban đặt tên” mới lấy câu sách Mạnh Tử nói trên để đổi tỉnh Cầu Đơ ra tỉnh Hà Đông.

*

Chùa Trấn Quốc – Di Tích Lịch Sử – Văn Hoá Hà Nội / 2023

Trấn Quốc Tự có từ thế kỷ 6; lúc đầu ở gần sông Hồng; đến năm 1615 dời vào một bán đảo nhỏ của Hồ Tây nằm trên đường Thanh Niên, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, Hà Nội.

Theo sử sách, chùa vốn dựng ở gần bờ sông Hồng, thuộc đất bãi của làng Yên Hoa (tức Yên Phụ sau này). Ban đầu chùa mang tên rất có ý nghĩa thời sự là Khai Quốc (mở nước). Khi ấy Lý Nam Đế (541 – 547) mới giành được độc lập dân tộc và đặt quốc hiệu Vạn Xuân. Vua đóng đô ở vùng cửa sông Tô Lịch, cách làng này chỉ một quãng đò dọc.

Theo Phật sử, tại ngôi chùa này từng có các vị cao tăng và danh nhân đến thụ giáo và tu trì như Văn Phong Pháp sư, Khuông Việt Thái sư, Ngô Chân Lưu, Thảo Đường, Thông Biện, Viên Học, Tịnh Không, Trần Tú Uyên và nhiều bậc chư tôn đức khác. Năm 580 Thiền sư Tì Ni Đa Lưu Chi từ Ấn Độ đã qua đây tu rồi sau mới sang trụ trì ở chùa Pháp Vân.

Thời Lý, Thái Hậu Ỷ Lan thường mở tiệc Trai tăng và hỏi chư tăng về đạo Phật. Chùa Trấn Quốc về sau cũng từng là Tổ đình của Thiền phái Tào Động do vị Tịnh Trí Giác Khoan, một Thiền sư đời Hậu Lê truyền đến, hiện nay có các tòa tháp để lại.

Đầu thế kỷ 15, Lê Lợi tụ hợp hiền tài, phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn, 10 năm sau đuổi được giặc Minh, chấm dứt cuộc Bắc thuộc lần thứ 2. Mong mỏi đất nước an bình lâu bền, cho nên đến năm 1440 vua Lê Thái Tông đổi tên chùa là An Quốc.

Năm 1615, dưới triều vua Lê Kính Tông, chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ của cung Thúy Hoa (thời Lý) và điện Hàn Nguyên (thời Trần). Năm 1639 chúa Trịnh cho sửa lại cổng tam quan và xây hành lang hai bên tả hữu. Khoảng niên hiệu Chính Hòa (1680 – 1705) đời vua Lê Hy Tông, chùa được đặt tên là Trấn Quốc.

Chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng trong thời Nguyễn sau lần đến thăm của vua Minh Mạng (1821). Năm 1842 vua Thiệu Trị trong cuộc tuần hành ra Bắc đã đến thăm chùa, cho tu sửa và đổi hiệu là Trấn Bắc. Mãi đến cuối thế kỷ 20 mới xây bờ kè và lát ngõ vào từ đường Cổ Ngư cũ, gần đây lại dựng một ngọn tháp cao và cổng tam quan mới.

Chùa Trấn Quốc bao gồm ba nếp nhà tiền đường, thiêu hương và thượng điện nối liền nhau theo hình chữ “công” (工), hai bên là hành lang tả vu và hữu vu. Phía sau thượng điện là gác chuông, nhà Tổ và nhà bia.

Bước qua tam quan, ta thấy rõ ngọn tháp cao 11 tầng màu nâu đỏ sừng sững vượt lên trên bức tường ngăn, trong mỗi tầng có 6 pho tượng trắng toát. Rẽ trái vào cửa ngách đầu tiên, du khách lần đầu đến thăm sẽ ngạc nhiên trước cả một vườn mộ cổ quy tụ xung quanh ngôi tháp lục giác, minh chứng cho lịch sử lâu đời của chùa Trấn Quốc.

Vườn tháp nằm liền với một sân gạch có hòn non bộ, hai bên là nhà bia và nhà Tổ, phía giữa chắn bởi mặt sau của toà nhà hai tầng với gác chuông bằng gỗ chạm ở trên. Trong nhà Tổ rộng 5 gian thì 3 gian chính dành để thờ các sư Tổ, còn 2 gian đầu hồi thờ Mẫu; trên các ban thờ có đặt nhiều pho tượng sinh động.

Đi thẳng con đường lát gạch từ tam quan men theo ven hồ, du khách sẽ đến sân tiền đường ở phía tây-nam. Trước sân có một cây bồ đề tán lá xum xuê, chiết từ gốc cổ thụ tại Bồ Đề Đạo Tràng nơi Đức Phật hành đạo cách đây hơn 25 thế kỷ. Đó chính là món quà tặng của Tổng thống Ấn Độ Rajendra Prasad khi ông đến thăm Hà Nội năm 1959.

Chùa Trấn Quốc được bao bọc bởi cây cối um tùm và Hồ Tây quanh năm xanh nước với những đợt sóng dâng cao bất ngờ. Mỗi khi trời trong, đỉnh Ba Vì xa xăm in bóng. Buổi sớm sương mờ hoặc chiều tà đỏ ối rồi đêm trăng vàng dịu… tất cả đều gợi lên thi hứng. Các danh sĩ như Nguyễn Huy Lượng, Hồ Xuân Hương, Phạm Thái, Bà huyện Thanh Quan.. đã từng dạo quanh đây và để lại những tác phẩm tuyệt vời.

Hiện trong chùa còn 14 tấm bia đá, trong đó có bia của trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính (1587 – 1693) và tiến sĩ Phạm Quý Thích (1760 – 1825). Các văn bia đã ghi lại nhiều tư liệu quý và mô tả đầy đủ những lần tu tạo chùa trong các năm 1624, 1628, 1639, 1815, 1821, 1842.

Dọc theo chính điện với nhiều tầng cửa võng chạm trổ tinh xảo có bài trí một hệ thống đầy đủ các tượng Phật và Bồ tát dát vàng, hai cửa vào thiêu hương đều có tượng Kim Cương đứng trấn. Gian bên trái tiền đường thờ tượng Quan Vũ, Châu Sương và gian bên phải thờ tượng Đức Ông cùng các thị giả.

Chùa Trấn Quốc nằm trên doi đất phía đông-bắc của Hồ Tây, thuộc đất làng Yên Phụ, nơi có ngôi đình với điện thờ thần Linh Lang. Vào dịp lễ hội mùa xuân hằng năm dân làng tổ chức đám rước từ đình sang chùa rồi từ chùa về làng bằng cả một đoàn thuyền nối nhau cờ reo trống thúc tưng bừng.

Trải qua bao cuộc bể dâu, Trấn Quốc vẫn là một trong những ngôi chùa thiêng liêng bậc nhất đối với Phật tử Việt Nam. Ngôi chùa cổ nhất của thủ đô Hà Nội đã được nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá quốc gia ngay từ đợt đầu (1962).

Hits: 7756

Đình Kim Mã – Di Tích Lịch Sử – Văn Hoá Hà Nội / 2023

Đình nhìn về hướng nam, lưng giáp với mặt sau của trạm xe bus ở số 61 phố Kim Mã. Khách đến thăm đình thoạt tiên bước từ hè phố cao xuống một dốc ngắn rồi đi qua con ngõ hẹp. Dấu tích cổng đình cũ không còn gì ngoài hai cột nghi môn trước sân bái đường. Sau khi trùng tu vào đầu thế kỷ 21, cổng mới hiện nay được mở ra ngõ như một cửa ngách nhỏ nhìn về hướng tây, mặt trước trụ cổng đắp nổi đôi câu đối bằng chữ Hán, mặt ngang trên trụ có đắp thêm đôi câu đối khác bằng chữ Quốc ngữ.

Đình mang tên làng cổ Kim Mã, một trong Thập Tam Trại (13 trại) tương truyền được lập từ thế kỷ 11 ở phía tây của kinh thành Thăng Long. Vào thời Lý – Trần, đất làng Kim Mã được dùng làm nơi nuôi ngựa của Hoàng cung, nên còn gọi là Tầu Mã hay Mã Trại. Một số tư liệu cũng ghi nhận đình Kim Mã đã được xây dựng từ lâu đời như trong các văn bia trùng tu soạn vào niên hiệu Tự Đức 28 (năm 1875) và Khải Định (1925).

Đình từng bị giặc Pháp phá hủy, rồi đổ mái bằng làm trụ sở UBND phường, sau mới trả cho dân xây lại. Trong quá trình đô thị hoá, diện tích khu đình thu hẹp đi nhiều, chỉ còn chỗ cho sân gạch, nhà tả hữu vu và tòa đại đình. Sân lớn trước nghi môn nay là nơi chơi bóng chuyền, cầu lông và bóng bàn. Đất xung quanh đình đã thành nhà cao tầng, các cây cổ thụ hai bên bị mất hết, hướng đình nhìn về phía nam cũng bị bịt kín. Bên trái trụ cổng cũ lạì mới xây thêm một ngôi miếu nhỏ càng làm cho khuôn viên trở nên chật hẹp.

Cổng đình cũ có hai cột trụ được xây dựng bởi hai gia tộc lớn trong làng là họ Lê và Nguyễn Xuân. Trên ngọn và dọc thân trụ có trang trí bằng những hình chim phượng, tứ linh và hoa lá. Ở mặt trước và mặt sau hai trụ này có các câu đối ca ngợi công đức của Thành hoàng làng là Bố cái đại vương, người gốc Đường Lâm:

Kim Mã hiếu trung tồn sử sách

Đường Lâm nghĩa dũng tráng sơn hà.

Sân sau nghi môn khá hẹp với các dãy tả, hữu vu nhỏ ở hai bên. Toà đại đình 5 gian được xây theo hình chữ nhật, ở hàng hiên có các cột đắp câu đối. Trên đỉnh nóc đình có đôi rồng chầu mặt nguyệt. Trong đình, phía sát tường cuối hậu cung có xây bệ, trên đặt long ngai thành hoàng làng. Bộ phận này được trang trí bằng một cửa võng từ thế kỷ 19.

Đình Kim Mã còn lưu giữ được một sắc phong Phùng Hưng của vua Quang Trung, một sập thờ kiểu chân quỳ dạ cá chạm trổ công phu hiếm thấy và 4 bia đá nói về các lần trùng tu. Đáng lưu ý bài văn “Trùng tu nội đình bi kí” có giá trị tư liệu lịch sử do nhà nho Lê Đình Diên tự Cúc Hiên soạn và dựng bia năm 1875, ghi chép về sự tích Phùng Hưng và làng Kim Mã. Nội dung bài văn đã được dịch và in trong sách “Lịch sử văn bia Hà Nội”.

Bố Cái Đại Vương (tức Phùng Hưng) sinh ngày 25 tháng 11 âm lịch năm Canh Tý (tức 5-1-761) trong một gia đình đã mấy đời làm Hào trưởng ở Đường Lâm, Ba Vì, Sơn Tây. Vào những năm 766-779, quan cai trị nhà Đường ở Giao Châu là Cao Chính Bình thi hành chính sách tàn bạo, bóc lột thậm tệ, khiến nhân dân phẫn nộ. Tương truyền Phùng Hưng lớn lên có sức khỏe phi thường, vật nổi trâu, đánh được hổ, cõng thuyền nặng đi hàng chục dặm đường, được mọi người trong vùng tin phục. Ông cùng hai em là Phùng Hải và Phùng Dĩnh phất cờ khởi nghĩa, chỉ sau một thời gian ngắn quân sĩ đã lên tới hàng vạn người. Cuộc chiến kéo dài hơn 20 năm, vào năm Ất Hợi (795) Phùng Hưng đánh tan quân xâm lược và lên nắm quyền trị vì được 7 năm. Đến ngày 13 tháng 8 năm Nhâm Ngọ (802) ông mất, con trai là Phùng An nối ngôi, tôn ông là Bố Cái Đại Vương và xây lăng mộ ở phía tây phủ thành Tống Bình.

Linh Lang Đại Vương: theo truyền thuyết ông là hoàng tử, con trai thứ 4 của vua Lý Thánh Tông và bà cung phi Cảo Nương. Một lần Cảo Nương đi tắm ở Hồ Tây, bị rồng quấn lấy người sau đó liền mang thai và sinh ra Linh Lang. Khi lớn lên gặp lúc giặc Tống xâm lược bờ cõi ông xin vua cha cấp một cỗ voi và một cây cờ hồng để đi dẹp giặc. Ông dùng cờ lệnh, lệnh cho voi quỳ xuống rồi xông ra trận, cờ lệnh ông chỉ đến đâu giặc tan đến đấy. Với chiến thắng vang dội vua cha muốn nhường ngôi nhưng ông không nhận, ông chỉ thích sống cuộc đời bình dị. Ít lâu sau ông bị bệnh rồi mất. Khi ông mất hóa thành giao long bò xuống hồ Tây rồi biến mất. Vua xót thương bèn sai lập đền thờ tại nơi thần hóa và phong thần là Linh Lang Đại Vương. Ông được suy tôn là vị thần trấn giữ, bảo vệ phía tây kinh thành Thăng Long. Gần đây, các nhà sử học cho rằng Linh Lang chính là hình ảnh được thần linh hoá của Hoàng tử Hoàng Chân —người đã hi sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Tống tại bờ sông Như Nguyệt năm 1076.

Quan thái giám Hoàng Phúc Trung (tức Quý Công) sinh ngày 13 tháng 1 năm Bính Dần (1026) quê ở làng Lệ Mật, huyện Gia Lâm. Năm 16 tuổi ông vào cung làm thái giám. Trong một lần đi trên sông Đuống, thuyền của con gái vua Lý Thái Tông (1028—1054) chẳng may bị đắm, nhiều người lặn xuống mà không thấy xác công chúa. Ông xin tìm và đã vớt được. Vua phong ông làm “Thái giám nội thị tự khanh” và ban thưởng vàng bạc, lụa là nhưng ông không nhận, chỉ xin cho dân Lệ Mật sang khai khẩn vùng đất phía tây kinh thành, dựng nên 13 làng (Thập Tam Trại), trong đó có làng Kim Mã. Đến ngày 10-10 năm Kỷ Hợi (1119) đời vua Lý Nhân Tông ông bị bệnh và mất ở kinh đô, hưởng thọ 93 tuổi. Với công lao to lớn, ông được nhà vua cho lập đền thờ ở nhiều nơi và sắc phong làm “Thành hoàng Thái giám Linh Chương Đại Vương, thượng đẳng phúc thần”.

Bộ Văn hóa và Thông tin đã xếp hạng đình Kim Mã là Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia vào ngày 27-12-1990. Hiện nay ở cách đình khoảng 500m về hướng đông còn có chùa Kim Sơn và lăng Phùng Hưng cũng được xếp hạng là Di tích lịch sử quốc gia.

Hits: 859

Bạn đang đọc nội dung bài viết Lịch Sử Các Tên Gọi Của Thủ Đô Hà Nội / 2023 trên website Welovelevis.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!