Đề Xuất 2/2023 # Mẫu Câu Giới Thiệu Bản Thân Khi Học Tiếng Đức # Top 6 Like | Welovelevis.com

Đề Xuất 2/2023 # Mẫu Câu Giới Thiệu Bản Thân Khi Học Tiếng Đức # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Mẫu Câu Giới Thiệu Bản Thân Khi Học Tiếng Đức mới nhất trên website Welovelevis.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Giới thiệu tên khi học tiếng Đức

Không giống như trong tiếng Việt, khi học tiếng Đức giao tiếp cơ bản, người ta chỉ thường sử dụng 2 mẫu câu chính sau đây để giới thiệu chính mình với mọi người:

+ Một là: “Ich heiβe… ” (Tôi tên là… = “I am… ” trong tiếng Anh) + Hai là: “Mein Name ist … ” hay “Mein Vorname ist … ” (Tên của tôi là… = “My name is… ” trong tiếng Anh)

Chú ý: Nếu bạn giới thiệu bản thân theo cách thứ 2 kể trên, bạn nên giới thiệu một cách đầy đủ cả họ lẫn tên hoặc ít nhất là phải giới thiệu được tên và tên đệm của mình. Tuyệt đối đừng chỉ giới thiệu mỗi tên của mình vì người Đức sẽ cảm thấy khó hiểu và mất thiện cảm với bạn. Ngay từ lần đầu gặp mặt mà đã làm người ta mất thiện cảm thì thật là không tốt chút nào hết đúng không các bạn?

Ngoài ra, chúng ta có thể dùng 2 mẫu câu khác để giới thiệu tên của mình, mặc dù 2 cách này không khá phổ biến là mấy:

+ Nếu bạn lỡ chỉ giới thiệu tên thì bạn có thể bổ sung thêm một câu giới thiệu họ của bạn cho đầy đủ và lịch sự hơn: “Mein Nachname ist… ” (Họ của tôi là… = “My last name is… ” trong tiếng Anh) + Một cách khác để giới thiệu mình thông qua biệt danh: “Meine Freunde nennen mich … ” (Bạn bè của tôi gọi tôi là… có thể tương đương với “My nickname is… ” trong tiếng Anh)

2. Giới thiệu tuổi, ngày sinh và nơi sinh khi học tiếng Đức

Trong tiếng Đức, người ta sử dụng mẫu câu: “Ich bin… ” khi muốn nói cụ thể tuổi của mình. Ví dụ: Ich bin 22 Jahre alt. (Tôi 22 tuổi). Để giới thiệu sinh nhật của mình, khi học tiếng Đức bạn sẽ được học những mâu câu khá thông dụng như: Mein Geburtstag ist am … hay Ich habe am …. (Sinh nhật tôi là ngày…) hay Mein Geburtstag ist am 26. August. Ich habe am 26. August Geburtstag. (Sinh nhật tôi là ngày 26 tháng 8).

Ví dụ một số cách giới thiệu ngày sinh khác: + Letzten Freitag war mein Geburtstag, ich bin 22 (Jahre alt) geworden. (Thứ 6 tới sẽ là sinh nhật tròn 23 tuổi của mình). + Ich bin am 26. August 1995 in Ho Chi Minh Stadt geboren. (Tôi sinh ngày 26 tháng 8 năm 1995 tại thành phố Hồ Chí Minh). + Im August werde ich 22 (Jahre alt). (Tháng 8 này mình sẽ tròn 22 tuổi).

3. Giới thiệu địa chỉ và số điện thoại khi học tiếng Đức

Để giới thiệu địa chỉ và số điện thoại của mình, khi tự học tiếng Đức giao tiếp bạn nên ghi nhớ những mẫu câu sau:

+ Meine Adresse ist… (Địa chỉ của tôi là… ) + Ich wohne in der Hoàng Diệu Straβe. Die Hausnummer ist… (Tôi sống ở đường Hoàng Diệu. Số nhà là… ) + Mein Handynummer ist… (Số điện thoại di động của tôi là… ) + Meine Telefonnummer ist… (Số điện thoại nhà của tôi là… )

4. Giới thiệu về tình trạng hôn nhân khi học tiếng Đức

Cũng giống như khi bạn giới thiệu tuổi của mình, bạn sử dụng mẫu câu “Ich bin… ” và giới thiệu tình trạng hôn nhân của mình:

+ Ledig. (Tôi còn độc thân./ Tôi chưa từng kết hôn.) + Single. (Tôi đang độc thân.) + Verheiratet. (Tôi đã lập gia đình.) + Verlobt. (Tôi đã đính hôn.) + Geschieden. (Tôi đã ly hôn.) + Verwitwet. (góa bụa)

Chú ý: Ở đây ta thấy hai trường hợp trùng nhau đó là tình trạng độc thân (Single và ledig). Tuy nhiên 2 từ này lại không hoàn toàn khác nhau. Bạn sử dụng Ledig khi muốn nói rằng bạn chưa từng kết hôn, tuy nhiên, hiện tại bạn có thể đang có người yêu hoặc sống cùng người yêu. Còn với ý nghĩa sử dụng của Single thì nó chỉ rằng có thể bạn chưa hoặc đã từng kết hôn, nhưng hiện tại bạn không có mối quan hệ yêu đương với bất cứ ai cả.

Ví dụ một số mẫu câu giới thiệu tình trạng hôn nhân:

+ Ich bin seit 23 Jahren verheiratet. (Tôi kết hôn năm 23 tuổi.) + Wir haben uns letztes Jahr scheiden lassen. (Chúng tôi ly dị vào năm ngoái.) + Ich bin ledig, aber ich habe einen Partner/einen Freund/eine Freundin.(Tôi chưa từng kết hôn, nhưng hiện tại tôi đang có người yêu/bạn trai/bạn gái.).

Giới Thiệu Cuốn Sách Dịch ‘Văn Học Việt Nam’ Bằng Tiếng Ucraina

Nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh mùng 2/9 và 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại sứ quán Việt Nam phối hợp với Đại học Tổng hợp quốc gia Taras Shevchenko – một trong những trường đại học danh tiếng nhất của Ucraina, tổ chức Lễ giới thiệu cuốn sách dịch một số tác phẩm văn học của Việt Nam sang tiếng Ucraina, trong đó có Bản tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Công trình dịch thuật này có tiêu đề “Văn học Việt Nam” do các dịch giả trẻ tuổi của bộ môn tiếng Việt thuộc Viện Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Kyiv mang tên Taras Shevchenko thực hiện. Đây là cuốn sách dịch đầu tiên các tác phẩm văn học của Việt Nam ra tiếng Ucraina.

Theo phóng viên TTXVN thường trú tại khu vực, tham gia buổi lễ có Đại sứ Nguyễn Anh Tuấn và các cán bộ nhân viên Đại sứ quán Việt Nam; Giáo sư Bekh Petro Oleksiyovych, Phó Giám đốc Đại học Tổng hợp Kyiv mang tên Taras Shevchenko; Giáo sư Asadchyh Oksana Valylivna, quyền Trưởng khoa Ngôn ngữ và Văn học các nước Viễn Đông và Đông Nam Á và GS Liudnmyla Grygorivan, Phó Viện trưởng Viện Ngữ văn; đại diện Hội hữu nghị Ucraina-Việt Nam và đông đảo giảng viên và sinh viên của trường Taras Shevchenko. Đặc biệt, tham dự buổi lễ còn có đoàn Hội hữu nghị Việt Nam-Ucraina do đồng chí Đặng Văn Chiến, Chủ tịch Hội làm trưởng đoàn. Đây là 19 nhà khoa học Việt Nam từng học tập tại Đại học Taras Shevchenko và các trường đại học khác của Ucraina trong giai đoạn 1960-1980 của thế kỷ trước.

Phát biểu tại buổi giới thiệu sách, Đại sứ Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh việc cuốn sách văn học Việt Nam bằng tiếng Ucraina ra mắt có ý nghĩa to lớn về văn hóa, kinh tế và chính trị. Đó là khung cửa mở rộng vào thế giới phong phú của ngôn ngữ Việt Nam, tâm hồn của người Việt Nam, vào lịch sử dựng nước và giữ nước cùng các phong tục tập quán cả nghìn năm qua của dân tộc Việt Nam. Nhân dịp này, Đại sứ cảm ơn lãnh đạo và giáo viên trường Đại học Tổng hợp Kyiv mang tên Taras Shevchenko, trong đó có các thầy cô giáo của bộ môn tiếng Việt thuộc Viện Ngữ Văn, đặc biệt cảm ơn các dịch giả Ucraina trẻ tuổi – những nhà Việt Nam học tương lai đang đóng góp một phần không nhỏ vào việc vun đắp mối quan hệ truyền thống, thuỷ chung sắt son giữa Ucraina-Việt Nam.

Tiếp theo Phó Giáo sư Hoàng Tuấn Vũ và cô Victoria Musiychuk, những giáo viên của Bộ môn tiếng Việt đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để hiệu đính bản dịch, trình bày khái quát quá trình dịch các tác phẩm văn học Việt Nam sang tiếng Ucraina. Cuối cùng, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam-Ucraina Đặng Văn Chiến thay mặt đoàn bày tỏ sự xúc động được dự buổi ra mắt cuốn sách này, coi đây là bước phát triển đáng ghi nhận trong quan hệ Việt Nam – Ucraina, đồng thời với tư cách là cựu sinh viên của Trường ông cũng bày tỏ lòng biết ơn đối với Đại học Tổng hợp quốc gia Taras Shevchenko và công lao của các thế hệ thày cô giáo của nhà trường.

Giới Thiệu Về Bình Dương

Giới thiệu về Bình Dương Giới thiệu về Bình Dương

[ Đăng ngày: 26/12/2012 ]

Giới thiệu chung

BÌNH DƯƠNG: ĐIỂM ĐẾN CỦA HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và một phần thành phố Hồ Chí Minh, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh và một phần tỉnh Đồng chúng tôi Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 29/12/2013 của Chính phủ, tỉnh Bình Dương có diện tích tự nhiên là 2.694,43 km2 (chiếm khoảng 0,83% diện tích cả nước, khoảng 12% diện tích miền Đông Nam Bộ); dân số 1.802.500 người (Tổng cục Thống kê – tháng 10/2014); 09 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm: thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Dĩ An, thị xã Thuận An, thị xã Bến Cát, thị xã Tân Uyên và các huyện Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo) và 91 đơn vị hành chính cấp xã (48 xã, 41 phường, 02 thị trấn).

Thuở ban đầu thời mở đất phương Nam, Bình Dương là tên một tổng thuộc huyện Tân Bình, phủ Gia Định. Đến năm 1808, khi huyện Tân Bình được đổi thành phủ thì Bình Dương được nâng lên một trong bốn huyện của phủ này. Năm 1956, tỉnh Bình Dương được thiết lập nhưng không phải trùng với địa bàn của huyện Bình Dương xưa kia. Đến năm 1997, tỉnh Bình Dương được tái lập, nhưng cũng không phải hoàn toàn là địa phận của tỉnh Bình Dương trước năm 1975. Như vậy, trong lịch sử, Bình Dương là tên gọi của những đơn vị hành chính theo những cấp độ khác nhau (tổng, huyện, tỉnh) với những địa bàn lãnh thổ khác nhau. Vốn gắn liền với Gia Định, Đồng Nai xưa, tức là miền Đông Nam Bộ ngày nay, cư dân Bình Dương là một bộ phận cư dân miền Đông Nam bộ, nhưng đồng thời Bình Dương là vùng đất được bao bọc bởi sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, có những điều kiện sinh thái đặt biệt nên cư dân Bình Dương có những đặc điểm riêng từ lịch sử hình thành đến kỹ năng nghề nghiệp.

Vùng đất Bình Dương từ lâu đã được biết đến với hình ảnh nhộn nhịp của sự giao thương và hội tụ từ nhiều vùng miền trong cả nước. Dưới thời thuộc địa của Pháp, như cách gọi của người đương thời, đó là tỉnh lỵ của một “tỉnh miệt vườn” thuần nông, chỉ có hai trục giao thông chính là sông Sài Gòn và Quốc lộ 13, dân số chỉ vài vạn người, chủ yếu là nông dân.

Khoảng đầu thập niên 90 thế kỷ trước, ít ai nghĩ rằng Bình Dương sẽ vượt lên trở thành một trong những tỉnh công nghiệp hàng đầu của cả nước. Bình Dương khi đó chỉ là một tỉnh thuần nông, người dân nhiều đời gắn bó với ruộng đồng, cây trái. Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, trong khi công nghiệp và dịch vụ còn quá nhỏ bé. Tuy nhiên, từ thời khắc lịch sử, Ngày tái lập tỉnh (01/01/1997), Bình Dương đã trỗi dậy với chủ trương đổi mới được cụ thể hóa bằng những chính sách thông thoáng, mở đường cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của địa phương. Bằng việc xây dựng cơ sở hạ tầng, quyết liệt cải thiện môi trường đầu tư, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh, dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước ồ ạt chảy về Bình Dương, nhà máy mọc lên khắp nơi, nguồn nhân lực bốn phương quy tụ về… Kinh tế – xã hội của Bình Dương bắt đầu đạt những thành tựu đáng kể, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp, bộ mặt đô thị hóa đã được hình thành rõ nét.

Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore I (VSIP I) (Ảnh: Hoàng Phạm)

Bình Dương đã biến vùng đất thuần nông, khô cằn, kém hiệu quả trở thành những khu, cụm công nghiệp trọng điểm của cả nước. Đến nay, toàn tỉnh có 28 khu công nghiệp và 8 cụm công nghiệp, với tổng diện tích khoảng 10.000ha. Trong đó có những khu công nghiệp tiêu biểu cho cả nước về xây dựng kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ và hiện đại, về tốc độ thu hút đầu tư, quản lý sản xuất và bảo vệ môi trường như VSIP 1, 2, Mỹ Phước, Đồng An, … Bằng những chính sách phù hợp, đến tháng 10 năm 2014, Bình Dương đã thu hút được 2.356 dự án đầu tư nước ngoài với số vốn là 20 tỷ 200 triệu đô la Mỹ, trên 17.000 doanh nghiệp trong nước. Nhiều khu đô thị và dân cư mới văn minh, hiện đại được hình thành, trong đó tiêu biểu nhất là thành phố mới Bình Dương với điểm nhấn là Trung tâm hành chính tập trung của tỉnh đã chính thức đi vào hoạt động từ ngày 20/02/2014.

Không chỉ ấn tượng bởi kinh tế phát triển, năng động, vùng đất Bình Dương xưa và nay còn được biết đến với bề dày lịch sử, văn hóa phát triển rất phong phú, đa dạng, có nhiều nét chung hòa quyện vào lịch sử – văn hóa phương Nam nhưng vẫn giữ được những nét riêng rất độc đáo, tạo ấn tượng khó phai trong lòng mỗi người dân. Tính đến nay, tỉnh Bình Dương có 11 di tích lịch sử, văn hóa được công nhận cấp quốc gia, 39 di tích lịch sử, văn hóa được công nhận cấp tỉnh. Trong tiến trình phát triển vùng đất mang đậm nét văn hoá làng nghề thủ công truyền thống, Bình Dương tạo dấu ấn sâu sắc với các sản phẩm thủ công được chế tác từ những làng nghề nổi tiếng đã định vị trên địa bàn hơn 300 năm. Tiêu biểu nhất trong số đó là những nghề đã có từ rất sớm và phát triển mạnh ở đất Thủ – Bình Dương như: Làng gốm sứ ở Lái Thiêu, Tân Phước Khánh; làng mộc, chạm khắc gỗ ở Chánh Nghĩa, Phú Thọ; làng sơn mài ở Tương Bình Hiệp…

Ngoài ra, đến với Bình Dương, các du khách còn được tham quan các danh lam, thắng cảnh, khu du lịch sinh thái, tham gia các lễ hội truyền thống được tổ chức hàng năm thu hút sự tham gia của hàng ngàn lượt khách thập phương như: Lễ hội Chùa Bà Thiên Hậu (thành phố Thủ Dầu Một), vườn trái cây Lái Thiêu với đặc sản là măng cụt và sầu riêng (thị xã Thuận An), khu du lịch Lạc cảnh Đại Nam Văn hiến, khu du lịch Núi Cậu – Lòng hồ Dầu Tiếng,…; cùng thưởng thức vị ngon đặc trưng của ẩm thực Bình Dương, thương hiệu Bánh bèo Mỹ Liên (Chợ Búng, phường An Thạnh, thị xã Thuận An) có lịch sử hơn 100 năm, được công nhận là một trong 10 món đặc sản Việt Nam đạt giá trị ẩm thực châu Á…

Với lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển, đất và người Bình Dương đã, đang và sẽ tiếp tục tạo được hình ảnh và ấn tượng sâu sắc trong lòng của bạn bè quốc tế. Đó không chỉ là sự ấn tượng bởi kinh tế phát triển, năng động, của một môi trường đầu tư thông thoáng mà còn ở đôi bàn tay khéo léo và khối óc sáng tạo của người Bình Dương đã thể hiện thông qua các sản phẩm thủ công vừa đẹp mắt, vừa tinh tế, chuyển tải trong đó những thông điệp đối ngoại tốt đẹp ra thế giới.

Bình Dương luôn là vùng đất của hội tụ. Thế và lực của Bình Dương hôm nay là kết quả phấn đấu kiên cường, năng động, sáng tạo không ngơi nghỉ của bao lớp cư dân trên vùng đất này qua các thời kỳ lịch sử. Đó là hành trang, là vốn liếng quan trọng để Bình Dương cất cách trong thời kỳ mới – thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2020.

Điều kiện tự nhiên

Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, diện tích tự nhiên 2.695,22km2 (chiếm khoảng 0,83% diện tích cả nước, khoảng 12% diện tích miền Đông Nam Bộ). Dân số 1.482.636 người (1/4/2009), mật độ dân số khoảng 550 người/km2.

Địa hình

Bình Dương là một tỉnh nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa sườn phía nam của dãy Trường Sơn, nối nam Trường Sơn với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; là tỉnh bình nguyên có địa hình lượn sóng yếu từ cao xuống thấp dần từ 10m đến 15m so với mặt biển. Vị trí trung tâm của tỉnh ở vào tọa độ địa dư từ 10o-50’-27’’ đến 11o-24’-32’’ vĩ độ bắc và từ 106o-20’ đến 106o25’ kinh độ đông.

Vùng đất Bình Dương tương đối bằng phẳng, thấp dần từ bắc xuống nam. Nhìn tổng quát, Bình Dương có nhiều vùng địa hình khác nhau: vùng địa hình núi thấp có lượn sóng yếu, vùng có địa hình bằng phẳng, vùng thung lũng bãi bồi … Có một số núi thấp, như núi Châu Thới (huyện Dĩ An), núi Cậu (còn gọi là núi Lấp Vò) ở huyện Dầu Tiếng… và một số đồi thấp.

Các quy luật tự nhiên tác động lên vùng đất này tạo nên nhiều dạng địa mạo khác nhau: có vùng bị bào mòn, có vùng tích tụ (do có sự lắng đọng của các vật liệu xâm thực theo dòng chảy), có vùng vừa bị bào mòn, vừa tích tụ và lắng đọng. Nguyên nhân chủ yếu là do nước mưa và dòng chảy tác động trên mặt đất, cộng với sự tác động của sức gió, nhiệt độ, khí hậu, sự sạt lở và sụp trượt vì trọng lực của nền địa chất. Các sự tác động này diễn ra lâu dài hàng triệu năm.

Đất đai

Đất đai Bình Dương rất đa dạng và phong phú về chủng loại:

+ Đất xám trên phù sa cổ, có diện tích 200.000 ha phân bố trên các huyện Dầu Tiếng, Bến Cát, Thuận An, thị xã Thủ Dầu Một. Loại đất này phù hợp với nhiều loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp, cây ăn trái.

+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ, có khoảng 35.206 ha nằm trên các vùng đồi thấp thoải xuống, thuộc các huyện Tân Uyên, Phú Giáo, khu vực thị xã Thủ Dầu Một, Thuận An và một ít chạy dọc quốc lộ 13. Đất này có thể trồng rau màu, các loại cây ăn trái chịu được hạn như mít, điều.

+ Đất phù sa Glây (đất dốc tụ), chủ yếu là đất dốc tụ trên phù sa cổ, nằm ở phía bắc huyện Tân Uyên, Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng, Thuận An, Dĩ An; đất thấp mùn Glây có khoảng 7.900 ha nằm rải rác tại những vùng trũng ven sông rạch, suối. Đất này có chua phèn, tính axít vì chất sunphát sắt và alumin của chúng. Loại đất này sau khi được cải tạo có thể trồng lúa, rau và cây ăn trái, v.v…

Khí hậu

Khí hậu ở Bình Dương cũng như chế độ khí hậu của khu vực miền Đông Nam Bộ: nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm khá cao. Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa ổn định, trong năm phân chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến cuối tháng 10 dương lịch.

Vào những tháng đầu mùa mưa, thường xuất hiện những cơn mưa rào lớn, rồi sau đó dứt hẳn. Những tháng 7,8,9, thường là những tháng mưa dầm. Có những trận mưa dầm kéo dài 1-2 ngày đêm liên tục. Đặc biệt ở Bình Dương hầu như không có bão, mà chỉ bị ảnh hương những cơn bão gần.

Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Bình Dương từ 26oC-27oC. Nhiệt độ cao nhất có lúc lên tới 39,3oC và thấp nhất từ 16oC-17oC (ban đêm) và 18oC vào sáng sớm. Vào mùa nắng, độ ẩm trung bình hàng năm từ 76%-80%, cao nhất là 86% (vào tháng 9) và thấp nhất là 66% (vào tháng 2). Lượng nước mưa trung bình hàng năm từ 1.800-2.000mm. Tại ngã tư Sở Sao của Bình Dương đo được bình quân trong năm lên đến 2.113,3mm.

Thủy văn, sông ngòi

Chế độ thủy văn của các con sông chảy qua tỉnh và trong tỉnh Bình Dương thay đổi theo mùa: mùa mưa nước lớn từ tháng 5 đến tháng 11 (dương lịch) và mùa khô (mùa kiệt) từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, tương ứng với 2 mùa mưa nắng. Bình Dương có 3 con sông lớn, nhiều rạch ở các địa bàn ven sông và nhiều suối nhỏ khác.

Sông Đồng Nai là con sông lớn nhất ở miền Đông Nam Bộ, bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên (Lâm Đồng) dài 635 km nhưng chỉ chảy qua địa phận Bình Dương ở Tân Uyên. Sông Đồng Nai có giá trị lớn về cung cấp nước tưới cho nền nông nghiệp, giao thông vận tải đường thủy và cung cấp thủy sản cho nhân dân.

Sông Sài Gòn dài 256 km, bắt nguồn từ vùng đồi cao huyện Lộc Ninh (tỉnh Bình Phước). Sông Sài Gòn có nhiều chi lưu, phụ lưu, rạch, ngòi và suối. Sông Sài Gòn chảy qua Bình Dương về phía Tây, đoạn từ Lái Thiêu lên tới Dầu Tiếng dài 143 km, độ dốc nhỏ nên thuận lợi về giao thông vận tải, về sản xuất nông nghiệp, cung cấp thủy sản. Ở thượng lưu, sông hẹp (20m) uốn khúc quanh co, từ Dầu Tiếng được mở rộng dần đến thị xã Thủ Dầu Một (200m).

Sông Thị Tính là phụ lưu của sông Sài Gòn bắt nguồn tự đồi Cam xe huyện Bình Long (tỉnh Bình Phước) chảy qua Bến Cát, rồi lại đổ vào sông Sài Gòn ở đập Ông Cộ. Sông Sài Gòn, sông Thị Tính mang phù sa bồi đắp cho những cánh đồng ở Bến Cát, thị xã, Thuận An, cùng với những cánh đồng dọc sông Đồng Nai, tạo nên vùng lúa năng suất cao và những vườn cây ăn trái xanh tốt.

Sông Bé dài 360 km, bắt nguồn từ các sông Đắc RơLáp, Đắc Giun, Đắc Huýt thuộc vùng núi tỉnh Đắc Lắc hợp thành từ độ cao 1000 mét. Ở phần hạ lưu, đoạn chảy vào đất Bình Dương dài 80 km. Sông Bé không thuận tiện cho việc giao thông đường thủy do có bờ dốc đứng, lòng sông nhiều đoạn có đá ngầm, lại có nhiều thác ghềnh, tàu thuyền không thể đi lại.

Giao thông

Bình Dương là một tỉnh có hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy rất quan trọng nối liền giữa các vùng trong và ngoài tỉnh. Trong hệ thống đường bộ, nổi lên đường quốc lộ 13 – con đường chiến lược cực kỳ quan trọng xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, chạy suốt chiều dài của tỉnh từ phía nam lên phía bắc, qua tỉnh Bình Phước và nối Vương quốc Campuchia đến biên giới Thái Lan. Đây là con đường có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự và kinh tế.

Đường quốc lộ 14, từ Tây Ninh qua Dầu Tiếng đi Chơn Thành, Đồng Xoài, Bù Đăng (tỉnh Bình Phước) xuyên suốt vùng Tây Nguyên bao la, là con đường chiến lược quan trọng cả trong chiến tranh cũng như trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước. Ngoài ra còn có liên tỉnh lộ 1A từ Thủ Dầu Một đi Phước Long (Bình Phước); Liên tỉnh lộ 13 từ Chơn Thành đi Đồng Phú, Dầu Tiếng; liên tỉnh lộ 16 từ Tân Uyên đi Phước Vĩnh; lộ 14 từ Bến Cát đi Dầu Tiếng … và hệ thống đường nối thị xã với các thị trấn và điểm dân cư trong tỉnh.

Về hệ thống giao thông đường thủy, Bình Dương nằm giữa 3 con sông lớn, nhất là sông Sài Gòn. Bình Dương có thể nối với các cảng lớn ở phía nam và giao lưu hàng hóa với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Tài nguyên rừng

Do đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm và đất đai màu mỡ, nên rừng ở Bình Dương xưa rất đa dạng và phong phú về nhiều chủng loài. Có những khu rừng liền khoảnh, bạt ngàn. Rừng trong tỉnh có nhiều loại gỗ quý như: căm xe, sao, trắc, gõ đỏ, cẩm lai, giáng hương … Rừng Bình Dương còn cung cấp nhiều loại dược liệu làm thuốc chữa bệnh, cây thực phẩm và nhiều loài động vật, trong đó có những loài động vật quý hiếm.

Hiện nay, rừng Bình Dương đã bị thu hẹp khá nhiều do bị bom đạn, chất độc hóa học của giặc Mỹ tàn phá trong chiến tranh. Trong những năm tháng chiến tranh diễn ra ác liệt, Mỹ-ngụy đã ủi phá rừng, bứng hết cây cối nhằm tạo thành những “vùng trắng”, đẩy lực lượng cách mạng ra xa căn cứ càng làm cho rừng thêm cạn kiệt. Mặt khác, sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, việc khai thác rừng bừa bãi cũng làm cho rừng bị thu hẹp.

Tài nguyên khoáng sản

Cùng với những giá trị quý giá về tài nguyên rừng, Bình Dương còn là một vùng đất được thiên nhiên ưu đãi chứa đựng nhiều loại khoáng sản phong phú tiềm ẩn dưới lòng đất. Đó chính là cái nôi để các ngành nghề truyền thống ở Bình Dương sớm hình thành như gốm sứ, điêu khắc, mộc, sơn mài …

Bình Dương có nhiều đất cao lanh, đất sét trắng, đất sét màu, sạn trắng, đá xanh, đá ong nằm rải rác ở nhiều nơi, nhưng tập trung nhất là ở các huyện: Tân Uyên, Thuận An, Dĩ An, thị xã Thủ Dầu Một.

Các nhà chuyên môn đã phát hiện ở vùng Đất Cuốc (huyện Tân Uyên) có một mỏ cao lanh lớn phân bố trên một phạm vi hơn 1km2, với trữ lượng lớn. Đất cao lanh ở đây được đánh giá là loại đất tốt, có thể sử dụng trong nghề gốm và làm các chất phụ gia cho việc sản xuất một số sản phẩm công nghiệp…

Định hướng phát triển

Định hướng phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020

Quan điểm phát triển

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020 nhằm xây dựng Bình Dương thành một tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, toàn diện đảm bảo mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, xoá đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Tập trung khai thác lợi thế về vị trí địa lý, sự hợp tác của các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cực hạt nhân phát triển là thành phố Hồ Chí Minh để phát triển kinh tế – xã hội. Chủ động hội nhập quốc tế; nâng cao hiệu quả kinh tế gắn với phát triển xã hội trên cơ sở đầu tư có trọng điểm; xây dựng mạng lưới kết cấu hạ tầng đồng bộ; phát triển công nghiệp gắn với phát triển đô thị và dịch vụ; phát triển kinh tế xã hội kết hợp chặt chẽ với bảo vệ môi trường, đảm bảo quốc phòng, an ninh vững mạnh trên địa bàn.

Mục tiêu phát triển

Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng phát triển công nghiệp, dịch vụ. Tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; chú trọng phát triển dịch vụ nhà ở, đào tạo phát triển nguồn nhân lực và chăm sóc sức khoẻ. Hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá và tạo ra sự phát triển cân đối, bền vững giai đoạn sau năm 2015;

Xây dựng Bình Dương thành một tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, toàn diện đảm bảo mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, xoá đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Các chỉ tiêu kinh tế cụ thể

– Cơ cấu kinh tế: phát triển và chuyển dịch theo hướng nâng cao tỷ trọng của các ngành công nghiệp, dịch vụ trong tổng GDP:

Năm 2010

Năm 2015

Năm 2020

Quy mô dân số (triệu người)

1,2

1,6

2,0

Thu nhập bình quân đầu người (triệu đồng/người giá so  sánh   năm 2005)

30

52

89,6

Thu nhập bình quân đầu người (USD/người quy ra USD theo giá so sánh năm 2005)

2.000

4.000

5.800

Cơ cấu kinh tế: nông, lâm, ngư nghiệp – công nghiệp – dịch vụ

4,5% -65,5% – 30%

3,4% – 62,9% – 33,7%

2,3% – 55,5% – 42,2%

– Cơ cấu lao động chuyển dịch cùng với cơ cấu kinh tế theo hướng giảm lao động làm việc trong các ngành có năng suất thấp sang các ngành có năng suất, hiệu quả cao hơn:

Năm 2010

Năm 2015

Năm 2020

Ngành nông, lâm, ngư nghiệp

20%

14%

10%

Công nghiệp – xây dựng

45%

48%

45%

Dịch vụ

35%

38%

45%

-Tốc độ tăng trưởng bình quân của các ngành, lĩnh vực (%/năm):

2011 – 2015

2016 – 2020

2006 – 2020

GDP

14,9

13

14,3

Nông, lâm nghiệp, thủy sản

3,4

3,6

3,4

Công nghiệp, xây dựng

14,5

12,3

14,5

Dịch vụ

16,5

16,1

16,0

– Kim ngạch xuất – nhập khẩu (triệu USD):

Năm 2010

Năm 2015

Năm 2020

Kim ngạch xuất khẩu

8.662

14.000

25.000

Kim ngạch nhập khẩu

7.527

10.000

15.000

Tổng cộng

16.189

24.000

25.000

Khu liên hợp Công nghiệp – Dịch vụ – Đô thị với quy mô 4200 ha đang được xây dựng

Một số chỉ tiêu văn hóa – xã hội

Năm 2010

Năm 2015

Năm 2020

Tỷ lệ thất nghiệp

Dưới 4,4%

4,2%

4%

Lao động qua đào tạo

Trên 70%

Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng

Dưới 10%

Không còn

Tuổi thọ trung bình

75

77

80

Số cán bộ y tế (CBYT)/vạn dân

27 (có 8 bác sĩ)

38 (có 15 bác sĩ)

55 (có 30 bác sĩ)

Số trường trung học cơ sở ở mỗi xã, phường

Ít nhất 1

Mật độ điện thoại (số máy/100 dân)

42

50

60

Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa

– Tỷ lệ đô thị hoá đạt 40% năm 2010, tăng lên 50% năm 2015 và đạt 75% năm 2020. Dự báo, dân số đô thị năm 2010 là 480 nghìn người, năm 2020 là 1,5 triệu người. Phấn đấu đưa tỉnh Bình Dương trở thành đô thị loại I, trực thuộc Trung ương vào năm 2020. Không gian thành phố Bình Dương kết nối với thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Biên Hoà trở thành đại đô thị của cả nước.

– Năm 2020, dự kiến toàn Tỉnh có 31 khu công nghiệp với tổng diện tích 9.360,5 ha và 23 cụm công nghiệp với tổng diện tích 2.704 ha.

Kết cấu hạ tầng kỹ thuật

– Giao thông: Phát triển giao thông đường bộ theo hướng kết nối với hệ thống quốc lộ hiện đại tầm cỡ khu vực, với sân bay quốc tế và cụm cảng biển Thị Vải – Vũng Tàu và hệ thống hạ tầng kỹ thuật khác. Tập trung phát triển các trục giao thông đường bộ từ đại lộ Bình Dương đi cửa khẩu Hoa Lư, từ đại lộ Bình Dương đi Đồng Xoài, từ đại lộ Bình Dương đi Dầu Tiếng, đường cao tốc Mỹ Phước – Tân Vạn. Phối hợp chặt chẽ với Bộ Giao thông vận tải xây dựng các trục cắt ngang: Vành đai 3, Vành đai 4, đường Thường Tân – Tân Hưng – Hưng Hòa… Đối với giao thông đường thuỷ: tiếp tục nạo vét luồng lạch sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và sông Thị Tính; cải tạo, nâng cấp và xây dựng hệ thống cảng phục vụ vận chuyển, du lịch và dân sinh.

– Cấp điện, cấp nước: Đầu tư đồng bộ nâng cấp, xây mới hệ thống cấp điện, cấp nước đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời sống nhân dân, đặc biệt là ở các khu công nghiệp và đô thị tập trung. Tốc độ tăng trưởng điện năng tăng trung bình 24%/năm giai đoạn 2006 – 2010 và giảm xuống còn 13%/năm giai đoạn 2011- 2015. Tổng nhu cầu điện năng tiêu thụ 6.700 GWh đến năm 2010 và 12.400 GWh đến 2015. Thành phần phụ tải cho sản xuất và tiêu dùng khoảng 20% thời kỳ đến 2015 và 18% thời kỳ đến 2020. Thành phần phụ tải phục vụ phát triển các ngành dịch vụ khoảng 36% thời kỳ 2006 – 2015 và ổn định 30% thời kỳ sau 2015. Đến năm 2010, ngành nước phải xử lý 247.000 m3/ngày đêm và đến năm 2020 xử lý 462.000 m3/ngày đêm. Bảo đảm 95 – 97% hộ nông thôn được dùng điện và nước sạch năm 2010 và tỷ lệ này đạt 100% vào năm 2020.

– Thông tin liên lạc: Phát triển ngành bưu chính viễn thông hiện đại, đồng bộ theo tiêu chuẩn kỹ thuật số hoá và tự động hoá nhằm bảo đảm thông tin thông suốt toàn tỉnh, gắn kết với Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

(Theo Quyết định số 81/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ)

(Nguồn trích:

http://binhduong.gov.vn

)

Gửi phản hồi

In bài viết

Đầu trang

Quay trở về

CÁC TIN KHÁC

Giới Thiệu Về Chùa Thiên Mụ

Cố đô Huế là một trong những giới thiệu về địa điểm du lịch nổi tiếng của Việt Nam hàng năm thu hút rất nhiều du khách trong và ngoài nước. Đến du lịch Đà Nẵng – Huế, du khách không chỉ được tham quan những thắng cảnh nơi đây mà còn được chiêm ngưỡng và tìm hiểu những nét kiến trúc văn hóa, lịch sử đi cùng năm tháng mà điển hình trong số đó là đệ nhất cổ tự Chùa Thiên Mụ. Bài viết này, Saigon Star Travel sẽ để giúp bạn có thêm những thông tin bổ ích cho chuyến đi sắp tới của mình. Chùa Thiên Mụ

Đôi nét giới thiệu về chùa Thiên Mụ

Địa chỉ chùa Thiên Mụ: Đường Nguyễn Phúc Nguyên, Hương Hòa, Thành phố Huế

Chùa Thiên Mụ hay còn gọi là chùa Linh Mụ là một ngôi chùa cổ nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương , cách trung tâm thành phố Huế ( Việt Nam ) khoảng 5 km về phía tây, chùa Thiên Mụ nằm giữa một không gian non nước hữu tình, đã từng là nguồn cảm hứng của bao tác phẩm thi ca nhạc họa. Vẻ đẹp của ngôi chùa được tạo nên từ sự hòa quyện giữa giá trị lịch sử, tâm linh và giá trị văn hóa nghệ thuật độc đáo. Chùa Thiên Mụ được vua Thiệu Trị xếp vào diện “Thần Kinh Nhị Thập Cảnh”.

Chùa Thiên Mụ được xây dựng thêm một ngôi tháp bát giác có tên là Từ Nhân, sau đổi thành Phước Duyên. Tháp được xây ở trước chùa có chiều cao 21m, gồm 7 tầng và mỗi tầng đều có thờ tượng Phật, riêng tầng trên cùng có một pho tượng Phật bằng vàng. Tháp Phước Duyên là kiến trúc gắn liền với chùa Thiên Mụ.

Chùa Thiên Mụ được xếp vào hai mươi thắng cảnh đất Thần Kinh với bài thơ “Thiên Mụ chung thanh” do đích thân vua Thiệu trị sáng tác và được ghi vào bia đá dựng gần cổng chùa. Năm 1862, dưới thời vua Tự Đức, để cầu mong có con nối dõi, nhà vua sợ chữ “Thiên” phạm đến Trời nên cho đổi từ “Thiên Mụ” thành “Linh Mụ” (Bà mụ linh thiêng). Mãi đến năm 1869, vua mới cho dùng lại tên Thiên Mụ như trước. Bởi vậy trong dân gian, người ta vẫn dùng cả hai tên khi muốn nhắc đến chùa này.

Truyền thuyết kể rằng, khi chúa Nguyễn Hoàng vào làm Trấn thủ xứ Thuận Hóa kiêm trấn thủ Quảng Nam, ông đã đích thân đi xem xét địa thế ở đây nhằm chuẩn bị cho mưu đồ mở mang cơ nghiệp, xây dựng giang sơn cho dòng họ Nguyễn sau này. Trong một lần rong ruổi vó ngựa dọc bờ sông Hương ngược lên đầu nguồn, ông bắt gặp một ngọn đồi nhỏ nhô lên bên dòng nước trong xanh uốn khúc, thế đất như hình một con rồng đang quay đầu nhìn lại, ngọn đồi này có tên là đồi Hà Khê.

Người dân địa phương cho biết, nơi đây ban đêm thường có một bà lão mặc áo đỏ quần lục xuất hiện trên đồi, nói với mọi người: “Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập chùa để tụ linh khí, làm bền long mạch, cho nước Nam hùng mạnh”. Vì thế, nơi đây còn được gọi là Thiên Mụ Sơn

Tư tưởng lớn của chúa Nguyễn Hoàng dường như cùng bắt nhịp được với ý nguyện của dân chúng. Nguyễn Hoàng cả mừng, vào năm 1601 đã cho dựng một ngôi chùa trên đồi, ngoảnh mặt ra sông Hương, đặt tên là “Thiên Mụ”.

Du lịch Chùa Thiên Mụ, đến đây du khách sẽ thấy quần thể nhiều công trình kiến trúc đẹp mắt và bề thế, trong đó nổi bật là Đại điện Hùng Chùa Thiên Mụ – ngôi chính điện có kiến trúc đồ sộ nguy nga. Trong điện, ngoài những tượng phật bằng đồng sáng chói, còn có treo một khánh đồng được đúc năm 1677 và một bức hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng, do tự tay chúa Nguyễn Phúc Chu đề tặng vào năm 1714.

Từ sân chùa nhìn xuống là dòng sông Hương lững lờ trôi nhẹ nhàng giữa vùng trời nước mênh mông thăm thẳm. Những chiếc thuyền neo đậu hiền hòa dưới bến, chờ đợi những người khách đang viếng thăm chùa. Những hàng thông ba lá của xứ ôn đới kỳ lạ lại luôn tỏa một màu xanh tươi mát ở đây, xõa bóng xuống che các khoảng sân chùa mát rượi. Đến viếng chùa là quên hết mệt nhọc, nóng bức hay đường xa.. Đến đây, chỉ còn sự thanh bình, thư thái, mát dịu trong tâm hồn.

Quá trình trùng tu chùa Thiên Mụ

Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm Tân Sửu (1601), đời chúa Tiên Nguyễn Hoàng – vị chúa Nguyễn đầu tiên ở Đàng Trong. Dưới các đời chúa Nguyễn, chùa Thiên Mụ Huế đã trải qua nhiều đợt tu sửa lớn, trong đó, nổi bật nhất là cuộc trùng tu dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu ( 1691 – 1725 ). Vào năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc một chiếc chuông lớn, nặng tới trên hai tấn, gọi là Đại Hồng Chung, có khắc một bài minh trên đó. Đến năm 1714, ông còn cho đại trùng tu chùa với hàng chục công trình kiến trúc hết sức quy mô như điện Thiên Vương, điện Đại Hùng, nhà Thuyết Pháp, lầu Tàng Kinh, phòng Tăng, nhà Thiền… mà nhiều công trình trong số đó ngày nay không còn nữa.

Với cảnh đẹp tự nhiên và quy mô được mở rộng ngay từ thời đó, chùa Thiên Mụ đã trở thành ngôi chùa đẹp nhất xứ Đàng Trong. Trải qua bao biến cố lịch sử, chùa Thiên Mụ đã từng được dùng làm đàn Tế Đất dưới triều Tây Sơn (khoảng năm 1788 ), rồi được trùng tu tái thiết nhiều lần dưới triều các vua nhà Nguyễn

Ý nghĩa Chùa Thiên Mụ đối với người dân Huế

Chùa Thiên Mụ như một chứng nhân lịch sử diễn ra trên đôi bờ sông Hương. Ngôi chùa vẫn luôn tồn tại trong tâm thức người dân Huế nói riêng và đời sống văn hóa người Việt Nam nói chung. Mặc dù không có nhiều tượng Phật như các chùa khác nhưng nhìn tổng quan, khuôn viên chùa như một cung điện, dinh thự của các bậc vua chúa, quan lại xứ Huế ngày xưa. Vãn cảnh chùa, du khách như đang đi vào không gian của trăm năm, thanh tịnh và thơ mộng. Khách bước qua khỏi cổng chùa đã thấy lòng lắng lại, tĩnh tâm, bỏ lại đằng sau những phiền muộn, lo âu.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Mẫu Câu Giới Thiệu Bản Thân Khi Học Tiếng Đức trên website Welovelevis.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!