Đề Xuất 1/2023 # Phân Tích Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Chi Tiết Nhất # Top 3 Like | Welovelevis.com

Đề Xuất 1/2023 # Phân Tích Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Chi Tiết Nhất # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Phân Tích Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Chi Tiết Nhất mới nhất trên website Welovelevis.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. Mở bài phân tích Ai đã đặt tên cho dòng sông

1. Tác giả

– Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những cây bút viết kí xuất chúng của văn học Việt Nam giai đoạn hiện đại.

Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường

2.Tác phẩm

– “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một trong rất nhiều tác phẩm nổi bật cho phong cách kí của tác giả. Tác phẩm ca ngợi những vẻ đẹp riêng dòng sông Hương chảy qua xứ Huế bằng góc nhìn đầy tinh tế với thiên nhiên và con người để thấy hết tầm trí tuệ với những kiến thức uyên thâm về lịch sử, văn hóa phong phú, đa dạng và cả tâm hồn đậm chất thơ.

II. Thân bài phân tích Ai đã đặt tên cho dòng sông

1. Phân tích chất trí tuệ tinh thông của tác giả:

– Viết về dòng sông Hương xứ Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện trong chất thơ của ông sự hiểu biết rộng lớn về thế giới xung quanh trong nhiều lĩnh vực: văn hóa, văn học, lịch sử, địa lí và nghệ thuật… Nhà văn đã cung cấp cho người đọc nguồn thông tin phong phú, thú vị để hiểu sâu sắc hơn về sông Hương, về vẻ đẹp thiên nhiên cùng con người xứ Huế.

* Vẻ đẹp sông Hương về địa lý:

– Hành trình của dòng sông: nhan đề “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” gây tò mò cho người đọc với câu hỏi về nguồn gốc dòng sông và khi đi dọc theo quá trình đi khám phá dòng sông, tác giả cũng tìm thấy được cội nguồn của sông Hương:

Thiên nhiên và con người xứ Huế gắn bó cùng nhau Sông Hương chiều tà

+ Thiên nhiên cùng dòng sông luôn đồng hành, gắn bó, gần gũi với con người. Tính cách con người xứ Huế được thể hiện qua dòng chảy sông Hương: mềm mại, chí tình, “mãi mãi chung tình với quê hương xứ xở”.

* Vẻ đẹp của sông Hương hiện lên từ góc nhìn lịch sử:

– Với góc nhìn lịch sử, dòng sông Hương lại không còn là một cô gái “Di – gan man dại”, cũng không còn là “người đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa” mà đã trở thành một chứng nhân lịch sử với những biến chuyển lớn của non sông. Sông Hương như “sử thi viết giữa màu xanh cỏ lá xanh biếc”

* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn văn hóa:

2. Chất thơ của một ngòi bút tài hoa:

– Chất thơ được toát ra từ chính những hình ảnh xinh đẹp, ấn tượng nhất giàu chất nghệ thuật: “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”, “lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ…” ; qua cách so sánh liên tưởng gợi cảm: “Chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời nhỏ nhắn như những vầng trăng non”. – Chất thơ được cảm nhận ngay từ nhan đề bài kí gợi nét âm vang, trầm lắng của dòng sông: – Chất thơ còn được điểm tô thêm ca dao, lời thơ Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan.

“Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

Soạn bài Ai đã đặt tên cho dòng sông

Phân tích bài Vợ chồng A Phủ

Soạn bài Vợ chồng A Phủ

III. Kết bài phần phân tích Ai đã đặt tên cho dòng sông

1. Giá trị nghệ thuật

2. Giá trị nội dung

Cảm Nhận Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông

Gia sư anh văn tphcm nhận thấy trên dải đất cong cong, mềm mại này có biết bao nhiêu dòng sông cho thi nhân xúc cảm sinh tình, cho con người chiêm ngưỡng yêu thương và suy tưởng về nguồn cội, cho tuổi thơ trong trẻo, hồn nhiên ngâm mình trong dòng nước mát. Trong đời, ai cũng chọn cho mình một dòng sông để lưu giữ một phần kí ức, niềm nhớ thương về quê hương, xứ sở. Tế Hanh đi xa mà lòng đau đáu “nhớ con sông quê hương” biếc xanh, có gương soi trong bóng “những hàng tre”, Nguyễn Khắc Hiếu cung kính lấy tên sông đặt cho một nửa tên nghệ danh của mình; Nguyễn Tuân gọi sông Đà là cố nhân. Lại nhớ Nguyễn Khoa Điềm cảm khái: “Ôi, những dòng sông bắt nước từ đâu/ Mà khi về Đất Nước mình thì cất lên thành câu hát”. Với Hoàng Phủ Ngọc Tường nỗi hoài niệm quê hương của ông gửi gắm trong dòng sông Hương, cảm xúc thể hiện rất nhẹ nhàng trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông”.

Các trung tâm gia sư uy tín tại tphcm thấy bài kí được viết tại Huế tháng 1/1981, trích từ tập kí cùng tên. Ta gặp nơi đây là niềm yêu nước sâu đậm với tình yêu thiên nhiên tha thiết trong dòng chảy miên man của lịch sử, của văn hóa dân tộc. Ông đã cố gắng tìm tòi, tích lũy một cách say mê và đầy trân trọng, cố gắng truyền đạt bằng ngòi bút tinh hoa với lời văn thật đẹp nhưng vô cùng sâu thẳm. Tác phẩm ca ngợi vẻ đẹp sông Hương, thiên nhiên và con người xứ Huế với những trang văn “vừa giàu chất trí tuệ, vừa giàu chất thơ, nội dung thông tin về văn hóa, lịch sử phong phú”.

Bài bút kí cũng chảy như một dòng sông theo mạch cảm xúc và suy tư của tác giả. Sông Hương được miêu tả như một cá thể sống động, như người con gái đẹp với từ ngữ gợi cảm, diễn tả tình yêu say đắm của con người với dòng sông: “Sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”. Sông Hương khi về đồng bằng đã thay đổi tính cách, sông như: “đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình” để “nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng, trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một nền văn hóa xứ sở”.

Những trung tâm gia sư uy tín ở tphcm thấy với liên tưởng kì thú, diễm tình, tác giả ví ống Hương như một người con gái đẹp nằm ngủ mơ màng được đánh thức bởi người tình mong đợi. Những câu văn đẹp đầy màu sắc ấn tượng: “Sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn”, “sắc nước trở nên xanh thẫm”, “nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách”, “dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé bằng con thoi.”

Ngoại vi phố Huế, sông Hương lại có vẻ đẹp trầm mặc như những rừng thông u tịch và những lăng tẩm đồ sộ phong kín niềm kiêu hãnh âm u. Đoạn tả sông Hương vào thành phố, tác giả tạo nên những hình ảnh ấn tượng: “chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn nhưng những vành trăng non”, “sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ”. Văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường giàu chất nhạc: “Điệu nhạc chảy lặng lờ của nó khi ngang qua thành phố… Đó là điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”. Những câu văn trải dài, uyển chuyển, du dương mà tự nhiên, nhuần nhị như dòng sông, dòng nhạc đẹp.

Trung tâm gia sư tphcm được biết Đinh Xuân Lạc từng nhận xét: “Bài bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường đầy chất liệu quý, thể hiện một vốn sống, vốn văn hóa phong phú, nhất là về Huế. Nhưng nếu chỉ có thế, bài bút kí sẽ không hơn một bài báo và nó sẽ nhanh chóng qua đi trong tâm trí người đọc. Bài bút kí này còn ngân mãi vì nó đầy chất thơ. Chất thơ ấy gắn liền với nhiều yếu tố, bắt đầu từ nhiều nguồn, nhưng yếu tố quan trọng nhất, nguồn lớn lao nhất là tình yêu tha thiết với dòng sông, với Huế, với đất nước của tác giả”.

Sông Hương là dòng sông sống như thế kỉ vnh quang với nhiệm vụ lịch sử và thẩm mĩ. Trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” Hoàng Phủ Ngọc Tường khẳng định: “dòng sông ấy không bao giờ tự lập lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ”. Sức sống của vẻ đẹp sông Hương và thiên bút kí này hẳn sẽ miên viễn vì cái tình quá đỗi thẳm sâu và cây bút tài hoa của người nghệ sĩ.

Tham khảo từ khóa tìm kiếm bài viết từ google :

cảm nhận ai đã đặt tên cho dòng sông

cảm nghĩ ai đã đặt tên cho dòng sông

cảm nhận bài ai đã đặt tên cho dòng sông

cảm nhận về ai đã đặt tên cho dòng sông

bình giảng ai đã đặt tên cho dòng sông

Các bài viết khác…

Phân Tích Hình Ảnh Trữ Tình, Thơ Mộng Của Dòng Sông Việt Nam Qua Hai Bài Tùy Bút Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân Và Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Của Hoàng Phủ Ngọc Tường

[Văn mẫu học sinh] Phân tích hình ảnh trữ tình, thơ mộng của dòng sông Việt Nam qua hai bài tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường

1)

Mở bài:

_ Nêu vấn đề nghị luận: vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của dòng sông Việt Nam qua “Người lái đò Sông Đà” và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”.

2) Thân bài: 2.1. Luận điểm 1: Khái quát về tác giả, tác phẩm. Tác giả Nguyễn Tuân và “Người lái đò Sông Đà”.

*Tác giả:

_Nguyễn Tuân là nhà văn lớn của văn học hiện đại Việt Nam, sáng tác trong cả hai thời kì trước và sau Cách mạng với những phong cách khác nhau.

_trước Cách mạng, Nguyễn Tuân xoay quanh ba đề tài là chủ nghĩa “xê dịch”, “thiếu quê hương” và “đời sống trụy lạc”.

_sau Cách mạng, tập trung ca ngợi con người và thiên nhiên.

_ông có đóng góp lớn cho nền văn học nước nhà với phong cách nghệ thuật độc đáo.

*Tác phẩm:

_đoạn trích “Người lái đò Sông Đà” in trong tập tùy bút “Sông Đà”.

_là thành quả của chuyến đi thực tế của nhà văn vào những năm 1959-1960 tại Tây Bắc.

_tùy bút thể hiện tình yêu, niềm tự hào của Nguyễn Tuân dành cho thiên nhiên, con người Tây Bắc.

Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

*Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường.

_là nhà văn chuyên viết về bút kí.

_lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm, tài hoa, uyên bác và có vốn hiểu biết, vốn kiến thức phong phú trên nhiều lĩnh vực.

*Tác phẩm.

_được hoàn thành ngày 4/1/1981 khi nhà văn sống bên bờ sông Hương, trong lòng thành Huế hơn bốn mươi năm.

_được in trong tập bút kí cùng tên vào năm 1986.

2.2. Luận điểm 2: Hình ảnh dòng sông trữ tình, thơ mộng trong “Người lái đò sông Đà”. Sông Đà trữ tình, thơ mộng qua dáng vẻ.

_Sông Đà hiện ra như người thiếu nữ duyên dáng với hình ảnh so sánh độc đáo, câu văn trùng điệp nhiều tầng lớp, âm hưởng nhẹ nhàng.

_những gì thuộc về Sông Đà đều mang vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng:

+nước Sông Đà thay đổi theo mùa và màu sắc không giống như những dòng sông khác trên đất nước ta.

+ hai bên bờ sông hoang dại như mang nỗi niềm cổ tích từ ngàn xưa.

+trên bờ sông có hình ảnh con nai ngơ ngác

+trên mặt nước có hình ảnh con cá dầm xanh quẫy vọt.

Sông Đà trữ tình, thơ mộng qua tâm hồn.

_vẻ đẹp của người cố nhân

Ý nghĩa của vẻ đẹp trữ tình thơ mộng của dòng sông và ý nghĩa của hình tượng Sông Đà.

_vẻ đẹp trữ tình là nét bút nhẹ nhàng, tinh tế của người nghệ sĩ đang đắm mình trong bức tranh thiên nhiên, cảnh vật.

_là tiếng nói nội tâm lãng mạn của chính tác giả.

_thể hiện lòng yêu nước của nhà văn.

2.3. Luận điểm 3: Hình ảnh dòng sông trữ tình, thơ mộng trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” được gợi tả chủ yếu qua góc nhìn địa lí và góc nhìn văn hóa. Vẻ đẹp từ góc nhìn địa lí: thủy trình của sông Hương được tái hiện ở ba chặng.

_sông Hương giữa núi rừng Trường Sơn.

+như một bản trường ca của rừng già.

+cô gái Di- gan phóng khoáng và man dại.

+người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở.

_sông Hương trong không gian Châu Thổ, Châu Hóa.

+vẻ đẹp của một người con gái đẹp: chuyển mình liên tục, uốn mình theo những đường cong mềm mại.

+vẻ đẹp của Hương giang rất mực đa dạng: có khi sắc nước trở nên xanh thẳm, có khi trở nên mềm như tấm lụa, có khi mang vẻ đẹp trầm mặc.

_sông Hương trong không gian kinh thành Huế.

+bắt đầu đi vào thành phố: được so sánh với “người tình vui tươi và duyên dáng”.

+trong lòng thành phố: điệu slow dành riêng cho Huế và được đặt trong trường liên tưởng so sánh với những con sông khác trên thế giới.

+rời khỏi thành phố: mang vẻ đẹp của “người tình dịu dàng và thủy chung”.

Vẻ đẹp từ góc nhìn văn hóa được chứng minh qua âm nhạc, thi ca và huyền thoại.

_dòng sông của thi ca bởi nó khơi gợi cảm hứng cho tâm hồn bao người nghệ sĩ.

_dòng sông của âm nhạc: được so sánh với nàng Kiều xinh đẹp, tài sắc trong thơ Nguyễn Du.

_dòng sông của huyền thoại: bắt nguồn từ tên gọi của sông Hương đã gắn với những dấu ấn riêng biệt.

2.4. Luận điểm 4: vẻ đẹp của dòng sông Việt Nam qua vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà và sông Hương.

_hai dòng sông đại diện cho hàng nghìn con sông trên khắp đất nước với những vẻ đẹp đa dạng.

_vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của dòng sông cũng chính là biểu trưng của vẻ đẹp thiên nhiên, con người Việt Nam.

_vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của dòng sông Việt Nam đều được cảm nhận bằng trái tim co người Việt Nam nặng lòng vơi quê hương, đất nước như “Bên kia Sông Đuống” của Hoàng Cầm, dòng sông Kinh Thầy đi vào trang thơ của Trần Đăng Khoa.

3. Kết bài:

Khẳng định vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của hai dòng sông: sông Đà và sông Hương Giang, khơi gợi tự hào, trân trọng với dòng sông trên quê hương, đất nước Việt Nam.

Nhà văn Nguyễn Tuân là tên tuổi lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Ông là người trí thức yêu nước, giàu tinh thần dân tộc và rất mực tài hoa, uyên bác. Sáng tác văn chương của Nguyễn Tuân luôn có sự chuyển mình rất tích cực theo biến chuyển của thời đại. Nếu trước Cánh mạng, ngòi bút của ông hướng đến ba đề tài lớn là “thiếu quê hương”, “chủ nghĩa xê dịch”, đời sống trụy lạc thì sau Cách mạng, tác phẩm của Nguyễn Tuân trở nên phong phú hơn với đề tài về ngợi ca thiên nhiên, con người, đất nước Việt Nam.

Tùy bút “Người lái đò Sông Đà” được trích từ tập “Sông Đà”- tác phẩm kí thành công bậc nhất của nhà văn Nguyễn Tuân và cũng gắn với nhiều kỉ niệm của ông. Đó là thành quả chuyến đi thực tế của nhà văn vào những năm 1959,1960. Ông lên Tây Bắc để khám phá thiên nhiên, con người nơi đây, tìmkiếm thứ vàng mười đã qua thử lửa. Và ấn tượng sâu đậm mà bút kí Sông Đà cùng tùy bút Sông Đà để lại trong lòng bạn đọc là một dòng sông hung bạo nhưng cũng rất đỗi trữ tình dưới đôi tay chèo điệu nghệ.

Còn tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn chuyên về bút kí. Ông có lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm,tài hoa, kiến thức phong phú về nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa tư duy đa chiều với nghị luận sắc bén, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã mang đến cho bạn đọc nhiều tác phẩm đặc sắc. Các tác phẩm bút kí chính của ông phải kể đến: “Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu”, “Rất nhiều ánh lửa” và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”.

“Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một trong số những tập bút kí xuất sắc của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Bút kí ban đầu vốn có nhan đề “Hương ơi e phải mày chăng?” được tác giả hoàn thành ngày 4/1/1981 khi nhà văn sống bên bờ sông Hương, trong thành phố Huế hơn bốn mươi năm. Tình yêu sông Hương, xứ Huế thơ mộng đã vun đắp trong ông tình cảm để viết những trang kí đẹp về sông Hương, xứ Huế.

Sau những trang viết về một Sông Đà hung bạo, nhà văn Nguyễn Tuân mở ra trước mắt ta hình ảnh con sông trữ tình, thơ mộng như một sinh thể sống với sự thơ mộng, trữ tình qua dáng vẻ và qua tâm hồn. Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của Sông Đà mang theo màu sắc huyền ảo, ẩn chứa những gì thơ mộng, tinh túy nhất của nơi thiên nhiên núi rừng Tây Bắc hoang dại.

Dáng vẻ của Sông Đà là vẻ đẹp bên ngoài của dòng sông mà bạn đọc dễ dàng bắt gặp khi đến với Sông Đà, khi tìm về mảnh đất Tây Bắc. Dòng sông được so sánh với người thiếu nữ mang vẻ đẹp kiều diễm “Con Sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Cách so sánh của Nguyễn Tuân rất độc đáo, duyên dáng khi nhìn dòng sông như một mái tóc mềm mại sinh thể sống sống động đến từng chi tiết. Từ “áng” làm câu văn tăng thêm tính thẩm mĩ bởi nó là thường được dùng trong cụm “áng văn, áng thơ”. Ví von dòng sông như “áng tóc trữ tình” quả là cảm nhận tinh tế của nhà văn khiến ai cũng phải yêu phải quý. Nguyễn Tuân còn không quên khẳng định vẻ đẹp của Sông Đà cũng mang đậm hơi thở của cái đẹp nơi thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc với những hoa ban, hoa gạo, mù khói núi Mèo. Trong cả một câu văn, nhà văn chỉ dùng hai dấu ngắt câu, có lẽ là bởi dòng cảm xúc trong Nguyễn Tuân đã dâng trào mãnh liệt khi bắt gặp khung cảnh tuyệt đẹp đó. Một sự biến chuyển đầy tinh tế từ những dữ dội, hiểm nguy đến vẻ dịu dàng, e ấp của người thiếu nữ Tây Bắc- dòng Sông Đà. Tất cả đều trở nên hợp lí, tinh tế dưới ngòi bút tài hoa của nhà văn.

Khám phá nét đẹp trữ tình, thơ mộng của dòng sông vốn hung bạo. Tưởng chừng đó là một thách thức, nhưng thách thức ấy cũng trở nên êm đẹp dưới tài hoa của người nghệ sĩ chân chính. Ông phát hiện được những vẻ đẹp đa dạng của Sông Đà và với bản thân tác giả, những gì thuộc về Sông Đà đều khoác trên mình cái đẹp trữ tình, thơ mộng. Đó là những lời văn khẳng định về nét riêng của nước Sông Đà. Đặt Sông Đà trên bình diện so sánh với nhiều dòng sông khác trên đất nước ta. Điều mà tác giả muốn khẳng định đâu phải sự “trên cơ”. Nguyễn Tuân rất nhẹ nhàng để bạn đọc nhìn được nét riêng của dòng sông. Nước Sông Đà không đục ngầu, mỗi mùa lại có những vẻ đẹp rất riêng cho sắc nước Sông Đà: mùa xuân dòng sông xanh ngọc bích, mùa thu thì lừ lừ chín đỏ…Tác giả so sánh ví von rất triệt để và minh oan cho dòng sông. Sông Đà chưa bao giờ đen, xấu xí như thực dân Pháp từng vu oan. Dường như khám phá của nhà văn không chỉ dừng lại ở hình ảnh nước sông. Ông còn hướng ánh nhìn và ngòi bút của mình để phát hiện đến tận cùng của cái đẹp để khám phá ra vẻ đẹp rất đỗi nên thơ của con sông: Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Nhà văn Nguyễn Tuân đã dùng rất nhiều so sáng trong bài viết của mình. Ông tinh tế khi nhìn ngắm cái tĩnh lặng của khung cảnh Sông Đà. Ông khơi gợi trong bạn đọc bao hoài niệm dù chưa một lần đặt chân đến Tây Bắc. Nó quen thuộc vì ta đã bắt gặp nó đâu đó trong những câu chuyện cổ tích. Bên bờ sông còn thơ mộng bởi hình ảnh con nai ngơ ngác nghe tiếng còi.Trong cái lặng tờ, yên ả của cảnh vật, tiếng còi xé tan không gian yên tĩnh và làm con người, cảnh vật thức tỉnh với sức sống tươi mới.

Và có lẽ người ta càng thêm yêu bởi Sông Đà đã trở thành kí ức sâu đậm. Sông Đà được ví như một người cố nhân. Người cố nhân- người bạn cũ đã từng chứng kiến những vui buồn trong đời ta. Giống như bao người bạn khác, Sông Đà đã trở thành người bạn yêu thương của hiện tại, cố nhân của người đi xa để dù đi đâu ai cũng thương, cũng nhớ.

Ngòi bút ngông tài hoa của Nguyễn Tuân đã cho bạn đọc một góc nhìn mới lạ hơn về Sông Đà. Những thủ pháp so sánh, liệt kê đã trở thành trợ thủ đắc lực để ngòi bút Nguyễn Tuân tung hoành và thỏa sức sáng tạo. Sông Đà trữ tình, thơ mộng cũng chính là vẻ đẹp biểu trưng cho thiên nhiên Tây Bắc và là lời mời gọi thiết tha mọi người một lần đến ngắm nhìn dòng sông đẹp nên thơ. Nguyễn Tuân gửi vào từng câ chữ của mình là tâm tư, tình cảm trân trọng cho cảnh sắc tươi đẹp của thiên nhiên, đất nước Việt Nam.

Một Sông Đà trữ tình, thơ mộng qua dáng vẻ, qua tâm hồn đã làm say lòng bạn đọc dưới ngòi bút Nguyễn Tuân. Nhưng khi đến với Hoàng Phủ Ngọc Tường với trang bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông”, người đọc còn được khám phá một dòng Hương giang thơ mộng, trữ tình không kém. Vẻ đẹp trữ tình của sông Hương được tái hiện rất rõ nét và hệ thống qua từng chặng đường nó đi qua và trên nhiều góc nhìn của nhà văn. Trong mỗi góc nhìn, sông Hương lại khoác lên mình nó tấm áo đẹp riêng để thể hiện cái tôi, cái tài hoa của cây bút hướng nội Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Sông Hương được gắn với điểm nhìn đầu tiên là từ góc nhìn địa lí. Đây cũng là điểm nhìn mà tác giả tập trung khai thác hơn cả trong toàn bài bút kí đi tìm cội nguồn của cái tên: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. Sông Hương được minh chứng cho vẻ đẹp của mình ngay khi nó còn nằm trong không gian núi rừng Trường Sơn. Sông Hương được so sánh “như một bản trường ca của rừng già”. Dòng sông đẹp một cách hùng vĩ qua cách miêu tả của tác giả “rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác và cuộn xoáy như cơn lốc vào đáy vực sâu thẳm”. Nhưng nó cũng rất đỗi trữ tình “dịu dàng và say đắm khi đi qua những rặng dài chói loại màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Đến một điểm nhìn khác là giữa lòng Trường Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường nhân hóa sông Hương “cô gái di gan phóng khoáng và man dại”. Hình ảnh cô gái Di- gan đã cho thấy cái nhìn mới mẻ, độc đáo của tác giả. Sông Hương trong mắt nhà văn là một sinh thể sống tự do, mạnh mẽ, có cá tính, tâm hồn riêng như cô gái Di- gan. Phải rất kỳ công trong khám phá, tinh tế trong cảm nhận thì ông mới phát hiện được cái riêng biệt của người con gái ấy. Nhưng như vậy thôi chưa đủ, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn tìm tòi và hướng ngòi hút của mình tới cả những chỗ khuất lấp nhất của dòng sông ấy để viết lên câu chữ đặc sắc. Sông Hương- người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở. Lúc này, con sông mang theo vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ bởi lẽ “quãng sông này đã hết ghềnh thác”. Nó mang vẻ dịu hiền của người mẹ và ngày ngày góp phần bồi đắp văn hóa cho người dân sống hai bên bờ sông và xứ Huế. Sông Hương đã góp công to lớn để hình thành, bảo tồn và giữ gìn văn hóa xứ Huế. Dòng sông là người mẹ ngày đêm lặng lẽ, âm thầm cống hiến tạo nên cái đẹp riêng mộng mơ của Huế.

Sông Hương tiếp tục được khám phá ở nhiều nét đẹp trong không gian cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại. Trước hết, nhà văn so sánh “Nó là người gái đẹp nằm ngủ mơ màng”. Người gái đẹp ấy mang vẻ đẹp gợi cảm và đang phô khoe nét đẹp của mình khi chuyển dòng liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm. Và những chướng ngại vật cản trở như núi Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo đã tạo cơ hội giúp Hương Giang phô khoe những đường cong mềm mại. Bên cạnh đó, người đọc còn được biết đến nét đẹp đa dạng của con sông với những biến chuyển màu sắc lạ mắt. Có khi các nước trở nên xanh thẳm khi đi qua dư vang của Trường Sơn, sự in bóng của những hàng cây đại ngàn tạo màu xanh cho mặt nước. Còn lại những quãng sông êm đềm, nó trở nên mềm như tấm lụa. Vẻ đẹp đa dạng ấy còn được minh chứng qua sự biến màu của mặt nước: sớm xanh, trưa vàng, chiều tím. Một loạt hình ảnh liệt kê mang đến bao khám phá về vẻ đẹp của dòng sông. Không chỉ rực rỡ, nổi bật, Hương giang còn quyện mình vào cái lặng tờ và trầm mặc của không gian. Nó mang vẻ đẹp trầm mặc đi qua những lăng tẩm ở rừng thông u tịch, nhưng rồi lại bừng sáng và tươi tắn khi nghe thấy âm thanh của thành phố, của tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà. Cuộc hành trình sông Hương thực sự trở thành hành trình đi tìm người yêu của người gái đẹp, phô khoe và hoàn thiện vẻ đẹp của mình để đến với người yêu: tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, Thúy Kiều và Kim Trọng.

Trải qua bao chặng đường, Hương Giang đã đến được với người yêu: không gian kinh thành Huế. Khi mới bắt đầu vào thành phố thân yêu, sông Hương được so sánh với “người tình vui tươi và duyên dáng”. Nó rạo rực khi thấy dấu hiệu của thành phố với những bờ bãi xanh biếc và chiếc cầu trắng như vầng trăng non. Những hình ảnh hiện ra tức khắc ấy cũng có cái e ấp của mối tình chớm hé nơi người con gái đẹp. Và người con gái ấy cũng làm duyên, làm dáng lần cuối trước khi gặp mặt người yêu: uốn một cánh cung rất nhẹ sang Cồn Hến. Và khi được ở trong vòng tay người yêu, con sông như luyến tiếc nên dành tặng một điệu slow dành riêng cho Huế. Nó chảy với lưu tốc chậm đến mức mà Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm nhận “cơ hồ chỉ còn là mặt hồ yên tĩnh”. Để nhấn mạnh độ chảy chậm rãi của Hương giang, nhà văn đã đặt nó trong thế đối sánh với sông Nêva “chảy nhanh đến mức làm lũ hải âu muốn nói một câu với người bạn của mình cũng không kịp”. Vì vật mà ông càng thêm yêu quý điệu chảy ngập ngừng. lặng tờ muốn đi muốn ở của dòng sông quê mình. Chúng ta cũng đã từng bắt gặp nét riêng lặng tờ ấy của Hương giang trong những vần thơ của Tố Hữu.

Hương giang ơi dòng sông êm Con tim ta ngày đêm vẫn tự tình.

Đến cách mà nhà văn lí giải về sự chậm ấy của dòng sông cũng không hoàn toàn theo cái nhìn chủ quan. Hoàng Phủ Ngọc Tường lí giải vận tốc chậm ấy trước hết là do địa lí tự nhiên: ở Huế có nhiều chi lưu làm giảm vận tốc nước cùng với hai hòn đảo nhỏ ở giữa sông ngăn cản dòng chảy. Nhưng theo lí lẽ của trái tim nhà văn thì sông Hương dành quá nhiều tình cảm cho Huế nên không muốn rời xa, muốn nằm mãi trong lòng người yêu. Dù có luyến tiếc thì Hương giang vẫn phải nói lời từ biệt người yêu, rời xa thành phố song con tim vẫn mãi là ” người tình dịu dàng và chung thủy”. Tưởng như sẽ mãi rời xa song sự am hiểu của tác giả đã giúp người đọc biết đến quãng đường đẩy đưa qua lại của dòng sông, rùng rằng nửa đi nửa ở. Sông Hương rời khỏi kinh thành, chếch về hướng chính bắc rồi lại uốn mình theo hướng tây đông và gặp Huế lần cuối ở thị trấn Bao Vinh cổ xưa. Người con gái lưu luyến người yêu và bịn rịn giờ phút chia tay.

Sông Hương càng thêm thi vị khi được nhà văn đặt dưới góc nhìn văn hóa. Con sông tình yêu càng thêm lung linh bởi âm nhạc, thi ca và huyền thoại. Sông Hương được so sánh “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya” bởi điệu chảy của nó rất phù hợp với những đêm nhạc và đây cũng là nơi sinh thành nền âm nhạc dân gian và cung đình Huế. Như một nàng Kiều, sông Hương có cả tài và sắc. Đồng thời, dòng sông thân thương ấy còn là dòng sông của thi ca. Nó là “nàng thơ” gợi cảm hứng cho biết bao tâm hồn thi sĩ và chưa bao giờ lặp lại mình trong những trang viết. Với mỗi người, sông Hương lại gợi cảm, lại đẹp theo một cách riêng. Phải chăng vì lẽ đó mà nó được biết là dòng sông của huyền thoại. Tên gọi sông Hương quả xứng tầm với nét đẹp dịu dàng nhưng cũng rất cá tính, độc đáo. Và nhà văn đặt ra câu hỏi: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” thể hiện nỗi niềm băn khoăn, suy ngẫm và ham thích khám phá. Từ truyền thuyết người dân hòa mùi hương của hàng nghìn bông hoa rồi đổ xuống dòng sông mà tác giả đã gợi ra cái đẹp vĩnh hằng cùng danh thơm muôn thuở của dòng sông thần tiên. Những dấu ấn riêng biệt của con sông quê hương với thi, nhạc, họa sẽ không bao giờ phai tàn trong lòng độc giả.

Hai dòng sông thuộc hai dải đất khác nhau trên đất nước ta nhưng lại là những dòng chảy tiêu biểu nhất cho vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của dòng sông Việt Nam. Ngày ngày, những dòng sông ấy vẫn đang cống hiến không ngừng cho sự phát triển kinh tế, gìn giữ nền văn hóa dân tộc mà chẳng cần một sự ghi danh. Dòng sông yêu thương với dòng chảy, với mạch nguồn phù sa bồi đắp cho non sông tươi đẹp. Trải qua những bão lũ, những ngập lụt, bao khó khăn khắc nghiệt xảy đến làm ta càng thêm yêu cái đẹp bình dị, trữ tình của dòng sông Việt Nam như cách Nguyễn Tuân viết về sông Đà, như áng văn Hoàng Phủ Ngọc Tường khám phá Hương giang thơ mộng. Đề tài dòng sông Việt Nam nói riêng, thiên nhiên Việt Nam nói chung sẽ luôn là nơi thi sĩ gửi gắm trực tiếp niềm yêu, sự trân trọng, tự hào của mình dành cho quê hương. Ta từng bắt gặp một Hoàng Cầm say lòng với “Bên kia sông Đuống”, hay Trần Đăng Khoa với những vần thơ về dòng sông Kinh Thầy- dòng sông quê hương. Như một mạch nguồn cảm xúc lớn lao, dòng chảy trữ tình, thơ mộng của dòng sông Việt Nam cũng là mạch chảy ngọt ngào đi vào thơ ca, nghệ thuật và tao nên những áng thơ văn sống mãi cùng thời gian.

Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường là hai cây bút kí thật sự xuất sắc. Tài năng, phong cách của các tác giả đã được minh chứng qua những câu chữ trữ tình, thơ mộng viết về những dòng sông. Họ mang thiên nhiên, cuộc sống đến gần hơn với bạn đọc và vun đắp trong từng thế hệ tình yêu to lớn với thiên nhiên, với quê hương đất nước. Dòng chảy của sông Đà, sông Hương sẽ luôn tỏa hương và rực sáng trên thi đàn văn học nước nhà.

Ai Đã Đặt Tên Cho Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương – một hồ nước xinh đẹp và thơ mộng của thành phố hoa Đà Lạt đã trở thành đề tài bất tận cho nghệ thuật và làm say lòng tao nhân, mặc khách. Thế nhưng, xung quanh việc giải thích tên hồ hiện nay có đến hai cách: Người thì cho rằng rằng Xuân Hương là “hương thơm của mùa Xuân”, vì trước đây cứ đến mùa Xuân đi dạo ven hồ người ta ngửi thấy mùi thơm nên người dân Đà Lạt đặt cho hồ nước xinh đẹp này cái tên thi vị đó. Người thì nói, tên của hồ được mượn từ tên nữ sĩ Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm…

Để hiểu rõ lai lịch hồ Xuân Hương chúng ta hãy ngược dòng lịch sử. Thực tế, hồ Xuân Hương – thắng cảnh xinh đẹp bậc nhất của thành phố Đà Lạt trước năm 1893 chỉ là một vũng nước nhỏ có dòng suối nhỏ róc rách chảy qua và là nơi trú ngụ bao đời của đồng bào dân tộc thiểu số Lat, Chil mà người ta gọi là suối Lat. Thế rồi, thời thế đổi thay, sau khi Bác sĩ A.Yersin tìm ra Đà Lạt, đến năm 1919 trong chương trình xây dựng thành phố, Toàn quyền P.Doumer đã chỉ thị cho kỹ sư công chánh Lapbbé ngăn dòng suối Lat tạo thành hồ tại khu vực từ nhà Thuỷ tạ đến quán Hướng đạo cũ. Năm 1923, chính quyền Pháp lại cho xây thêm một đập bằng đất phía dưới đập Hướng đạo tạo thành hai hồ và đặt cho hồ một cái tên nghe thật “kêu”: Grand Lac – Hồ Lớn. Tháng 3-1932 một cơn bão lớn đi qua làm cả hai đập bị vỡ. Năm 1934 -1935, kỹ sư Trần Đăng Khoa đã thiết kế, xây dựng lại một đập khác bằng đá lớn hơn. Đó là cầu Ông Đạo ngày nay (Ông Đạo là Quản đạo Phạm Khắc Hoè, một vị quan thay mặt triều đình Huế quản lý và giải quyết việc hành chính tại địa phương được người dân kính trọng đặt tên cho cầu).

Đến năm 1953, người Pháp rút dần khỏi Đà Lạt và giao chính quyền cho người Việt quản lý. Bên cạnh Thị trưởng còn Hội đồng Thành phố do dân bầu gồm các ông: Trần Quang Khải, Nguyễn Vỹ, Lê Văn Bình, Hoàng Trí, Trần Quốc Anh, Phạm Trọng Lương, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Bách, Phan Xứng. Hội đồng Thành phố (ngày 1-3-1953 và ngày 26-4-1953) đã phải họp đến mấy phiên mới đi đến quyết định đổi tên tất cả các địa danh, đường phố, hồ nước ở Đà Lạt từ tiếng Pháp sang tiếng Việt bằng cách dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt, hoặc lấy tên các danh nhân văn hoá và danh nhân lịch sử mà đặt. Lúc bấy giờ, ông Nguyễn Vỹ – Chủ tịch Hội đồng Thành phố (nhà báo, chủ bút tạp chí Phổ Thông) là người đã đề xướng lấy tên nữ sĩ Xuân Hương thay cho cái tên Grand Lac (Hồ Lớn) mà người Pháp đã đặt, vì ông Vỹ cho rằng cái tên “Hồ Lớn” không thể hiện được sự xinh đẹp, thơ mộng, lãng mạn của hồ nước, mà chỉ có thể lấy tên nữ sĩ Xuân Hương – bà Chúa thơ Nôm, một người con gái nước Việt tài hoa là xứng đáng nhất. Lời đề nghị đó đã được Hội đồng Thành phố chấp nhận. Trong biên bản cuộc họp Hội đồng Thành phố lúc bấy giờ có ghi rõ chi tiết này. Theo đó, danh sách hàng chục con đường, hồ nước của Đà Lạt lúc bấy giờ đã chính thức được đổi tên từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Cùng với Grand Lac thành hồ Xuân Hương là Lac des soupris thành hồ Than Thở; Vallée D’amour thành Thung lũng Tình yêu …và hang chục con đường và thắng cảnh khác. Qua đó cho thấy cách giải thích của một số người cho rằng hồ Xuân Hương có nghĩa là “Hương mùa Xuân” là không chính xác, và không có căn cứ. Bởi lẽ việc thay đổi tên gọi của địa danh cũng như thay đổi tên khai sinh của một con người, phải căn cứ vào văn bản pháp lý của chính quyền.

Mấy chục năm qua, hồ Xuân Hương đã làm tăng thêm vẻ yêu kiều, duyên dáng cho thành phố hoa Đà Lạt. Nếu không có hồ Xuân Hương, có lẽ Đà Lạt sẽ đơn điệu, cô quạnh và lạc lõng với những rừng thông. Hồ Xuân Hương có nét kiều diễm phương Tây: nước xanh soi bóng những cây mai anh đào rực hồng mỗi độ Xuân về…nên có người cho rằng hồ Xuân Hương có vẻ đẹp …”hướng ngoại”! Nhưng không, thời gian qua hồ Xuân Hương luôn là chứng nhân lịch sử, là niềm tự hào chính đáng của nhân dân Đà lạt. Hồ Xuân Hương đã âm thầm soi bóng khách sạn Palace – nơi đón tiếp Phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đến dự Hội nghị trù bị Đà Lạt vào năm 1946 để quyết định vận mệnh nước nhà trong những giờ phút “ngàn cân treo sợi tóc”; là nơi Bộ Chính trị mở Hội nghị tổng kết chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.

Tháng 10-1984, UBND tỉnh Lâm Đồng đã quyết định cho sửa sang lại hồ Xuân Hương. Trong 6 tháng liền nước hồ được xả cạn, đáy hồ được hàng vạn thanh niên Đà Lạt đổ bao mồ hôi công sức nạo vét, nhằm làm tăng thêm vẻ đẹp cho thành phố. Ngày 6-11-1988, Bộ Văn hoá Thông tin đã ra Quyết định số 1288 công nhận hồ Xuân Hương là một trong 464 thắng cảnh cấp quốc gia. Nhưng sau đó, dần theo năm tháng, do thiếu ý thức bảo vệ và trước tác động xấu, phần lớn hồ Xuân Hương bị bồi lấp làm mất đi vẻ nên thơ quyến rũ vốn có của hồ. Ngày 20-6-1996, UBND tỉnh Lâm Đồng đã giao cho Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn cùng UBND Thành phố Đà Lạt lập dự án nạo vét và sửa chữa lại hồ Xuân Hương và công trình xi phông tháo lũ với tổng dự toán lên tới 20 tỉ đồng. Ngày 1-7-1997, công trình chính thức được khởi công. Sau hơn ba tháng khẩn trương, cuối tháng 9-1998 hồ Xuân Hương được đóng nước và trả lại vẻ đẹp thơ mộng như năm 1935. Hàng trăm cây mai anh đào, liễu, tùng được trồng quanh hồ. Có thể nói đây là lần chỉnh trang lớn nhất từ trước đến nay. Trong dịp Festival Hoa Đà Lạt 2005 hàng trăm cây mai anh đào cũng đã được chính quyền thành phố trồng thêm bên hồ, nhằm tăng vẻ quyến rũ cho thắng cảnh xinh đẹp này.

Một trăm mười lăm mùa xuân trôi qua, hồ Xuân Hương đã chứng kiến biết bao thăng trầm, biến động lịch sử. Hôm nay, đi trên bờ hồ Xuân Hương thơ mộng, nhìn mặt hồ xanh biếc, lấp lánh ánh thuỷ tinh với những con thiên nga, những chiếc thuyền buồm căng gió lướt nhẹ, người dân Đà thành và du khách chắc chắn không ít xúc động khi biết rõ về lai lịch của hồ và nhớ đến nữ sĩ Xuân Hương xinh đẹp, tài hoa nhưng cũng lắm đa đoan. Tôi chợt nghe trong gió mấy vần thơ mà thi sĩ Hàn Mặc Tử từng ngất ngây khi đứng trước hồ Xuân Hương:”Ai hãy lặng thinh chớ nói nhiều/ Để nghe dưới đáy nước hồ reo/ Để nghe tơ liễu run trong gió/ Và để nghe trời giải nghiã yêu “…

Bạn đang đọc nội dung bài viết Phân Tích Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Chi Tiết Nhất trên website Welovelevis.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!