Ý Nghĩa Tên Gọi Các Tỉnh Thành Tại Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Tên Lê Thu Ngân Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Phạm Thu Ngân Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Thu Ngân Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Hoàng Thu Ngân Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Phạm Thu Ngân Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Việt Nam có 63 tỉnh thành. Và mỗi tên gọi của các tỉnh thành đều cất giữ cho mình những câu chuyện, những ý nghĩa riêng lưu truyền từ xa xưa. Không chỉ riêng gì người nước ngoài mà đôi khi ngay cả người Việt cũng không biết rõ hết ý nghĩa của những tên gọi này.

    Hà Nội

    Hà Nội là thủ đô của Việt Nam. Tên gọi này được chính thức định danh từ năm 1831, vào thời vua Minh Mạng. Theo cách hiểu phổ biến nhất thì từ “Hà Nội” mang nghĩa thành phố bên trong sông. Cũng bởi vị trí địa lý của vùng đất này được bao bọc bởi sông Hồng và sông Đáy.

    Hải Dương

    Tên gọi này chính thức có từ năm 1469. Trong đó, “Hải” nghĩa là biển cả, “Dương” nghĩa là ánh sáng. Vùng đất này vốn nằm ở phía đông kinh thành Thăng Long mà hướng đông cũng là hướng của mặt trời mọc. Vì vậy, Hải Dương có nghĩa là ánh mặt trời biển Đông” hay “ánh sáng từ miền duyên hải phía đông chiếu về”.

    Điện Biên

    Tên gọi Điện Biên do vua Thiệu Trị đặt vào năm 1841. Tên gọi này mang ý nghĩa làm nên một địa danh hào hùng, mang dáng hình của dân tộc. Trong đó, “Điện” nghĩa là một vùng núi to, vững chãi và “Biên” nghĩa là miền biên viễn.

    Đà Nẵng

    Nguồn gốc tên gọi này chính là biến dạng của tiếng Chăm cổ: “Daknan” – được hiểu theo nghĩa là sông lớn, hay cửa sông cái.

    Kon Tum

    Kon Tum xưa là một làng nhỏ của người Ba Na cạnh bờ sông Đắk Bla. Nơi đây vốn có rất nhiều hồ nước trũng. Tên gọi Kon Tum cũng ra đời từ đó, mang ý nghĩa là Làng Hồ với “Kon” nghĩa là làng và “Tum” nghĩa là hồ nước.

    Sài Gòn

    Có rất nhiều cách lý giải cho tên gọi này, điển hình là:

    Theo học giả Trương Vĩnh Ký, tên gọi Sài Gòn được phiên âm từ “Prei Nokor” của tiếng Khmer. Trong đó, “Prei” nghĩa là rừng, còn “Nokor” nghĩa là thị trấn. Như vậy, gọi là “Prei Nokor” ý chỉ đây là một thị trấn nằm giữa rừng. Dần dần, người dân đọc trại từ “Prei” thành “Rai” rồi thành “Sài”. Từ “Nokor” đọc lướt thành “Kor” và từ “Kor” thành ra “Gòn”.

    Hay cách khác, khi người Hoa đến vùng đất này, họ nhận thấy đây là nơi “ăn nên làm ra” nên đã gọi nơi này là “Tai-Ngon” hay “Tin-Gan” mà theo Hán Việt là Đề Ngạn. Đề Ngạn phát âm theo giọng Quảng Đông nghe ra là “Thầy Ngồn” hay “Thì Ngòn”. Lâu dần đọc trại thành Sài Gòn.

    Cần Thơ

    Quan điểm thứ nhất cho rằng trong một đêm trăng tĩnh mịch có đoàn thuyền đi ngang qua vàm sông (bến Ninh Kiều ngày nay) thì thấy cảnh quan thiên nhiên hữu tình và văng vẳng xa xa có tiếng ai hò hát, ngâm thơ. Tức cảnh sinh tình, dòng sông thơ mộng này được ban cho cái tên “Cầm Thi giang”. Cả vùng đất này cũng mang tên gọi đó. Lâu dần, người dân đọc trại thành chữ “Cầm Thi” thành “Cần Thơ”.

    Quan điểm thứ hai lý giải tên gọi này xuất phát từ loài cá sặc rằn “Kìn Tho” của người Khmer. Vì con rạch có nhiều cá “Kìn Tho” nên người dân dùng tên gọi đó để đặt tên cho rạch. Dần dần, đọc trại thành “Cần Thơ” và cái tên này vô hình trung gắn liền với cả vùng đất này.

    An Giang

    Địa danh An Giang chính thức ra đời vào năm 1832. Từ “An Giang” có thể giải nghĩa là dòng sông an lành có thể định cư lâu dài. Tên gọi này được vua Minh Mạng đặt mang ý nghĩa khuyến khích di dân khẩn hoang lập làng.

    Sóc Trăng

    Tên gọi Sóc Trăng là từ “Srok Kh’leang” của tiếng Khmer. Trong đó, “Srok” là xứ, còn “Kh’leang” là vựa, nơi chứa bạc. Do đó, “Srok Kh’leang” mang nghĩa là xứ có kho chứa bạc của nhà vua. Người Việt đọc “Srok Kh’leang” thành “Sốc-Kha-Lang”, rồi từ từ đọc thành “Sóc Trăng” khi nào không biết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Bất Ngờ Của Tên Các Nước Châu Phi
  • Tìm Hiểu Ý Nghĩa Tên Gọi Của Các Nước Trên Thế Giới
  • Tên Con Trần Trí Nhân Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Bạch Trí Nhân Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Đặng Hữu Nhân Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Ý Nghĩa Trong Tên Của Mỗi Tỉnh, Thành Phố Ở Việt Nam, Bạn Có Biết?

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Nhan Đề Các Tác Phẩm Văn Học Nổi Tiếng
  • Bạn Có Biết Hết Nguồn Gốc Tên Của Các Hero Và Item Trong Dota 2?
  • Về Nội Dung Và Nhân Vật Trong Inuyasha
  • Ý Nghĩa Logo Thương Hiệu Thời Trang Nike
  • 10 Ý Nghĩa Nhân Văn Sâu Sắc Ẩn Sau Các Tập Phim One Piece
  • Tên gọi Phủ Điện Biên, hay Điện Biên Phủ được vua Thiệu Trị đặt vào năm 1841, chữ Điện hiểu theo nghĩa này nghĩa là một vùng núi to nhưng đất thiêng, là điện thờ, Biên là biên viễn.

    1.Hà Nội: Hà” là sông, “Nội” là bên trong. Hà Nội có nghĩa là thành phía trong sông, vì Hà Nội được bao bọc bởi sông Hồng và sông Đáy.

    2. Bắc Giang: Có nghĩa là phía bắc sông.

    3. Bắc Kạn: Là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Chữ “Kạn” trong từ Bắc Kạn có bộ “tài gẩy” bên chữ “Can”, âm Hán Việt đọc là “cản”, chữ này có nghĩa là “ngăn giữ, bảo vệ, chống cự” cho phía Bắc.

    Ý nghĩa trong tên của mỗi tỉnh, thành phố ở Việt nam, bạn có biết?

    3.Bắc Ninh: Năm 1822, từ một phần xứ Kinh Bắc, thời kỳ Hồng Bàng, nước Văn Lang chia làm có 15 bộ, bộ Vũ Ninh là vùng lãnh thổ thuộc phần lớn tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Tên gọi Bắc Ninh có thể từ Kinh Bắc và Vũ Ninh mà thành.

    4.Điện Biên: Tên gọi Phủ Điện Biên, hay Điện Biên Phủ được vua Thiệu Trị đặt vào năm 1841, chữ Điện hiểu theo nghĩa này nghĩa là một vùng núi to nhưng đất thiêng, là điện thờ, Biên là biên viễn.

    Nguồn ảnh: Unplash

    5. Hà Giang: Hà Giang, theo cách giải thích về nghĩa chữ là con sông nhỏ chảy vào dòng lớn. Cụ thể ở đây là Sông Miện chảy vào Sông Lô.

    6.Hải Dương: “Hải” là miền duyên hải – vùng đất giáp biển, “Dương” là ánh sáng – ánh mặt trời. Hải Dương nằm ở phía đông kinh thành Thăng Long. Hướng Đông cũng là hướng mặt trời mọc. Vì vậy Hải Dương có nghĩa là “ánh mặt trời biển Đông” hay “ánh sáng từ miền duyên hải.

    7. Hải Phòng: Cái tên Hải Phòng có thể là gọi rút ngắn trong cụm từ “Hải tần phòng thủ” của nữ tướng Lê Chân đầu thế kỉ 1.

    8.Hà Nam: Hà Nam lấy “Hà” Hà Nội, lấy chữ “Nam” từ Nam Định.

    9. Hoà Bình: Hòa Bình là tỉnh được thành lập năm 1886 theo nghị định của Kinh lược, khu vực nằm phía bờ trái sông Đà, đối diện với Phương Lâm và từ đó gọi là tỉnh Hòa Bình.

    10. Lai Châu: Lai Châu có tên gọi xuất phát từ chữ châu Lay. Vào đầu thế kỷ X, các thủ lĩnh Thái chiếm vùng đất này đã đặt tên là Mường Lay, năm 1435 Dư địa chí của Nguyễn Trãi ghi là châu Lai do phiên âm chữ Lay.

    11.Lạng sơn: Lạng Sơn là một trong 13 tỉnh được vua Minh Mạng thành lập đầu tiên ở Bắc Kỳ (năm 1831), tên gọi xuất phát từ danh xưng “xứ Lạng”.

    12.Lào cai: Lào Cai là cách phát âm của người địa phương, đọc từ chữ “Lão Nhai” có nghĩa là Phố Cũ hoặc Chợ Cũ.

    13. Nam định: Chữ “Nam” có từ thời Lê, nghĩa là phía Nam. Chữ “Định” nghĩa là bình định – là chữ được nhà Nguyễn đặt cho nhiều vùng đất.

    14. Ninh Bình: Ninh Bình nghĩa là phẳng lặng, yên ổn, yên tĩnh.

    15. Phú thọ: Phú Thọ là tên gọi xuất phát từ tên làng Phú Thọ thuộc tổng Yên Phú, huyện Sơn Vi, tỉnh Hưng Hóa.

    16. Quảng Ninh: Thời Phong kiến khu vực tỉnh Quảng Ninh hiện nay có tên lần lượt là: Lục Châu, lộ Đông Hải, lộ Hải Đông, trấn An Bang, tỉnh Quảng Yên. Sau này Quảng Yên được tách ra thành nhiều đơn vị khác, trong đó có Hải Ninh, về sau Quảng Yên cùng với Hải Ninh và các đơn vị này nhập thành Quảng Ninh bây giờ. Như vậy Quảng Ninh hiện nay gần như là Quảng Yên cũ.

    17. Sơn La: Tên gọi này xuất phát từ nguồn gốc của Nậm La, một phụ lưu cấp 2 của sông Đà. Sơn La trước năm 1479 phần lớn là lãnh thổ của vương quốc Bồn Man, chính thức được sát nhập vào Đại Việt năm 1749.

    18. Thái Bình: Phần lớn đất đai tỉnh Thái Bình ngày nay có từ năm 1005 với sự kiện đổi tên đất Đằng Châu thành phủ Thái Bình.

    19. Tuyên Quang: Cái tên bắt nguồn từ sông Tuyên Quang mà nay là sông Lô.

    20. Thái Nguyên: “Thái” có nghĩa là to lớn hay rộng rãi, “Nguyên” có nghĩa là cánh đồng hoặc chỗ đất rộng và bằng phẳng.

    21.Đà Nẵng: Tên gọi được biến dạng của từ Chăm cổ : ” Đaknan”. “Đak” có nghĩa là nước, “nan” hay”nưn” tức là rộng. “Đaknan” hàm ý vùng sông nước rộng mênh mông ở cửa sông Hàn. Có nhà nghiên cứu cho rằng “Đà Nẵng” có thể xuất phát từ nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, Đakdơng – Đà dơng, có nghĩa là sông nguồn.

    22. Quảng Nam: Tên gọi mang ý nghĩa mở rộng về phía nam. Có thể thấy được miền Trung có khá nhiều địa danh mang yếu tố quảng. Bởi vì đây là một dải đất hẹp nên việc đặt tên các địa danh mang yếu tố quảng là với hy vọng hướng tới sự rộng lớn, bao la.

    Ý nghĩa trong tên của mỗi tỉnh, thành phố ở Việt nam, bạn có biết?

    23. Thanh Hoá: Ban đầu, vùng đất này được gọi là Thanh Hoa (Hoa: tinh hoa). Đến năm 1841 lại đổi thành tỉnh Thanh Hóa cho tới ngày nay.

    24.Quảng Bình: Quảng Bình là vùng đất được Chúa Nguyễn Hoàng đặt tên năm từ 1558, trong đó Quảng là sự rộng lớn.

    25. Quảng trị: Năm 1827 thành Quảng Trị đổi tên thành Trấn Quảng Trị, năm 1832 trấn Quảng Trị đổi tên thành Tỉnh Quảng Trị .

    26. Nghệ An: Theo báo Tiền Phong, Mặc dù lịch sử vùng đất Nghệ An gắn với nhiều tên gọi khác nhau nhưng danh xưng Nghệ An – với ý nghĩa “thái bình vô sự” vẫn là tên gọi tồn tại lâu dài nhất, xuyên suốt nhiều thế kỷ .

    27. Hà Tĩnh: Thành phố này được thành lập từ năm 1831, khi vua Minh Mệnh chia tách Nghệ An để đặt tỉnh Hà Tĩnh.

    Nguồn ảnh: Unplash

    28. Thừa Thiên Huế: Thừa Thiên Huế là phủ Phú Xuân dưới thời Tây Sơn. Khi vua Gia Long chia cả nước thành 23 trấn và 4 dinh, Thừa Thiên Huế ngày nay thuộc dinh Quảng Đức.

    29. Quảng Ngãi: Năm 1832 tỉnh Quảng Nghĩa tức Ngãi được thành lập với ý nghĩa là một vùng đất to lớn tràn ngập nghĩa tình.

    30.Bình Định: Cái tên Bình Định có dụng ý thể hiện tư thế của người chiến thắng. Có thể Nguyễn Ánh cho rằng mình đã vào tận đất phát tích của nhà Tây Sơn, bình định được “loạn đảng nguỵ Tây” theo cách nói của các vua triều Nguyễn trước đây.

    31. Phú Yên: Phú Yên thuộc quyền quản lý của Chăm Pa với tên gọi Ayaru cho đến năm 147. Năm 1611, Nguyễn Hoàng sai tướng tấn công vào Aryaru sau đó sáp nhập Ayaru vào lãnh thổ Đàng Trong với tên gọi Phú Yên, với ước nguyện về một miến đất trù phú, thanh bình trong tương lai.

    32. Khánh Hoà: Trong tiếng Hán, chữ “Khánh” nghĩa gốc là “mừng,” mang nghĩa “chúc mừng” và “việc mừng”. Chữ Hòa tạm hiểu là đồng thuận, hòa hợp.

    33. Ninh Thuận: Ninh Thuận là tên gọi xuất hiện đầu tiên với tư cách là phủ Ninh Thuận vào năm 1832 thời vua Minh Mạng.

    34.Bình Thuận: Bình chỉ sự khai phá, bình định một vùng đất, Thuận là sự sinh sống hòa thuận mà ở đây là giữa 2 dân tộc Chămpa và Kinh.

    Nguồn ảnh: Unplash

    35. Sài Gòn: Có nhiều thuyết về tên gọi Sài Gòn. Thuyết được cho là đúng và hợp lí nhất là tên gọi này bắt nguồn từ từ ” Brai Nagara” . Thế kỷ 18 vùng Gia Định xưa có hai địa danh Rai-gon thong (Sài Gòn thượng) và Rai-gon ha ( Sài Gòn hạ).

    36. Đồng Nai: Đồng Nai có nguồn gốc tên gọi vẫn chưa rõ ràng. Dân gian quen giải thích do cánh đồng có nhiều nai.

    37. Bình Dương: Trong Địa chí Sài Gòn – Gia Định xưa cho rằng cái tên này được lấy từ đất khởi nghiệp của vua Nghêu. Khi làm vua, Nghiêu chỉ ở nhà tranh, vách đất, ăn mặc như thứ dân, ngày cày ruộng cùng dân, đêm đọc sách Thánh hiền. Suốt thời gian vua cai trị dân chúng thái bình, thịnh trị, không trộm cắp, trên dưới hòa thuận an lành.

    38. Bà Rịa – Vũng Tàu:  là địa danh ghép bởi Bà Rịa và Vũng Tàu. Địa danh Bà Rịa là phiên âm tên nữ thần trấn sóng Chăm Po Riyak. Cũng có thể được cấu tạo theo phương thức chuyển hóa từ nhân danh Nguyễn Thị Rịa người Phú Yên, năm 15 tuổi cùng đoàn lưu dân từ Dinh Trấn Biên vào nam, có công lớn trong việc khai khẩn vùng rừng núi Đồng Xoài. Vũng Tàu  là vùng đất này có ba mặt giáp biển, rất thuận lợi cho tàu bè đậu tránh gió trước khi vào Gia Định, nên về sau gọi là Vũng Tàu.

    39. Tây Ninh: Tây Ninh là vùng đất chỉ có rừng rậm với muôn thú dữ như cọp, voi, beo, rắn,… cư ngụ. Tên gọi Tây Ninh có nghĩa là yên ổn về chính trị ở phía tây.

    40. Dak Nông: Đắk Nông đặt theo tiếng M’Nông có nghĩa là Nước (hoặc đất) của người M’Nông.

    41. Đắk Lắk: Tên gọi đặt theo tiếng M’Nông nghĩa là “hồ Lắk”, với dak nghĩa là “nước” hay “hồ.

    Ý nghĩa trong tên của mỗi tỉnh, thành phố ở Việt nam, bạn có biết?

    42. Gia Lai: Nguồn gốc tên gọi bắt nguồn từ chữ Jarai, tên gọi của một tộc người bản địa có số dân đông nhất trong tỉnh.

    43. Kon Tum: Theo ngôn ngữ Ba Na thì Kon là làng, Tum là hồ, chỉ tên gọi một ngôi làng gần một hồ nước cạnh dòng sông Đăk Bla mà hiện nay là làng Kon Kơ Nâm ở thành phố Kon Tum.

    44.Lâm Đồng: Được thành lập từ việc sáp nhập tỉnh Lâm Viên với tỉnh Đồng Nai Thượng.

    45. Long An: Long An là địa danh được hiểu theo nghĩa: An là yên ổn, an toàn. Long là đầy đủ, hưng thịnh, lớn, tốt đẹp.

    46. Tiền Giang: Địa danh được đặt theo tên sông Tiền, là vùng đất được người Việt trong đó phần lớn là từ vùng Ngũ Quảng đến khai hoang và định cư từ thế kỷ XVII.

    47. Vĩnh Long: Vĩnh Long âm Hán Việt có nhiều nghĩa, có thể ngụ ý: “sự thịnh vượng (long) bền lâu, mãi mãi (vĩnh).” 

    49. Đồng Tháp: Đồng Tháp có tên gọi từ Đồng Tháp Mười, tư liệu thành văn viết “đồng Tháp Mười” (không viết hoa chữ “đồng”), có nghĩa “tháp thứ 10” hoặc “tháp 10 tầng.

    50. Bến Tre: Ngày xưa, theo cuốn “Monographie De La Province De Bến Tre” của tác giả Ménard in năm 1903, người Khơme gọi là Xứ Tre vì các giồng xứ này tre mọc rất nhiều, sau đó người dân lập chợ buôn bán và gọi là chợ Bến Tre.

    51. An Giang: Tên gọi An Giang nghĩa là dòng sông an lành có thể định cư lâu dài, mang ý nghĩa cho việc khuyến khích di dân khẩn hoang lập làng.

    52. Kiên Giang:  Địa danh Kiên Giang có thể bắt nguồn từ tên một con sông ở Rạch Giá, đó là sông Kiên.

    53. Hậu Giang: Hậu Giang là địa danh có tên gọi bắt nguồn từ tên sông Hậu.

    54. Bạc Liêu: Bạc Liêu được phát âm theo tiếng Hán Việt, theo tiếng Triều Châu là “Pô Léo”, có nghĩa là xóm nghèo, làm nghề hạ bạc (chài lưới, đánh cá, đi biển). Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng tên gọi Bạc Liêu xuất phát từ tiếng Khmer Po Loenh, nghĩa là cây đa cao.

    55. Trà Vinh:  Trà Vinh là một địa danh gốc Khmer tên tiền thân là Tra Vang, có thể là biến âm từ “prha trapenh” có nghĩa là ao, ao Phật hay ao linh thiêng. Vì cho rằng ngày xưa người ta đã đào được tượng Phật dưới ao ở vùng đất này.

    56. Sóc Trăng: Sóc Trăng là biến âm của Sốc Trăng, xuất phát từ tiếng Khmer “Srock Khléang”. “Srock” có nghĩa là xứ, “Khléang” là kho chứa vàng bạc của vua.

    57. Cà Mau:  Cà Mau (cách viết cũ là Cà-mâu) là cái tên được hình thành do người Khmer gọi tên vùng đất này là “Tưk Kha-mau”, có nghĩa là nước đen, do lá tràm của thảm rừng tràm U Minh bạt ngàn rụng xuống làm đổi màu nước thành đen.

    Bài viết và ảnh được tổng hợp và tham khảo nhiều nguồn trên internet.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đảng Cộng Sản Việt Nam Dũng Cảm Vượt Lên Chính Mình, Làm Nên Lịch Sử
  • Bài 2: Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Sự Ra Đời Và Sứ Mệnh Lịch Sử Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Đối Với Giai Cấp, Dân Tộc Và Xã Hội
  • Quá Trình Thành Lập Và Ý Nghĩa Lịch Sử Sự Ra Đời Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Ý Nghĩa Lịch Sử Thành Lập Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Tên Các Loài Hoa Hồng Ở Việt Nam Và Thế Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Của Các Loài Hoa Hồng
  • Hoa Hồng – Nữ Hoàng Của Các Loài Hoa
  • Ý Nghĩa Của Hoa Súng Loài Hoa Thể Thiện Tình Cảm Yêu Thương Của Vợ Chồng • Nekko Shop
  • Ý Nghĩa Hoa Súng Là Gì, Tượng Trưng Cho Điều Gì?
  • Hoa Súng – Ý Nghĩa Lớn Lao Tiềm Ẩn Trong Vẻ Đẹp Dung Dị
  • Tên các loài hoa hồng ở việt nam

    Việt nam là nơi có khí hậu ôn hòa nhiệt đới, rất thích hợp để các loài hoa hồng phát triển tốt, vì thế có rất nhiều Tên cho các loài hoa hồng này, chúng có tên theo màu sắc, tên theo khu vực, tên theo truyền thuyết,..

    Hoa hồng – loài hoa tượng trưng cho tình yêu và sắc đẹp. Vừa đẹp lại còn có hương thơm quyến rũ. Đó cũng là lý do vì sao mà nhiều người lại mê đắm loài hoa nữ hoàng này.

    Hoa hồng cổ Sapa

    Hoa hồng cổ Sapa là loài hoa bản địa ở Sapa, có nguồn gốc từ châu Âu nhưng lại được thuần chủng và trồng ở Sapa từ rất lâu đời. Do đó, mà chúng có tên gọi là hoa hồng cổ, hồng đào cổ Sapa,…

    Hoa hồng cổ Sapa có hoa xếp cánh dạng hoa thị với số lượng cánh dày có thể tới 50 lớp, hoa có đường kính to như bát cơm, dáng hoa khúm núm. Hoa có màu sắc nhẹ nhàng của hồng phấn hoặc màu hồng đào.

    Hoa hồng cổ sơn la

    Bất kì ai biết tới hoa hồng cổ Sơn La này đều bị thu hút ngay từ cái nhìn đầu tiên bởi vẻ đẹp vô cùng lộng lẫy từ màu sắc tới hương thơm. Bất kể hàng rào nhà bạn có thô cứng đến đâu khi có mặt của hồng cổ Sơn La này thì đều trở nên vô cùng rực rỡ, luôn lấy được sự chú ý của rất nhiều người khi họ bất chợt đi ngang sân vườn nhà bạn.

    Hoa hồng cổ Vân Khôi

    Hay còn gọi là hồng Cung Phủ, là giống hoa hồng thường được  trồng trong cung, phủ của các vị vua chúa ngày xưa.

    Hoa có màu hồng phấn, cánh mỏng mà dịu dàng, kiêu sa. Mùa đông thì hoa có màu hồng đậm, về mùa hè thì hoa chuyển sang hồng trắng nhẹ nhàng. Là một trong các loại hoa hồng đẹp.

    Hoa hồng leo cổ Hải Phòng

    Hồng leo cổ Hải Phòng là tên các loại hoa hồng ở Việt Nam được nhiều người biết đến. Bởi có màu sắc rực rỡ, thường được trồng để leo tường, leo vòm rất phù hợp cho những ai muốn trang trí cho cổng hoặc cửa nhà mình.

    Hoa có màu đỏ nhung mịn màng, lớp cánh dày tinh tế, đặc biệt là có mùi thơm nhẹ nhàng làm bạn có cảm giác dễ chịu và thư thái.

    Hoa hồng cổ Bạch Ho

    Hoa hồng bạch ho “nhiều nơi gọi là Hồng bạch cũ, Hồng Bạch ta” là một giống hồng bụi, cánh kép, hoa màu trắng, bông đơn hoặc chùm, siêng hoa và cho hoa nở quanh năm.

    Hoa Hồng Quế

    Hoa hồng quế là một trong số những giống hồng cổ đã đi vào tiềm thức, tuổi thơ của nhiều người. Hoa hồng quế thường có màu hồng, hồng phấn với những lớp cánh mỏng, nhỏ hơn so với nhiều loại hồng khác, hơi thưa, xếp tròn đều xung quanh nhị để lộ ra lớp nhụy vàng óng. Đường kính hoa khoảng 3-7cm. Hoa kết thành chùm 3-7 bông hoặc đơn lẻ, mọc ở nách lá nên cực kỳ sai hoa.

    Hồng hoa bạch xếp Nam Định

    Hồng bạch xếp hay hồng cổ Nam Định là giống hồng truyền thống, thuần chủng của Việt Nam nên không hề bị thoái hóa.

    Hồng bạch xếp Nam Định có màu trắng thuần khiết, cánh hoa mềm mại với những lớp cánh lượn sóng dập dờn, hoa có hương thơm nhẹ nhàng và nở quanh năm.

    Hồng leo tầm xuân

    Hoa tầm xuân được rất nhiều người ưa trồng làm hàng rào, bò ven tường. Cây hoa tầm xuân có nhiều gai còn gọi là hoa hồng có gai thuộc cây bụi mọc dày.

    Cây hoa tầm xuân có xuất xứ từ Trung Quốc và du nhập vào Việt Nam từ những năm chiến tranh.

    Hồng phấn nữ hoàng

    Hồng nữ hoàng là loại hồng có hương thơm đặc biệt thu hút. Nó có hương thơm nồng nàn, bay xa.

    Hoa to, màu hồng phấn đẹp, nhưng mau tàn, chỉ khoảng tầm 2 – 3 ngày là tàn; cánh hoa thưa nên hình dáng không đẹp lắm. Nhưng bù lại hoa rất thơm, hương thơm lại bay xa.

    Hồng nữ hoàng có thân khá mảnh mai, thân cây khá nhỏ, cho dù trồng tốt thì thân hồng nữ hoàng chỉ to như ống hút .

    Tên các loài hoa hồng trên thế giới

    Bên trên là các tên gọi và hình ảnh của các loài hoa hồng ở việt nam. Ở bài viết này chúng tôi muốn nhấn mạnh đến vẻ đẹp của các loài hoa hồng trên thế giới đẹp để quý khách hiểu hơn.

    Hoa hồng Keira

    Loài hồng này với sự pha trộn màu sắc một cách đầy tinh tế, không theo bất cứ quy tắc nào giữa màu hồng, màu kem để tạo nên một gam màu đầy mới mẻ và cuốn hút.

    Hồng Keira ra hoa thành từng chùm màu trắng ngà, mùa đông thì chuyển sang phớt hồng là một trải nghiệm thú vị mà người trồng hồng nào cũng thích.

    Hoa hồng Claire Austin

    Một trong những giống hoa hồng ngoại đẹp mà dễ trồng, dễ chăm sóc mà lại sai hoa với gam màu cực đẹp chính là Austin.

    Đây giống hồng cây bụi cao, có thể làm cây leo. Với ưu điểm là rất sai hoa và kháng bệnh tốt nên bạn có thể yên tâm khi chọn loại hoa hồng ngoại này.

    Màu kem vừa sang trọng vừa tinh khiết của Clari Austin sẽ trở thành một điểm nhấn cực kỳ ngọt ngào và ấn tượng cho khu vườn nhà bạn.

    Hoa hồng Bishop’s Castle

    Đây là một giống hoa hồng của nước Anh được lấy theo tên một thị trấn nhỏ là Bishop’s Castle.

    Đây là giống hoa hồng cây bụi ngắn, có mùi thơm cổ điển rất cuốn hút đến tận khi hoa tàn. Đặc biệt đây là loại cây có khả năng kháng bệnh rất tốt, phù hợp với khí hậu nước ta.

    Hoa hồng Nahema

    Hoa hồng ngoại Nahema là loại hồng cây leo thấp, từng chùm hoa màu hồng với hương thơm đậm cũng là một trải nghiệm thú vị cho người mới trồng hồng ngoại.

    Nahema cũng là một loại cây hoa hồng kháng bệnh tốt để có thể chống chọi với thời tiết và các loại sâu bệnh thường gặp.

    Hoa hồng Louise Odier

    Hoa hồng Louise Odier thuộc dòng Bourbons vô cùng đẹp và cuốn hút. Với nét đẹp kiêu sa, mê hoặc lòng người bởi gam màu hồng đầy quý phái.

    Những cánh hoa đan xen cài vào nhau, cuộn tròn rồi lan tỏa chen chút, vô cùng đẹp mắt. Đặc biệt là trong thời tiết nắng nóng giống hoa này có thể cho ra hoa liên tục với khả năng chống chịu sâu bệnh tuyệt vời.

    Hoa hồng ngoại Juliet

    Juliet còn được nhiều người biết đến với cái tên đó là “bông hồng triệu đô”. Sở dĩ mà có cái tên như vậy là bởi vì nếu muốn lai tạo ra giống hồng này, David Austin (chuyên gia về hoa hồng người Anh – chủ nhân của hàng trăm giống hồng nổi tiếng khắp thế giới) đã phải mất cả triệu USD.

    Đây là giống hồng bụi, hình dáng hoa giống như chiếc tách sâu lòng, hoa có màu đào, số lượng cánh hoa có thể lên đến 90 cánh. Đường kính hoa tầm 10 – 12cm.

    Hoa hồng Madame Isaac Pereire

    Sở hữu sắc hồng tím mang ý nghĩa thủy chung, tượng trưng cho tình yêu vĩnh cửu. Madame Isaac Pereire thuộc giống Bourbons tiếp tục khẳng định chỗ đứng trên thị trường và chiếm trọn trái tim người yêu hoa.

    Điểm đặc biệt, đây chính là sự sắp xếp của các cánh hoa vô cùng tinh tế như tạo nên 4 bông hoa hồng nhỏ ở giữa, xung quanh là những cánh hoa nở xòe vô cùng tuyệt mỹ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoa Hồng – Biểu Tượng Của Sự Ngọt Ngào Và Tình Yêu Vĩnh Cửu
  • ( Kiến Thức ) Tên Các Loại Hoa Hồng Trên Thới Giới Và Việt Nam
  • #10 Ý Nghĩa Hoa Hồng, 89 Bức Ảnh Hoa Hồng Đẹp Nhất
  • Huyền Vũ – Ý Nghĩa Trong Phong Thủy Như Thế Nào
  • Ý Nghĩa Của Huyền Vũ Trong Phong Thủy
  • Khám Phá Ý Nghĩa Tên Gọi 63 Tỉnh Thành Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Nguyễn Hào Nghĩa Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Phan Hào Nghĩa Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Đào Hào Nghĩa Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Các Tên Hào Đẹp Và Hay
  • Tên Nguyễn Ngọc Hoa Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Ý nghĩa tên gọi 63 tỉnh thành Việt Nam – Miền Bắc

    1. HÀ NỘI

    Sau khi diệt được triều đại Tây Sơn vua Gia Long đổi phủ Phụng Thiên (Đất kinh thành cũ Thăng Long) thành phủ Hoài Đức thuộc Tổng Trấn Bắc Thành. Năm Minh мạng thứ 12 (1831) vua lại bỏ Bắc Thành và 11 Trấn và thay bằng 29 Tỉnh.

    2. BẮC GIANG

    Bắc Giang thuộc bộ Võ Ninh thời vua Hùng dựng nước Văn Lang, đời Lý – Trần gọi là łộ Bắc Giang, đời Lê là phủ Bắc Hà, năm 1822 đổi là phủ Thiên Phúc, đến đời Tự Đức là phủ Đa Phúc. Đến nay chưa thấy tài liệu nào chứng minh, nhưng tên gọi Bắc Giang có nghĩa là phía bắc sông.

    3. BẮC KẠN

    Bắc Kạn là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Bản sao bài văn bia “Tam hải hồ sơn chí” bằng tiếng Hán khắc trên đá dựng ở Bó Lù, bờ hồ Ba Bể, do tác giả Phan Đình Hoè tỉnh Bắc Kạn viết, ông Vi Văn Thượng khắc và dựng bia năm 1925: Chữ “Kạn” trong từ Bắc Kạn có bộ “tài gẩy” bên chữ “Can”, âm Hán Việt đọc là “cản”, chữ này có nghĩa là “ngăn giữ, bảo vệ, chống cự” (phía bắc).

    4. BẮC NINH

    1822 từ một phần xứ Kinh Bắc. Thời kỳ Hồng Bàng, nước Văn Lang chia làm có 15 bộ, bộ Vũ Ninh là vùng lãnh thổ thuộc phần lớn tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Tên gọi Bắc Ninh có thể từ Kinh Bắc và Vũ Ninh mà thành.

    5. CAO BẰNG

    Cao Bằng xưa thuộc bộ Vũ Định thời Hùng Vương, đến đời Lý về sau là đất Thái Nguyên. Năm 1467 gọi là phủ Bắc Bình, về sau đổi thành phủ Cao Bình. Năm 1676, nhà Lê thu phục từ tay nhà Mạc đặt lại thành trấn Cao Bình. Đến đời Tây Sơn, tên Cao Bình dần trại ra thành Cao Bằng cho đến bây giờ.

    6. ĐIỆN BIÊN

    Điện Biên là vùng đất cổ. Điện Biên Phủ vốn được gọi là Mường Thanh, từ chữ Mường Then theo tiếng dân tộc Thái, nghĩa là Xứ trời. Đây được xem là vùng đất thiêng ở miền biên viễn, theo quan niệm xưa, là nơi thông trời đất. Tên gọi Phủ Điện Biên, hay Điện Biên Phủ được vua Thiệu Trị đặt vào năm 1841, chữ Điện hiểu theo nghĩa này nghĩa là một vùng núi to nhưng đất thiêng, là điện thờ, Biên là biên viễn.

    7. HÀ GIANG

    Hà Giang, theo cách giải thích về nghĩa chữ là con sông nhỏ chảy vào dòng lớn. Cụ thể ở đây là Sông Miện chảy vào Sông Lô

    8. LÀO CAI

    Lào Cai là cách phát âm của người địa phương đọc chữ Lão Nhai có nghĩa là Phố Cũ hoặc Chợ Cũ. Người địa phương thường gọi Bảo Thắng, là khu phố do Lưu Vĩnh Phúc xây dựng nằm ở vùng thuộc thị xã Lào Cai ngày nay bằng tên Lảo Kay, sau đó người Pháp cũng phiên âm lại cách gọi đó bằng chữ Latinh là Lao Kai hoặc Lao Kay.

    9. HẢI DƯƠNG

    Hải Dương có tên chính thức từ năm 1469, ý nghĩa “Hải là miền duyên hải” vùng đất giáp biển, “Dương là áหh sáng” áหh mặt trời. Hải Dương nằm ở phía đông kinh thành Thăng Long. Hướng Đông cũng là hướng mặt trời mọc. Vì vậy Hải Dương có nghĩa là “ánh mặt trời biển Đông” hay “ánh sáng từ miền duyên hải (phía đông) chiếu về”. Trong “Dư địa chí”, Nguyễn Trãi đã đánh giá Hải Dương là trấn thứ nhất trong bốn kinh trấn và là phên giậu phía đông của kinh thành Thăng Long.

    10. HẢI PHÒNG

    Cảng, thành phố Hoa phượng đỏ, thành lập vào năm 1888. Cái tên Hải Phòng có thể là gọi rút ngắn trong cụm từ “Hải tần phòng thủ” của nữ tướng Lê Chân đầu thế kỉ 1, hoặc từ tên gọi rút ngắn từ tên gọi của một cơ quan đời Tự Đức trên đất Hải Dương: Hải Dương thương chính quan phòng, cũng có thể bắt nguồn từ ti sở nha Hải phòng sứ hay đồn Hải Phòng do Bùi Viện lập từ năm 1871 đời Tự Đức.

    11. HÀ NAM

    Hà Nam được thành lập năm 1890, Nam Định được tách ra thành tỉnh Thái Bình và một phần phía bắc tách ra để cùng một phần phía nam Hà Nội lập thành tỉnh Hà Nam. Hà lấy từ chữ Hà Nội, Nam lấy từ chữ Nam Định.

    12. HOÀ BÌNH

    Hòa Bình là tỉnh được thành lập năm 1886 theo nghị định của Kinh lược Bắc Kỳ với tên gọi là tỉnh Mường. Tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Chợ Bờ nên cũng còn gọi là tỉnh Chợ Bờ, cuối năm 1886 chuyển về xã Phương Lâm, năm 1888 đổi tên thành tỉnh Phương Lâm. Năm 1896 tỉnh lỵ được chuyển về đóng tại xã Hòa Bình, phía bờ trái sông Đà, đối diện với Phương Lâm và từ đó gọi là tỉnh Hòa Bình, sau nhiều lần tách nhập, đến nay vẫn giữ tên gọi này.

    13. HƯNG YÊN

    Tỉnh được thành lập năm 1831 gồm các huyện Đông Yên, Kim Động, Thiên Thi, Tiên Lữ, Phù Dung của trấn Sơn Nam và Thần Khê, Hưng Nhân, Duyên Hà của trấn Nam Định. Vùng đất Hưng Yên nổi danh từ thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh đã หổi tiếng do có Phố Hiến, dân gian có câu “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”.

    14. LAI CHÂU

    Lai Châu có tên gọi xuất phát từ chữ châu Lay. Vào đầu thế kỷ X, các thủ lĩnh Thái chiếm vùng đất này đã đặt tên là Mường Lay, năm 1435 Dư địa chí của Nguyễn Trãi ghi là châu Lai do phiên âm chữ Lay.

    15. LẠNG SƠN

    Lạng Sơn là một trong 13 tỉnh được vua Minh мạหg thành lập đầu tiên ở Bắc Kỳ (năm 1831), tên gọi xuất phát từ danh xưng “xứ Lạng”.

    16. NAM ĐỊNH

    Nam Định có nguồn gốc tên gọi từ năm 1822, khi triều Nguyễn đổi tên trấn Sơn Nam Hạ thành trấn Nam Định, chữ Nam có từ thời Lê nghĩa là phía Nam chữ Định nghĩa là bình định là chữ nhà Nguyễn đặt cho nhiều vùng đất. Năm 1832 đổi trấn Nam Định thành tỉnh Nam Định (bao gồm cả Thái Bình và một phần đất Hà Nam hiện nay). Năm 1890, Thái Bình tách ra thành tỉnh riêng và một phần phía bắc Nam Định tách ra để cùng một phần phía nam Hà Nội lập thành tỉnh Hà Nam.

    17. NINH BÌNH

    Ninh Bình nghĩa là phẳng lặng, yên ổn, yên tĩnh có tên là đạo Ninh Bình từ năm 1822, năm 1831 đổi thành tỉnh Ninh Bình.

    18. PHÚ THỌ

    Phú Thọ là tên gọi xuất phát từ tên làng Phú Thọ thuộc tổng Yên Phú, huyện Sơn Vi, tỉnh Hưng Hóa mà lập nên thị xã Phú Thọ năm 1903. Sau đó Pháp chuyển tỉnh lỵ của tỉnh Hưng Hóa lên thị xã Phú Thọ và đổi tên tỉnh Hưng Hóa thành tỉnh Phú Thọ.

    19. QUẢNG NINH

    Quảng Ninh là vùng đất lịch sử lâu đời. Ở khu vực Vịnh Hạ Long đã khảo cổ được di chỉ của người tiền sử từ 3000 – 1500 năm TCN. Khi hình thành Nhà nước đầu tiên của người Việt, thời Hùng Vương vùng đất Quảng Ninh nay là bộ Lục Hải. Một trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang.

    Thời Phong kiến khu vực tỉnh Quảng Ninh hiện nay có tên lần lượt là: Lục Châu, łộ Đông Hải, łộ Hải Đông, trấn An Bang, tỉnh Quảng Yên. Sau này Quảng Yên được tách ra thành nhiều đơn vị khác, trong đó có Hải Ninh, về sau Quảng Yên cùng với Hải Ninh và các đơn vị này nhập thành Quảng Ninh bây giờ. Như vậy Quảng Ninh hiện nay gần như là Quảng Yên cũ.

    20. SƠN LA

    Sơn La có tên gọi xuất phát từ nguồn gốc của Nậm La, một phụ lưu cấp 2 của sông Đà. Sơn La trước năm 1479 phần lớn là lãnh thổ của vương quốc Bồn мคห, chính thức được รáp หнập vào Đại Việt năm 1749. Năm 1886 thành lập châu Sơn La thuộc phủ Gia Hưng tỉnh Hưng Hoá. Năm 1895 thành lập tỉnh Vạn Bú, tỉnh lỵ ở Vạn Bú tức Tạ Bú, ngày 23/8/1904 đổi tên thành tỉnh Sơn La.

    21. THÁI BÌNH

    Thái Bình với tên gọi phủ Thái Bình gồm phần lớn đất đai tỉnh Thái Bình ngày nay có từ năm 1005 với sự kiện đổi tên đất Đằng Châu thành phủ Thái Bình. Ngày 21/3/1890 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định lấy phủ Kiến xương tách từ tỉnh Nam Định và huyện Thần Khê tách từ tỉnh Hưng Yên và รáp หнập vào phủ Thái Bình để lập tỉnh Thái Bình, còn phủ sau đổi tên là Thái Ninh.

    22. VĨNH PHÚC

    Vĩnh Phúc được thành lập vào ngày 12/2/1950 do kết hợp hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên, nhưng do nhiều lần tách nhập nên Vĩnh Phúc hiện nay bao gồm tỉnh Vĩnh Yên và thị xã Phúc Yên trước đây. Trong thời kỳ Pháp tạm chiếm đóng miền Bắc giai đoạn 1946-1954, tỉnh này còn có tên gọi là tỉnh Vĩnh Phúc Yên.

    23. YÊN BÁI

    Yên Bái là tên được lấy từ tên làng Yên Bái, khi ngày 11/4/1900 thực dân Pháp thành lập tỉnh Yên Bái gồm có phủ Trấn Yên, hai châu Văn Chấn, Văn Bàn và thị xã tỉnh lỵ đặt tại làng Yên Bái. Từ năm 1910 – 1920 chuyển châu Lục Yên (tỉnh Tuyên Quang) và châu Than Uyên (tỉnh Lai Châu) vào tỉnh Yên Bái, từ năm 1945 đã có nhiều lần tách nhập một phần hoặc cả tỉnh.

    24. TUYÊN QUANG

    Tuyên Quang có tên bắt nguồn từ sông Tuyên Quang mà nay là sông Lô. “An Nam chí lược” của Lê Tắc, soạn thảo năm 1335 viết: Nước sông Quy Hóa từ Vân Nam chảy về, nước sông Tuyên Quang từ đạo Đặc Ma chảy về, nước sông Đà từ Chàng Long chảy về, nhân có ngã ba sông mà đặt tên như vậy. Tuyên Quang trở thành tỉnh dưới triều vua Minh Mạng.

    25. THÁI NGUYÊN

    Thái Nguyên là tên gọi có gốc từ Hán Việt, Thái có nghĩa là to lớn hay rộng rãi, Nguyên có nghĩa là cánh đồng hoặc chỗ đất rộng và bằng phẳng. Tỉnh được thành lập năm 1831, năm 1890 chính quyền Pháp chia tỉnh Thái Nguyên thành 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn.

    Năm 1965, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sáp nhập 2 tỉnh với tên gọi Bắc Thái, năm 1996 lại chia tỉnh Bắc Thái để tái lập tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên. Như vậy, Thái Nguyên ngày thành lập gần như toàn bộ tỉnh Bắc Thái cũ.

    Ý nghĩa tên gọi 63 tỉnh thành Việt Nam – Miền Trung và Tây Nguyên

    26. ĐÀ NẴNG

    Đà Nẵng có tên gọi được biến dạng của từ Chăm cổ Đaknan. Đak có nghĩa là nước, nan hay nưn, tức Ianưng là rộng. Đaknan hàm ý vùng sông nước rộng mênh mông ở cửa sông Hàn. Có nhà nghiên cứu cho rằng “Đà Nẵng” có thể xuất phát từ nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, Đakdơng – Đà dơng, có nghĩa là sông nguồn.

    27. QUẢNG NAM

    Quảng Nam có tên gọi mang ý nghĩa mở rộng về phía nam. Có thể thấy được miền Trung có khá nhiều địa danh mang yếu tố quảng. Bởi vì đây là một dải đất hẹp nên việc đặt tên các địa danh mang yếu tố quảng là với mong muốn sự rộng lớn, bao la vì từ quảng mang nghĩa như vậy.

    28. THỪA THIÊN HUẾ

    Thừa Thiên Huế là phủ Phú Xuân dưới thời Tây Sơn. Khi vua Gia Long chia cả nước thành 23 trấn và 4 dinh, Thừa Thiên Huế ngày nay thuộc dinh Quảng Đức. Năm 1822, dinh Quảng Đức được vua Minh Mạng đổi tên thành phủ Thừa Thiên. Từ năm 1831-1832, vua Minh Mạng chia cả nước thành 31 đơn vị hành chính gồm 30 tỉnh và 01 phủ là Thừa Thiên.

    Cùng với sự thăng trầm theo dòng chảy lịch sử, tên gọi và địa giới hành chính tỉnh thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử khác nhau và ổn định với tên gọi Thừa Thiên Huế và địa giới từ năm 1989 đến nay.

    29. QUẢNG BÌNH

    Quảng Bình là vùng đất được Chúa Nguyễn Hoàng đặt tên năm từ 1558, các tên gọi cũ khu vực này gồm: Bố Chính, Tân Bình, Lâm Bình, Tiên Bình, Tây Bình. Đời Lê Trung Hưng có tên là Tiên Bình. Năm 1604, đổi tên là tỉnh Quảng Bình, trong đó Quảng là sự rộng lớn.

    30. QUẢNG TRỊ

    Quảng Trị tồn tại với tên gọi Cựu Dinh Quảng Trị thuộc vào trấn Thuận Hoá sau suốt gần 300 năm. Đến khi Gia Long lên ngôi năm 1802 đổi tên Cựu Dinh thành ding Quảng Trị. Năm 1827 thành Quảng Trị đổi tên thành Trấn Quảng Trị, năm 1832 trấn Quảng Trị đổi tên thành Tỉnh Quảng Trị .

    31. NGHỆ AN

    Nghệ An là danh xưng có từ năm 1030 thời nhà Lý, niên hiệu Thiên Thành thứ 2 đời Lý Thái Tông, lúc đó gọi là Nghệ An châu trại,cùng với Hà Tĩnh có cùng một tên chung là Hoan Châu thời Bắc thuộc, đời vua Lê Thánh Tông đổi thành xứ Nghệ, rồi trấn Nghệ An. Năm 1831, vua Minh Mệnh chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An và Hà Tĩnh.

    32. HÀ TĨNH

    Hà Tĩnh có tên gọi từ năm 1831, khi vua Minh Mệnh chia tách Nghệ An để đặt tỉnh Hà Tĩnh.

    33. THANH HOÁ

    Thanh Hóa là tỉnh chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Trung Việt Nam, là tỉnh có số lần sát nhập và chia tách ít nhất cả nước. Ở thời Nhà Đinh và Tiền Lê Thanh Hóa gọi là đạo Ái Châu. Ở thời Nhà Lý thời kỳ đầu gọi là trại Ái Châu, vào năm Thuận Thiên 1 tức năm 1009 gọi là Phủ Thanh Hóa. Năm 1469 lại đổi thành Thừa Tuyên Thanh Hoa, tên Thanh Hoa có từ đây.

    Năm 1802 đổi gọi là trấn Thanh Hóa, có thể do tên cũ trùng với tên một phi tần của vua. Năm 1831 đổi trấn thành tỉnh, bắt đầu gọi là tỉnh Thanh Hoa (Hoa: tinh hoa). Đến năm 1841 lại đổi thành tỉnh Thanh Hóa cho tới ngày nay.

    34. QUẢNG NGÃI

    Quảng Ngãi có thể là tên gọi mang ý nghĩa dải đất tình nghĩa. Năm 1602 Trấn Quảng Nam đổi thành dinh Quảng Nam, phủ Tư Nghĩa thuộc dinh Quảng Nam đổi thành phủ Quảng Nghĩa. Năm 1807, xã Cù Mông (sau là Chánh Mông rồi Chánh Lộ) được chọn làm nơi xây dựng tỉnh Quảng Nghĩa, năm 1832 tỉnh Quảng Nghĩa tức Ngãi được thành lập.

    35. BÌNH ĐỊNH

    Bình Định là tên do vua Nguyễn Ánh đặt năm 1799 sau khi hạ được thành Quy Nhơn, Nguyễn Ánh bèn cho đổi tên Bình Định, dụng ý thể hiện tư thế của người chiến thắng, có thể Nguyễn Ánh cho rằng mình đã vào tận đất phát tích của nhà Tây Sơn, bình định được “loạn đảng nguỵ Tây” theo cách nói của các vua triều Nguyễn trước đây.

    36. PHÚ YÊN

    Phú Yên thuộc quyền quản lý của Chăm Pa với tên gọi Ayaru cho đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh cầm quân đánh Chăm Pa đến tận đèo Cả, sau đó cho sát nhập vùng đất từ đèo Hải Vân tới đèo Cù Mông (phía bắc Phú Yên) vào lãnh thổ Đại Việt, từ đó vùng đất Ayaru là nơi tranh chấp thường xuyên giữa người Việt và người Chăm.

    Năm 1611, Nguyễn Hoàng sai tướng tấn công vào Aryaru, Chăm Pa thất bại, Nguyễn Hoàng sáp nhập Ayaru vào lãnh thổ Đàng Trong với tên gọi Phú Yên, với ước nguyện về một miến đất trù phú, thanh bình trong tương lai.

    37. KHÁNH HOÀ

    Khánh Hòa là tỉnh được thành lập năm 1831 từ trấn Bình Hòa, còn phủ Bình Hòa khi đó trở thành phủ Ninh Hòa. Khánh Hòa là phần đất cũ của xứ Kauthara thuộc vương quốc Chăm Pa. Năm 1653, lấy cớ vua Chiêm Thành là Bà Tấm quấy nhiễu dân Việt ở Phú Yên, Chúa Nguyễn Phúc Tần sai quan cai cơ Hùng Lộc đem quân sang đánh chiếm được vùng đất Phan Rang trở ra đến Phú Yên.

    38. NINH THUẬN

    Ninh Thuận là tên gọi xuất hiện đầu tiên với tư cách là phủ Ninh Thuận vào năm 1832 thời vua Minh Mạng, kéo dài đến năm 1888. Sau đó lập tỉnh Phan Rang, cũng gọi là tỉnh Ninh Thuận, từ 1945 tách nhập nhiều lần, đến nay được gọi lại tên cũ Ninh Thuận.

    39. BÌNH THUẬN

    Bình Thuận là tên gọi có từ năm 1697, khi chúa Nguyễn cho lập Bình Thuận Phủ gồm 2 huyện An Phước và Hòa Đa. Bình chỉ sự khai phá, bình định một vùng đất, Thuận là sự sinh sống hòa thuận mà ở đây là giữa 2 dân tộc Chămpa và Kinh, do lúc này vùng đất này chưa yên ổn nên chúa Nguyễn đặt tên như vậy. Năm 1827, thời vua Minh Mạng, Bình Thuận được đặt thành tỉnh.

    40. DAK NÔNG

    Đắk Nông đặt theo tiếng M’Nông có nghĩa là Nước (hoặc đất) của người M’Nông. Đắk Nông nằm ở cửa ngõ phía tây nam của Tây Nguyên, phía bắc và đông bắc giáp với địa phận tỉnh Đắk Lắk, phía đông và đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía nam giáp tỉnh Bình Phước, phía tây với Vương quốc Campuchia.

    41. DAK LAK

    Đắk Lắk có tên gọi đặt theo tiếng M’Nông nghĩa là “hồ Lắk”, với dak nghĩa là “nước” hay “hồ”. Đắk Lắk được xem là một trong những cái nôi nuôi dưỡng không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật nhân loại thế giới công nhận.

    42. GIA LAI

    Gia Lai nguồn gốc tên gọi bắt nguồn từ chữ Jarai, tên gọi của một tộc người bản địa có số dân đông nhất trong tỉnh, cách gọi này vẫn còn giữ trong tiếng của người Eđê, Bana, Lào, Thái Lan và Campuchia để gọi vùng đất này là Jarai, Charay,Ya-Ray có nghĩa là vùng đất của người Jarai, có thể là ám chỉ vùng đất của Thủy Xá và Hỏa Xá thuộc tiểu quốc Jarai xưa.

    43. KONTUM

    Kon Tum, theo ngôn ngữ Ba Na thì Kon là làng, Tum là hồ, chỉ tên gọi một ngôi làng gần một hồ nước cạnh dòng sông Đăk Bla mà hiện nay là làng Kon Kơ Nâm ở thành phố Kon Tum.

    44. LÂM ĐỒNG

    Lâm Đồng được thành lập từ việc sáp nhập tỉnh Lâm Viên với tỉnh Đồng Nai Thượng.

    Ý nghĩa tên gọi 63 tỉnh thành Việt Nam – Miền Nam

    45. SÀI GÒN – TP.HCM

    Thành phố Hồ Chí Minh vẫn được gọi phổ biến với tên cũ là Sài Gòn. Có nhiều thuyết về tên gọi Sài Gòn, nhưng thuyết được cho là đúng và hợp lí nhất đó là Brai Nagara là nguồn gốc. Bởi vì thế kỷ 18 vùng Gia Định xưa có hai địa danh Rai-gon thong (Sài Gòn thượng) và Rai-gon ha ( Sài Gòn hạ). Mà nguồn gốc của Rai gon là Brai Nagara hay Prey Nokor. Hơn nữa, địa danh này không có ý nghĩa trong tiếng Việt nên khả năng phiên âm từ tiếng dân tộc khác là có cơ sở.

    46. ĐỒNG NAI

    Đồng Nai có nguồn gốc tên gọi vẫn chưa rõ ràng. Dân gian quen giải thích do cánh đồng có nhiều nai. Cũng có ý kiến cho rằng Đồng trong Đồng Nai là cách gọi biến âm từ chữ Đờng trong Đạ Đờng (Sông Cái) của người Mạ; bởi vì còn có rất nhiều tên gọi khác bắt nguồn từ chữ Đồng (Đờng?) mà không phải là cánh Đồng: Đồng Tranh, Đồng Môn, Đồng Tràm, Đồng Trường… Vào thế kỷ 17, Đồng Nai hay vùng đất Đồng Nai là ám chỉ cả một vùng Nam Bộ rộng lớn của bây giờ.

    47. BÌNH DƯƠNG

    Bình Dương trong Địa chí Sài Gòn – Gia Định xưa cho rằng được lấy tên từ địa danh thời Trung cổ Trung Quốc, tên đất khởi nghiệp của vua Nghiêu. Khi làm vua, Nghiêu chỉ ở nhà tranh, vách đất, ăn mặc như thứ dân, ngày cày ruộng cùng dân, đêm đọc sách Thánh hiền, suốt thời gian vua cai trị dân chúng thái bình, thịnh trị, không trộm cắp, trên dưới hòa thuận an lành. Bình Dương nay là một phần của tỉnh Thủ Dầu Một xưa.

    Về tên gọi Thủ Dầu Một, nhiều người cho rằng có nguồn gốc từ tiếng Campuchia, nhưng phần đông tác giả khác đều nghĩ Thủ Dầu Một là một cụm từ tiếng Việt được hình thành từ sự kết hợp giữa hai thành tố Thủ (giữ) Dầu Một (tên đất), vì theo truyền khẩu thì đồn binh canh giữ tại Bình An nằm trên ngọn đồi có cây dầu lớn gọi là “cây dầu một” nên tên gọi Thủ Dầu Một ra đời.

    48. BÌNH PHƯỚC

    Bình Phước có tên gọi từ ngày 30/1/1971, khi Trung ương Cục miền Nam ra nghị quyết sáp nhập 2 tỉnh Bình Long, Phước Long thành một đơn vị trực thuộc Trung ương Cục.

    49. BÀ RỊA VŨNG TÀU

    Bà Rịa – Vũng Tàu là địa danh ghép bởi Bà Rịa và Vũng Tàu. Địa danh Bà Rịa là phiên âm tên nữ thần trấn sóng Chăm Po Riyak, cũng có thể được cấu tạo theo phương thức chuyển hóa từ nhân danh Nguyễn Thị Rịa người Phú Yên, năm 15 tuổi cùng đoàn lưu dân từ Dinh Trấn Biên vào nam, có công lớn trong việc khai khẩn vùng rừng núi Đồng Xoài.

    Vũng Tàu được thành lập năm 1895, tuy nhiên trong bộ Phủ biên tạp lục năm 1776 của Lê Quý Đôn đã nhắc đến chữ Vũng Tàu: “Đầu địa giới Gia Định là xứ Vũng Tàu, nơi hải đảo có dân cư”, đó chính là ba làng Thắng Nhất, Thắng Nhị, Thắng Tam được chúa Nguyễn Phúc Tần lập năm 1658, vùng đất này có ba mặt giáp biển, rất thuận lợi cho tàu bè đậu tránh gió trước khi vào Gia Định, nên về sau gọi là Vũng Tàu.

    50. TÂY NINH

    Tây Ninh từ thời xưa vốn là một vùng đất thuộc Thủy Chân Lạp, với tên gọi là Romdum Ray, có nghĩa là “Chuồng Voi” vì nơi đây chỉ có rừng rậm với muôn thú dữ như cọp, voi, beo, rắn,… cư ngụ. Tên gọi Tây Ninh có nghĩa là yên ổn về chính trị ở phía tây.

    51. LONG AN

    Long An là địa danh được hiểu theo nghĩa: An là yên ổn, an toàn. Long là đầy đủ, hưng thịnh, lớn, tốt đẹp.

    52. TIỀN GIANG

    Tiền Giang là địa danh được đặt theo tên sông Tiền, là vùng đất được người Việt trong đó phần lớn là từ vùng Ngũ Quảng đến khai hoang và định cư từ thế kỷ XVII. Sau nhiều lần thay đổi tên, thay đổi vùng địa lý, đến năm 1976 mới có tên chính thức là tỉnh Tiền Giang trên cơ sở hợp nhất tỉnh Mỹ Tho, tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho.

    53. VĨNH LONG

    Vĩnh Long âm Hán Việt có nhiều nghĩa, có thể ngụ ý: “sự thịnh vượng (long) bền lâu, mãi mãi (vĩnh)”. Tên Vĩnh Long, một thời được gọi Vãng Long nhưng “vãng” khó lý giải mối quan hệ ngữ nghĩa, vì nghĩa của “vãng” là “đi, đã qua, thường” không phù hợp với nghĩa của “vĩnh”, như trong từ ghép “vĩnh long”. Có thể lý giải con đường chuyển đổi ngữ âm cho dễ phát âm hơn, nhiều từ cũng chuyển từ inh sang ang như vậy.

    54. CẦN THƠ

    55. ĐỒNG THÁP

    56. BẾN TRE

    Bến Tre ngày xưa, theo cuốn “Monographie De La Province De Bến Tre” của tác giả Ménard in năm 1903, người Khơme gọi là Xứ Tre vì các giồng xứ này tre mọc rất nhiều, sau đó người dân lập chợ buôn bán và gọi là chợ Bến Tre, gọi tắt của bến xứ tre.

    57. AN GIANG

    An Giang xưa là đất Tầm Phong Long, về sau nước Chân Lạp dâng cho chúa Nguyễn, vua Gia Long tổ chức mộ dân đến khai hoang, đưa dân vào định cư trở thành một trong Nam Kỳ lục tỉnh thời nhà Nguyễn độc lập. Tên gọi An Giang nghĩa là dòng sông an lành có thể định cư lâu dài, ý nghĩa cho việc khuyến khích di dân khẩn hoang lập làng.

    58. KIÊN GIANG

    Kiên Giang là tỉnh được thành lập năm 1975, phần lớn là vùng đất thuộc trấn Hà Tiên cũ do Mạc Cửu khai phá vào thế kỷ XVII. Địa danh Kiên Giang có thể bắt nguồn từ tên một con sông ở Rạch Giá, đó là sông Kiên.

    59. HẬU GIANG

    Hậu Giang là địa danh có tên gọi bắt nguồn từ tên sông Hậu. Năm 1976 cũng từng có một tỉnh Hậu Giang thuộc miền Tây Nam Bộ, bị giải thể năm 1991 do bị chia thành tỉnh Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng, sau đó năm 2004 tỉnh Cần Thơ được chia thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang hiện nay.

    60. BẠC LIÊU

    Bạc Liêu được phát âm theo tiếng Hán Việt từ tiếng Triều Châu là “Pô Léo”, có nghĩa là xóm nghèo, làm nghề hạ bạc (chài lưới, đánh cá, đi biển). Ý kiến khác lại cho rằng “Pô” là “bót” hay “đồn”, còn “Liêu” có nghĩa là “Lào” (Ai Lao) theo tiếng Khơme, vì trước khi người Hoa kiều đến sinh sống, nơi đó có một đồn binh của người Lào. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng tên gọi Bạc Liêu xuất phát từ tiếng Khmer Po Loenh, nghĩa là cây đa cao.

    61. TRÀ VINH

    Trà Vinh là một địa danh gốc Khmer tên tiền thân là Tra Vang có thể là biến âm từ “prha trapenh” có nghĩa là ao, ao Phật hay ao linh thiêng. Vì cho rằng ngày xưa người ta đã đào được tượng Phật dưới ao ở vùng đất này. Thời nhà Nguyễn thì Trà Vinh là tên phủ sau thành huyện thuộc phủ Lạc Hóa tỉnh Vĩnh Long, được lập ra năm 1832.

    62. SÓC TRĂNG

    Sóc Trăng là biến âm của Sốc Trăng, xuất phát từ tiếng Khmer “Srock Khléang”. Srock có nghĩa là xứ, Khléang là kho chứa vàng bạc của vua. Trước kia người Việt viết là Sốc Kha Lăng, sau nữa biến thành Sốc Trăng. Tên Sốc Trăng đã có những lần bị biến đổi hoàn toàn. Thời Minh Mạng, đã đổi lại là Nguyệt Giang tỉnh, có nghĩa là sông trăng (sốc thành sông, tiếng Hán Việt là giang; trăng là nguyệt).

    63. CÀ MAU

    Cà Mau (cách viết cũ là Cà-mâu) là cái tên được hình thành do người Khmer gọi tên vùng đất này là “Tưk Kha-mau”, có nghĩa là nước đen, do lá tràm của thảm rừng tràm U Minh bạt ngàn rụng xuống làm đổi màu nước thành đen. Cà Mau là xứ đầm lầy ngập nước, có nhiều bụi lác mọc tự nhiên và hoang dã. Chính vì lẽ đó từ thuở xưa đã có câu ca dao: “Cà Mau là xứ quê mùa / Muỗi bằng gà mái, cọp tùa bằng trâu”.

    Nguồn + Ảnh: Blog Lạc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lần Đầu Lê Phương Để Lộ Tên Thật Con Gái Mới Sinh, Ý Nghĩa Tên Cực Hay
  • Chuyện Ít Biết Về Ý Nghĩa Tên Thật Các Nhóc Tì Nhà Sao Việt
  • Ý Nghĩa Của Tên Đạt & Những Tên Đệm Với Tên Đạt Ý Nghĩa
  • Giải Mã Ý Nghĩa Tên Đức Trí Được Chọn Đặt Cho Baby
  • Ý Nghĩa Tên Duy Và Gợi Ý Tên Đệm Cho Bé Tên Duy Hay Nhất
  • Nguồn Gốc Tên Gọi Của Một Số Tỉnh Thành Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Tên Gọi Kanji Của Các Tỉnh Nhật Bản
  • Bạn Có Biết: Cây Đỗ Quyên Có Ý Nghĩa Gì?
  • Bí Kíp Đặt Tên Chuẩn Cho Các Sản Phẩm Thực Phẩm Chức Năng
  • Độc Đáo Với Hình Xăm Chữ Tên Bản Thân
  • Ý Nghĩa Hình Xăm Mũi Tên
  • Bắc Giang

    Bắc Giang thuộc bộ Võ Ninh thời vua Hùng dựng nước Văn Lang, đời Lý – Trần gọi là łộ Bắc Giang, đời Lê là phủ Bắc Hà, năm 1822 đổi là phủ Thiên Phúc, đến đời Tự Đức là phủ Đa Phúc. Đến nay chưa thấy tài liệu nào chứng minh, nhưng tên gọi Bắc Giang có nghĩa là phía bắc sông.

    Trong ảnh là trung tâm Phủ Lạng Thương tức thành phố Bắc Giang nay trên một bưu tн¡ếp có dấu bưu điện ngày 7/5/1908.

    Bắc Kạn

    Bắc Kạn là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Bản sao bài văn Ъ¡ค “Tam hải hồ sơn chí” bằng tiếng Háห khắc trên đá dựng ở Bó Lù, bờ hồ Ba Bể, do tác giả Phan Đình Hoè áห รáт tỉnh Bắc Kạn viết, ông Vi Văn Thượng khắc và dựng Ъ¡ค năm 1925: Chữ “Kạn” trong từ Bắc Kạn có bộ “tài gẩy” bên chữ “Can”, âm Háห Việt đọc là “cản”, chữ này có nghĩa là “ngăn giữ, bảo vệ, chống cự” (phía bắc).

    Trong ảnh là một trang sách của cuốn “Chải tinh kỷ hoa” bằng chữ Nôm của dân tộc Tày, dân tộc chiếm hơn 50% dân số của tỉnh Bắc Kạn.

    Bắc Ninh

    1822 từ một phần xứ Kinh Bắc. Thời kỳ Hồng Bàng, nước Văn Lang chia làm có 15 bộ, bộ Vũ Ninh là vùng lãnh thổ thuộc phần lớn tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Tên gọi Bắc Ninh có thể từ Kinh Bắc và Vũ Ninh mà thành.

    Trong ảnh là cổng vào thành Bắc Ninh, thành cổ đầu tiên của Việt Nam được xây dựng theo hình lục giác, lúc đầu được đắp bằng đất, cho tới năm Minh мạหg thứ 6 (1825), thành được xây lại bằng đá ong và cuối cùng xây lại bằng gạch vào thời Thiệu Trị (1841).

    Cao Bằng

    Cao Bằng xưa thuộc bộ Vũ Định thời Hùng Vương, đến đời Lý về sau là đất Thái Nguyên. Năm 1467 gọi là phủ Bắc Bình, về sau đổi thành phủ Cao Bình. Năm 1676, nhà Lê thu phục từ tay nhà Mạc đặt lại thành trấn Cao Bình. Đến đời Tây Sơn, tên Cao Bình dần trại ra thành Cao Bằng cho đến bây giờ.

    Trong ảnh là thác Bản Giốc thời Pháp thuộc với nhóm lính tập và viên chỉ huy người Pháp (cưỡi ngựa) chụp bên thác.

    Điện Biên

    Điện Biên là vùng đất cổ. Điện Biên Phủ vốn được gọi là Mường Thanh, từ chữ Mường Then theo tiếng dân tộc Thái, nghĩa là Xứ trời. Đây được xem là vùng đất thiêng ở miền biên viễn, theo quan niệm xưa, là nơi thông trời đất. Tên gọi Phủ Điện Biên, hay Điện Biên Phủ được vua Thiệu Trị đặt vào năm 1841, chữ Điện hiểu theo nghĩa này nghĩa là một vùng núi to nhưng đất thiêng, là điện thờ, Biên là biên viễn.

    Trong ảnh là những người dân tộc Thái thu nhặt dù của quân Pháp tại chiến trường Điện Biên Phủ năm 1953-1954.

    Hà Giang

    Hà Giang, theo cách giải thích về nghĩa chữ là con sông nhỏ chảy vào dòng lớn. Cụ thể ở đây là Sông Miện chảy vào Sông Lô

    Trong ảnh là thị xã Hà Giang khoảng năm 1910, phía xa là núi Cấm, dưới chân núi là những phố phường đông đúc dân cư sầm uất.

    Hải Dương

    Hải Dương có tên chính thức từ năm 1469, ý nghĩa “Hải là miền duyên hải” vùng đất giáp biển, “Dương là áหh sáng” áหh mặt trời. Hải Dương nằm ở phía đông kinh thành Thăng Long. Hướng Đông cũng là hướng mặt trời mọc. Vì vậy Hải Dương có nghĩa là “ánh mặt trời biển Đông” hay “ánh sáng từ miền duyên hải (phía đông) chiếu về”. Trong “Dư địa chí”, Nguyễn Trãi đã đánh giá Hải Dương là trấn thứ nhất trong bốn kinh trấn và là phên giậu phía đông của kinh thành Thăng Long.

    Trong ảnh là thành Hải Dương tức Thành Đông năm 1885, một trong 4 thành trong Thăng Long tứ trấn.

    Cảng, thành phố Hoa phượng đỏ, thành lập vào năm 1888. Cái tên Hải Phòng có thể là gọi rút ngắn trong cụm từ “Hải tần phòng thủ” của nữ tướng Lê Chân đầu thế kỉ 1, hoặc từ tên gọi rút ngắn từ tên gọi của một cơ quan đời Tự Đức trên đất Hải Dương: Hải Dương thương chính quan phòng, cũng có thể bắt nguồn từ ti sở nha Hải phòng sứ hay đồn Hải Phòng do Bùi Viện lập từ năm 1871 đời Tự Đức.

    Trong ảnh là toàn cảnh thị xã Kiến An xưa nhìn từ núi Đấu Đong. Doanh trại lính khố đỏ nằm dưới chân núi, phía xa là núi Thiên Văn, tên gọi này bắt nguồn từ đài thiên văn do người Phá xây năm 1902 trên đỉnh núi. Kiến An nằm trong thung lũng của hai dãy núi Thiên Văn (tức Đẩu Sơn) và núi Cột Cờ (tức Phù Liễn).

    Cảng, thành phố Hoa phượng đỏ, thành lập vào năm 1888. Cái tên Hải Phòng có thể là gọi rút ngắn trong cụm từ “Hải tần phòng thủ” của nữ tướng Lê Chân đầu thế kỉ 1, hoặc từ tên gọi rút ngắn từ tên gọi của một cơ quan đời Tự Đức trên đất Hải Dương: Hải Dương thương chính quan phòng, cũng có thể bắt nguồn từ ti sở nha Hải phòng sứ hay đồn Hải Phòng do Bùi Viện lập từ năm 1871 đời Tự Đức.

    Trong ảnh là toàn cảnh thị xã Kiến An xưa nhìn từ núi Đấu Đong. Doanh trại lính khố đỏ nằm dưới chân núi, phía xa là núi Thiên Văn, tên gọi này bắt nguồn từ đài thiên văn do người Phá xây năm 1902 trên đỉnh núi. Kiến An nằm trong thung lũng của hai dãy núi Thiên Văn (tức Đẩu Sơn) và núi Cột Cờ (tức Phù Liễn).

    Hà Nam

    Hà Nam được thành lập năm 1890, Nam Định được tách ra thành tỉnh Thái Bình và một phần phía bắc tách ra để cùng một phần phía nam Hà Nội lập thành tỉnh Hà Nam. Hà lấy từ chữ Hà Nội, Nam lấy từ chữ Nam Định.

    Trong ảnh là sông Đáy chảy qua huyện Kim Bảng Hà Nam khoản năm 1950.

    Hà Nội

    Trong ảnh là Cửa Bắc, tức Chính Bắc Môn, một trong năm cổng của thành Hà Nội thời Nguyễn. Khi Pháp phá thành Hà Nội họ giữ lại cửa Bắc vì nơi đây còn hai vết đại bác do pháo thuyền Pháp bắn từ sông Hồng năm 1882 khi Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai. Ngày nay trên cổng thành là nơi thờ hai vị tổng đốc Hà Nội là Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu.

    Hòa Bình

    Hòa Bình là tỉnh được thành lập năm 1886 theo nghị định của Kinh lược Bắc Kỳ với tên gọi là tỉnh Mường. Tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Chợ Bờ nên cũng còn gọi là tỉnh Chợ Bờ, cuối năm 1886 chuyển về xã Phương Lâm, năm 1888 đổi tên thành tỉnh Phương Lâm. Năm 1896 tỉnh lỵ được chuyển về đóng tại xã Hòa Bình, phía bờ trái sông Đà, đối d¡ệห với Phương Lâm và từ đó gọi là tỉnh Hòa Bình, sau nhiều lần tách nhập, đến nay vẫn giữ tên gọi này.

    Trong ảnh là hình ảnh tư liệu việc nổ mìn thi công kênh dẫn dòng nhà máy thủy điện Hòa Bình năm 1979.

    Hưng Yên

    bình, tỉnh được thành lập năm 1831 gồm các huyện Đông Yên, Kim Động, Thiên Thi, Tiên Lữ, Phù Dung của trấn Sơn Nam và Thần Khê, Hưng Nhân, Duyên Hà của trấn Nam Định. Vùng đất Hưng Yên nổi danh từ thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh đã nổi tiếng do có Phố Hiến, dân gian có câu “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến”.

    Lai Châu

    Lai Châu có tên gọi xuất phát từ chữ châu Lay. Vào đầu thế kỷ X, các thủ lĩnh Thái chiếm vùng đất này đã đặt tên là Mường Lay, năm 1435 Dư địa chí của Nguyễn Trãi ghi là châu Lai do phiên âm chữ Lay.

    Lạng Sơn

    Lạng Sơn là một trong 13 tỉnh được vua Minh мạหg thành lập đầu tiên ở Bắc Kỳ (năm 1831), tên gọi xuất phát từ danh xưng “xứ Lạng”.

    Trong ảnh là chợ Bắc Lệ nay thuộc xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, chụp năm 1915.

    Lào Cai

    Lào Cai là cách phát âm của người địa phương đọc chữ Lão Nhai có nghĩa là Phố Cũ hoặc Chợ Cũ. Người địa phương thường gọi Bảo Thắng, là khu phố do Lưu Vĩnh Phúc xây dựng nằm ở vùng thuộc thị xã Lào Cai ngày nay bằng tên Lảo Kay, sau đó người Pháp cũng phiên âm lại cách gọi đó bằng chữ Latinh là Lao Kai hoặc Lao Kay.

    Nam Định

    Nam Định có nguồn gốc tên gọi từ năm 1822, khi triều Nguyễn đổi tên trấn Sơn Nam Hạ thành trấn Nam Định, chữ Nam có từ thời Lê nghĩa là phía Nam chữ Định nghĩa là bình định là chữ nhà Nguyễn đặt cho nhiều vùng đất. Năm 1832 đổi trấn Nam Định thành tỉnh Nam Định (bao gồm cả Thái Bình và một phần đất Hà Nam hiện nay). Năm 1890, Thái Bình tách ra thành tỉnh riêng và một phần phía bắc Nam Định tách ra để cùng một phần phía nam Hà Nội lập thành tỉnh Hà Nam.

    Trong ảnh là chợ Nam Định khoảng năm 1900-1910.

    Ninh Bình

    Ninh Bình nghĩa là phẳng lặng, yên ổn, yên tĩnh có tên là đạo Ninh Bình từ năm 1822, năm 1831 đổi thành tỉnh Ninh Bình.

    Phú Thọ

    Phú Thọ là tên gọi xuất phát từ tên làng Phú Thọ thuộc tổng Yên Phú, huyện Sơn Vi, tỉnh Hưng Hóa mà lập nên thị xã Phú Thọ năm 1903. Sau đó Pháp chuyển tỉnh lỵ của tỉnh Hưng Hóa lên thị xã Phú Thọ và đổi tên tỉnh Hưng Hóa thành tỉnh Phú Thọ.

    Quảng Ninh

    Quảng Ninh là vùng đất lịch sử lâu đời. Ở khu vực Vịnh Hạ Long đã khảo cổ được di chỉ của người tiền sử từ 3000 – 1500 năm TCN. Khi hình thành Nhà nước đầu tiên của người Việt, thời Hùng Vương vùng đất Quảng Ninh nay là bộ Lục Hải. Một trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang. Thời Phong kiến khu vực tỉnh Quảng Ninh hiện nay có tên lần lượt là: Lục Châu, łộ Đông Hải, łộ Hải Đông, trấn An Bang, tỉnh Quảng Yên. Sau này Quảng Yên được tách ra thành nhiều đơn vị khác, trong đó có Hải Ninh, về sau Quảng Yên cùng với Hải Ninh và các đơn vị này nhập thành Quảng Ninh bây giờ. Như vậy Quảng Ninh hiện nay gần như là Quảng Yên cũ.

    Trong ảnh là Hòn Gai, chụp năm 1915.

    Sơn La

    Sơn La có tên gọi xuất phát từ nguồn gốc của Nậm La, một phụ lưu cấp 2 của sông Đà. Sơn La trước năm 1479 phần lớn là lãnh thổ của vương quốc Bồn мคห, chính thức được รáp หнập vào Đại Việt năm 1749. Năm 1886 thành lập châu Sơn La thuộc phủ Gia Hưng tỉnh Hưng Hoá. Năm 1895 thành lập tỉnh Vạn Bú, tỉnh lỵ ở Vạn Bú tức Tạ Bú, ngày 23/8/1904 đổi tên thành tỉnh Sơn La.

    Trong ảnh là toàn cảnh các công trình của Pháp trên đồi Khau Cả, Sơn La, khoảng năm 1930-1940.

    Thái Bình

    Thái Bình với tên gọi phủ Thái Bình gồm phần lớn đất đai tỉnh Thái Bình ngày nay có từ năm 1005 với sự kiện đổi tên đất Đằng Châu thành phủ Thái Bình. Ngày 21/3/1890 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định lấy phủ Kiến xươหg tách từ tỉnh Nam Định và huyện Thần Khê tách từ tỉnh Hưng Yên và รáp หнập vào phủ Thái Bình để lập tỉnh Thái Bình, còn phủ sau đổi tên là Thái Ninh.

    Trong ảnh là cảnh một khu chợ ở Thái Bình năm 1945.

    Vĩnh Phúc

    Vĩnh Phúc được thành lập vào ngày 12/2/1950 do kết hợp hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên, nhưng do nhiều lần tách nhập nên Vĩnh Phúc hiện nay bao gồm tỉnh Vĩnh Yên và thị xã Phúc Yên trước đây. Trong thời kỳ Pháp tạm chiếm đóng miền Bắc giai đoạn 1946-1954, tỉnh này còn có tên gọi là tỉnh Vĩnh Phúc Yên.

    Toàn cảnh thị xã Tam Đảo xưa.

    Yên Bái

    Yên Bái là tên được lấy từ tên làng Yên Bái, khi ngày 11/4/1900 thực dân Pháp thành lập tỉnh Yên Bái gồm có phủ Trấn Yên, hai châu Văn Chấn, Văn Bàn và thị xã tỉnh lỵ đặt tại làng Yên Bái. Từ năm 1910 – 1920 chuyển châu Lục Yên (tỉnh Tuyên Quang) và châu Than Uyên (tỉnh Lai Châu) vào tỉnh Yên Bái, từ năm 1945 đã có nhiều lần tách nhập một phần hoặc cả tỉnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảng Ý Nghĩa Tên Nhân Vật
  • 450 Tên Nhân Vật Anime Có Ý Nghĩa
  • Ý Nghĩa Tên Nhân Vật
  • Nhược Hi – Càng Trách Lại Càng Thương
  • Tâm Là Gì? Có Chân Tâm Và Vọng Tâm Không?,
  • Các Loại Bánh Ở Việt Nam Có Mục Đích Và Ý Nghĩa Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên 56 Loại Bánh Ngọt Ngon Nhất Thế Giới, Bánh Ngọt Pháp, Nhật, Hàn, Mỹ Với Đầy Đủ Trong Thế Giới Bánh Ngọt
  • Ý Nghĩa Của Các Loại Bánh Truyền Thống Đón Năm Mới Trên Thế Giới
  • Ý Nghĩa Đặc Biệt Của Những Món Bánh Nổi Danh Trên Thế Giới
  • Lý Giải Thú Vị Về Tên Gọi Các Loại Bánh
  • Thứ Tự Của Các Hành Tinh Trong Hệ Mặt Trời: Hành Tinh Nào Gần Mặt Trời Nhất?
  • Văn hoá ẩm thực Việt Nam bao gồm một loạt các loại bánh với phong cách và hương vị khác nhau. Mặc dù tất cả các loại bánh, bánh nướng, bánh ngọt nướng, bánh miến, bánh mỳ, và các loại bánh được gọi là ” Banh ” bằng tiếng Việt, bản dịch của bất kỳ loại thực phẩm nào cũng không thể giải thích đầy đủ và chính xác sự đa dạng của món ăn Việt Nam đặc biệt này mục. Thật thú vị, tên của chúng được gọi bằng thành phần, hình dạng, ý nghĩa, nơi ban đầu hoặc thậm chí các phương pháp tạo ra chúng. Có thể mất thời gian để liệt kê tất cả ” Bánh ” của người Việt Nam , vì thế bài viết này sẽ cố cung cấp cho bạn một đoạn ngắn nhưng càng sâu càng tổng quan về bánh Việt Nam ngon.

    Bánh Việt Nam có nhiều mục đích khác nhau

    Không giống như các nước phương Tây, nơi bánh thường được phục vụ như món tráng miệng, bánh Việt Nam trong hầu hết các trường hợp đều được coi là món chính, đặc biệt là bữa sáng (xem 9 loại thực phẩm ăn sáng phổ biến nhất ở Việt Nam ). Bánh mì baguette Việt Nam ( Banh Mi ) là một ví dụ phổ biến. Baguette Việt Nam rất quen thuộc với mọi người Việt Nam, từ trẻ đến già, từ học sinh đến nhân viên văn phòng, vì nó là một trong những thức ăn nhanh nhất và rẻ nhất để giảm bớt đói. Banh Mi đặc trưng này có vỏ và khá rỗng, thường giữ ấm để được phục vụ tươi nóng và những thứ được làm bằng may mặc tùy theo sở thích cá nhân của bạn, có thể là thịt nướng xắt lát, bánh pê-tơ, hoặc bơ đậu phộng.

    Một món ăn sáng với bánh Việt là bánh gạo ( Bánh Cuốn ), một món đặc sản từ miền Bắc Việt Nam. Một trong những phiên bản nổi tiếng nhất của loại bánh này được gọi là Bánh Cuốn Thanh Trì ở Hà Nội. Nướng với thịt heo xông khói, chiên xào, nêm đậu và nước mắm tao nhã. Bánh mì nướng xắt lát.

    Mặt khác, bánh đậu xanh ( Bánh Đậu Xanh ) thường được phục vụ như đồ ăn nhẹ, giống như bánh bích quy, khi uống trà. Hương vị ngọt của bánh trộn với trà sen là một kết hợp hoàn hảo khi chúng ta thưởng thức một ngụm trà. Sự kết hợp này thực sự có sức mạnh đưa mọi người đến gần nhau trong bầu không khí ấm áp. Và để nhấn mạnh sự khác biệt Bánh bí, Bánh Dậu Xanh được làm từ đường và bột đậu xanh – hãy tưởng tượng việc làm macaroon ở nơi khác trên thế giới!

    Những món ăn là một trong những tính năng nổi bật nhất của các món ăn truyền thống Việt Nam, một bằng chứng về vai trò đa năng của bánh Việt ( Banh ) trong tính mạng hàng ngày họ không chỉ được sử dụng như bữa ăn nhẹ hoặc món tráng miệng, mà còn là một món ăn quan trọng trong bữa ăn chủ yếu là chính .

    Bánh Việt Nam có nhiều ý nghĩa khác nhau

    Bánh Việt không phải là những thứ ẩm thực thuần túy, chúng cũng nhúng vào văn hoá Việt Nam. Hai trong số những chiếc bánh phổ biến nhất trong dịp Tết là Banh Chung (bánh Chung Cake hoặc Square Rice Cake) và Banh Day(Day Cake), tượng trưng cho bầu trời và trái đất tương ứng. Banh Chung làm từ gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn và các thành phần khác có hình vuông, được gói bằng lá Dong và dây Giáng sinh. Banh Day làm từ nếp nhăn có hình tròn nhưng là một công thức đơn giản hơn. Từ khi có nguồn gốc từ triều đại Hồng Bàng, hai yếu tố không thể thiếu của tổ tiên người Việt này là linh hồn của Việt Nam năm mới âm lịch, vì nó là cách mà người Việt Nam thờ cúng tổ tiên và quê hương để bày tỏ lòng biết ơn và mong được hạnh phúc năm mới.

    Một chiếc bánh có ý nghĩa nữa là Bánh Phụ (hay Xu Xe), có thể dịch như bánh Conjugal . Bánh này được làm từ bột khoai mì, pandanus, đậu xanh, dừa và các thành phần khác. Nó có cấu trúc giống như thạch, với lớp vỏ trong suốt cho thấy hỗn hợp màu vàng bên trong, và được gói bằng hai hộp vuông. Xuất hiện ở đám cưới, chiếc bánh này là biểu tượng của một cuộc hôn nhân vững chắc và vĩnh cửu, giống như lời hứa của cả cô dâu và chú rể.

    Bánh Việt Nam đến từ các vùng khác nhau

    Do đặc thù địa lý và văn hoá khác nhau, mỗi vùng của Việt Nam đều tự hào về các loại bánh đặc biệt và độc đáo. Trong khi Hà Nội ở miền Bắc Việt Nam có Bánh Khúc (Bánh Khúc), tỉnh Sóc Trăng ở miền Nam cũng có đặc sản riêng, Bánh Pia (Bánh Pia). Bánh Khúc là một quả bóng gạo làm bằng gạo nếp, ướp muối, đậu heo và là một phần quan trọng của tuổi thơ của hầu hết người Hà Nội. Bánh Pía là một tuyên bố về bánh nổi tiếng của Sóc Trăng, nằm ở miền Nam Việt Nam. Nó được làm từ bột mì, sầu riêng và lòng đỏ trứng. Một trong những đặc điểm chính của chiếc bánh tròn này là nó được bao phủ bởi nhiều lớp làm từ bột mì.

    Quay lại trung tâm của Việt Nam, ở đây chúng ta có Hội An hoa hồng trắng bánh ( banh vac ), được đặt tên theo nó hình dáng đẹp và thơm hoa hồng. Nó được làm từ gạo, đầy tôm và gia vị. Do phương pháp chế biến phức tạp và tỉ mỉ, món ăn này chính là bánh bao, phục vụ với nước sốt làm từ tôm canh, ớt và chanh.

    Bánh Việt Nam có nhiều hương vị khác nhau

    Bánh quy Việt Nam rất lớn là một bữa tiệc thật sự của màu sắc đối với đôi mắt và hương vị của lưỡi. Từ các vùng đến các vùng, thành phố đến các thành phố, Banh Việt xuất hiện ở khắp mọi nơi, từ hương vị ngọt đến mặn. Trong loại bánh ngọt, chúng tôi có bánh gạo nếp (hay Banh Com), được làm từ gạo nếp xanh tươi ( Banh com ) và đậu xanh. Bánh ngọt này thực sự là một món quà của Hà Nội, và nơi nổi tiếng nhất sản xuất những món ăn tốt nhất là làng Vọng.

    Và đó là sai lầm của chúng tôi không bao gồm các Bánh Huế truyền thống , đó là Bánh Bèo , Bánh Mì , Bánh Lộc , trong loại bánh mặn. Những chiếc bánh này được làm từ bột gạo (nhưng lại khó khăn hơn khi làm Bánh Lộc), tôm, thịt heo và gia vị và thường dùng với nước mắm làm từ ớt và tỏi. Những chiếc bánh đặc biệt này mang đến danh tiếng ẩm thực Huế truyền thống và đã đánh cắp trái tim của nhiều người sành ăn không chỉ ở Việt Nam mà còn từ các nước khác.

    Bánh Việt Nam có nhiều phiên bản khác nhau

    Bánh Việt Nam không chỉ đa dạng về phong cách, chủng loại, mục đích và trong các phiên bản của một loại. Lấy Banh It (bánh nhỏ) làm ví dụ. Banh It La Gai là một đặc sản của tỉnh Bình Định. Bánh này được làm từ gạo nếp, đậu xanh, một thành phần đặc biệt gọi là “La Gai” (Thorn Leaf), gói trong lá chuối. Bánh ngọt trông giống như một quả bóng đen, bao phủ những thứ màu vàng bên trong. Một phiên bản khác của Banh It là Bánh Nó Tôm Thít (bánh nhỏ với thịt lợn và tôm) của thành phố Huế. Bánh mì này cũng được làm từ gạo nếp, nhồi thịt lợn và thịt lợn băm nhỏ và được cho ăn với nước mắm.

    Một ví dụ khác để xem là Bánh Xeo (Việt Nam Crepes) và Bánh Khoai (Khoai Bánh). Bánh Xeo phổ biến ở các thành phố miền Nam Việt Nam hoặc Quảng Bình, trong khi Khoai Bánh (Pancake) là món ăn đặc biệt của thành phố Huế. Hai loại bánh này trông giống như bánh crepe với lớp làm bằng bột gạo và nhồi với thịt heo, tôm, giá đỗ và các thành phần khác. Cả hai đều được phục vụ với nước mắm và rau tươi. Tuy nhiên, bánh Thành phố Huế nhỏ hơn nhưng dày hơn Bánh Xeo. Đây chỉ là một cái nhìn nhanh về sự đa dạng của bánh Việt Nam, ngay cả giữa các thành phố trong khu vực miền Trung hoặc giữa khu vực miền Trung và khu vực phía Nam.

    Có rất nhiều bánh khác để giới thiệu, thậm chí còn nhiều món ăn để mô tả. Một lần đi du lịch ở Việt Nam, hãy chắc chắn không bỏ lỡ cơ hội để khám phá toàn bộ thế giới của bánh Việt Nam một mình. Một chiếc bánh để thử, một hương vị để cuối cùng mãi mãi!

    http://daylambanhaau.deviantart.com/

    https://github.com/daylambanhaau

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quen Thuộc Là Vậy, Rất Nhiều Người Vẫn Không Đoán Được Ý Nghĩa Thật Sự Đằng Sau Cái Tên Của Những Loại Bánh Này
  • Tên Vũ Thiện Trí Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Vũ Thiện Nhân Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Trần Ngọc Mỹ Anh Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Dương Nguyên Phương Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Ý Nghĩa Tên Gọi Các Địa Danh Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Tuyển Sinh Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
  • “mường” Là Gì? Nghĩa Của Từ Mường Trong Tiếng Việt. Từ Điển Việt
  • Dân Tộc Mường Có Từ Bao Giờ?
  • Đặc Sắc Chiếc Khăn Đội Đầu Người Mường
  • Ý nghĩa tên gọi các địa danh Việt Nam [Bắc Bộ]

    Ô Quan Chưởng xưa

    Người ta thường nói Hà Nội có năm cửa ô. Đó là các cửa còn lưu lại địa danh

    như ô Cầu Giấy, ô Cầu Dền, ô chợ Dừa, ô Đống Mác và ô Quan Chưởng.

    Nhưng thực ra tài liệu xưa cho biết vào giữa thế kỷ XVIII, Hà Nội vẫn còn

    mười sáu cửa ô. Còn hiện nay thì chỉ còn duy nhất một cửa ô Quan Chưởng là

    còn lưu lại dấu tích.

    Trong kế hoạch xây dựng biểu tượng kỷ niệm nghìn năm Thăng Long – Hà Nội,

    có người đưa ra ý kiến nên xây dựng một cửa ô phía nam thành phố, nhưng

    không biết đấy có phải là hình ảnh tiêu biểu của Hà Nội không. Trong khi chờ

    đợi chúng ta hãy xem lại cửa ô xưa.

    Vào triều vua Lê Hiến Tông (1740-1786) niên hiệu Cảnh Hưng, Thăng Long có

    mười sáu cửa ô. Đấy là những cổng nằm trên La Thành, một thành đất bao

    quanh thành phố, không có hình dáng nhất định mà phụ thuộc vào địa hình, vì

    mục đích của thành này ngoài việc bảo vệ an ninh cho thành phố, còn có tác

    dụng phòng lụt khi nước sông Hồng lên cao.

    Trong tập Ký sự lên kinh, thầy thuốc nổi tiếng Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu

    Trác đã mô tả một cửa ô khi ông đi qua vào khoảng năm 1781 như sau: “Đi qua

    cửa Vũ Quan vào thành. Chỉ thấy một cái thành đất không cao lắm. Bên cạnh là

    một cái tường nhỏ, trên mặt tường là đường xe ngựa đi, ở mé ngoài là hàng rào

    tre kín mít. Dưới chân tường là hào sâu. Trong hào thả chông xem ra rất kiên

    người trong bờ nghe rõ: “Theo lệnh quan trên, thủ cấp này phải trầm hà!”

    Câu chuyện quan Chưởng cơ bị bêu đầu được lan truyền trong tổng Đồng

    Xuân, từ đấy ai đi qua cửa ô cũng gọi là ô Quan Chưởng, dần dần về sau cái tên

    cũ ô Thanh Hà không được nhắc đến nữa.

    Ô Quan Chưởng ngày nay

    Ngày nay, ô Quan Chưởng là cửa ô duy nhất còn lại của Hà Nội, không những

    là vết tích của Thăng Long – Hà Nội xưa, mà còn là bằng chứng tinh thần đấu

    tranh bất khuất của nhân dân trong vùng.

    Ngày nay, đi qua đây, có mấy ai biết đến câu chuyện xảy ra cách đây tuy không

    xa lắm, nhưng đang dần đi vào quên lãng? Đi đến đây ta chỉ thấy một nơi tập

    kết các xe chở hàng của một trung tâm buôn bán sầm uất, khách qua đường

    không có chỗ dừng chân.

    Điều duy nhất còn an ủi chúng ta là ngay tại góc phố nhìn ra cửa ô, còn có hàng

    bún ốc nổi tiếng của bà Xuân, mà du khách có thể ngồi lại để thưởng thức một

    món ăn truyền thống của Hà Nội.

    Trong khi chờ đợi, nhìn bàn tay thoăn thoắt của bà chủ quán vừa gắp bún, vừa

    khều ốc, cầm chiếc gáo nhỏ múc nước giấm bỗng, du khách có thể lặng lẽ quan

    sát từng viên gạch vồ trên tường thành, nơi đã chứng kiến biết bao biến thiên

    của đất Hà thành.

    Xuất xứ tên gọi Hạ Long

    Từ trước thế kỷ thứ XIX, tên vịnh Hạ Long chưa được ghi chép trong

    những thư tịch cổ nước ta, mà vùng biển này được biết đến với những

    tên An Bang, Lục Thủy, Vân Đồn Đến cuối thế kỷ XIX, tên vịnh Hạ

    Long mới xuất hiện trên các bản đồ hàng hải của Pháp. Trên tờ “Tin tức

    Hải Phòng” xuất bản bằng tiếng Pháp đã đưa tin: “Rồng xuất hiện trên

    vịnh Hạ Long”. Câu chuyện được tóm tắt như sau: Năm 1898, viên

    thiếu úy Lagơrêdin, thuyền trưởng tàu Avalăngsơ đã gặp một đôi rắn

    biển khổng lồ ba lần trên Vịnh Hạ Long. Không chỉ riêng viên thiếu úy

    mà có rất nhiều thủy thủ khác trên tàu cùng chứng kiến. Người Châu

    Âu liên tưởng, con vật này giống như con rồng châu Á. Cũng vì sự xuất

    hiện của con vật kì lạ ấy mà vùng này được gọi là vịnh Hạ Long.

    Vịnh Hạ Long

    Cũng có một giả thiết khác về tên gọi này, đó là theo một huyền thoại

    xưa cho rằng tên gọi Hạ Long gắn liền với câu chuyện về đàn rồng

    xuống giúp dân Việt đánh giặc ngoại xâm. Chuyện kể: “Ngày xưa, khi

    người Việt mới dựng nước, nhân dân đang sống yên ổn thì bị giặc

    ngoại bang xâm lấn bờ cõi nước ta. Trước thế giặc mạnh, trời sai rồng

    mẹ mang theo một đàn rồng con xuống giúp người Việt đánh giặc. Khi

    thuyền giặc từ biển cả ào ạt tấn công vào bờ thì đàn rồng cũng lập tức

    hạ giới phun ra vô số châu ngọc. Những châu ngọc ấy thoắt biến thành

    muôn vàn đảo đá sừng sững, liên kết lại như bức tường thành vững

    chãi. Thuyền giặc đang lao nhanh bất ngờ bị chặn lại liền đâm vào các

    đảo đá, xô vào nhau vỡ tan tành. Sau khi giặc tan, thấy cảnh hạ giới

    thanh bình, cây cối tươi tốt, con người nơi đây lại cần cù, chịu khó,

    đoàn kết giúp đỡ nhau. Rồng mẹ và rồng con không trở về trời, mà ở lại

    hạ giới. Chỗ rồng mẹ xuống là Hạ Long, nơi rồng con xuống chầu bên

    rồng mẹ là Bãi Tử Long. Đuôi của đàn rồng quẫy lên trắng xóa là Long

    Vỹ (tức bán đảo Trà Cổ ngày nay).”

    Như vậy, những giả thiết về tên gọi vịnh Hạ Long vẫn được hiểu theo

    các truyền thuyết và chuyện kể được lưu truyền trong dân gian. Song

    qua những chuyện kể dân gian đó, chúng ta lại thêm yêu và tự hào về

    một di sản thiên nhiên đã được thế giới công nhận.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Khủng Bố Nguyễn Trung Trọng Nghĩa Vừa Nhập Cảnh Về Việt Nam Đã Bị Bắt
  • Tên Nguyễn Thế Dũng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Trọng Hoàng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Ngọc Thùy Dương Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Ý Nghĩa Bát Cháo Hành Trong Tác Phẩm Chí Phèo Của Nam Cao
  • Tên Hán Việt Các Tỉnh Nhật Bản (Japan Prefectures 都道府県)

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Nguyễn Thu Ngân Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Trần Thúy Nga Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Phạm Thúy Nga Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Đậu Bích Nga Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Diệu Nga Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Published on

    Tên hán việt, kanji và hiragana các tỉnh Nhật Bản có kèm chú thích về ý nghĩa.

    1. 2. chúng tôi 2 TÊN HÁN TỰ CÁC TỈNH NHẬT BẢN 都道府県名 ひらがな / Rōma-ji / Hán Việt Mã địa phương Loại 福井 ふくい Fukui phúc tỉnh giếng phúc 18 ~県(けん) huyện 山梨 やまなし Yamanashi sơn lê cây lê núi 19 ~県(けん) huyện 長野 ながの Nagano trường dã cánh đồng dài 20 ~県(けん) huyện 岐阜 ぎふ Gifu kỳ phụ mô đất mũi 21 ~県(けん) huyện 静岡 しずおか Shizuoka tĩnh cương đồi tĩnh lặng 22 ~県(けん) huyện 愛知 あいち Aichi ái tri tình yêu tri thức 23 ~県(けん) huyện 三重 みえ Mie tam trọng (trùng) ba lớp 24 ~県(けん) huyện 滋賀 しが Shiga từ hạ lời chúc từ bi 25 ~県(けん) huyện 京都 きょうと Kyōto kinh đô kinh đô 26 京都府 kinh đô phủ きょうとふ 大阪 おおさか Ōsaka đại phản con dốc lớn 27 大阪府 đại phản phủ おおさかふ 兵庫 ひょうご Hyōgo binh khố kho lính 28 ~県(けん) huyện 奈良 なら Nara nại lương nại lương 29 ~県(けん) huyện 和歌山 わかやま Wakayama hòa ca sơn núi bài hát Nhật 30 ~県(けん) huyện 鳥取 とっとり Tottori điểu thủ lấy chim 31 ~県(けん) huyện 島根 しまね Shimane đảo căn gốc đảo 32 ~県(けん) huyện 岡山 おかやま Okayama cương sơn đồi núi 33 ~県(けん) huyện 広島 ひろしま Hiroshima quảng đảo đảo rộng 34 ~県(けん) huyện 山口 やまぐち Yamaguchi sơn khẩu cửa núi 35 ~県(けん) huyện
    2. 4. chúng tôi 4 都道府県名 [đô đạo phủ huyện danh] ひらがな / Rōma-ji / Hán Việt Mã địa phương Loại 徳島 とくしま Tokushima đức đảo đảo đạo đức 36 ~県(けん) huyện 香川 かがわ Kagawa hương xuyên sông hương 37 ~県(けん) huyện 愛媛 えひめ Ehime ái viện cô gái đẹp yêu kiều 38 ~県(けん) huyện 高知 こうち Kōchi cao tri tri thức cao 39 ~県(けん) huyện 福岡 ふくおか Fukuoka phúc cương đồi phúc 40 ~県(けん) huyện 佐賀 さが Saga tá hạ trợ giúp chúc tụng 41 ~県(けん) huyện 長崎 ながさき Nagasaki trường khi mũi đất nhô dài 42 ~県(けん) huyện 熊本 くまもと Kumamoto hùng bản gốc gấu 43 ~県(けん) huyện 大分 おおいた Ōita đại phân phần lớn 44 ~県(けん) huyện 宮崎 みやざき Miyazaki cung khi mũi đất cung điện 45 ~県(けん) huyện 鹿児島 かごしま Kagoshima lộc nhi đảo đảo hươu non 46 ~県(けん) huyện 沖縄 おきなわ Okinawa xung trừng (thằng) dây thừng ngoài khơi 47 ~県(けん) huyện Tổng số 47 đô đạo phủ huyện 1 đô (thủ đô), 1 đạo, 2 phủ, 43 huyện (tỉnh)

    Recommended

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Nguồn Gốc Tên Gọi Các Địa Danh Trên Đất Nước Việt Nam
  • Tên Gọi Của Bạn Có Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Ra Sao? (P.1)
  • Tên Con Nguyễn Trí Nhân Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Đặt Tên Cho Con Nguyễn Trí Nhân 47,5/100 Điểm Trung Bình
  • Tên Nguyễn Trí Nhân Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • List 30 Các Giống Vẹt Ở Việt Nam Dễ Nuôi Và Được Nhiều Người Ưa Chuộng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Của Con Vẹt Corella (11 Ảnh): Làm Thế Nào Bạn Có Thể Đặt Tên Cho Một Bé Trai Và Một Bé Gái?
  • Đặt Tên Cho Con Theo Màu Sắc
  • Thiên Di Nghĩa Là Gì? Đặt Tên Cho Con Gái Được Không?
  • Nghìn Lẻ Một Cách Đặt Tên Nghĩa Hán Việt Hay, Ý Nghĩa Cho Con
  • Cách Đặt Tên Con Cháu Theo Gia Phả Họ Văn Như Thế Nào
  • Giống vẹt này có danh hiệu “chú hề của thế giới” nhờ vào tập tính bay nhảy của chúng. Vẹt Sun Conure thường bay và treo ngược người, lắc lư trông rất vui mắt. Thuộc các loại biết nói ở Việt Nam nên tính xã hội hóa khá cao, sống tình cảm và dễ nuôi dạy. Người ta tìm thấy loài này chủ yếu Đông Bắc Nam Mỹ.

    Vẹt ngực hồng hay còn gọi là vẹt ngực đỏ sống ở nhiều nơi trên thế giới. Đặc điểm nổi bật của loài vẹt này là màu lông hồng nhạt trước ngực. Phần thân trên thì đa phần có màu xanh lá, gần mỏ có vệt lông đen khá lớn.

    Tên tiếng Anh của loài vẹt này là African Grey Parrot. Trong các loại vẹt biết nói ở Việt Nam thì vẹt xám châu Phi là loài có tốc độ học rất nhanh. Thời gian để nói được hoàn chỉnh chỉ mất khoảng 1 năm, thậm chí còn nhanh hơn cả một đứa trẻ sơ sinh.

    Giống vẹt thân thiện nhất chắc chắn thuộc về vẹt mào. Bạn sẽ dễ dàng nhận ra một chú vẹt mào nhờ vào chiếc mào to và nổi bật trên đầu. Chiếc mào này được nhận xét là khá nữ tính. Loài vẹt này có giá thành khoảng vài triệu đồng, khá cao so với một chú chim cảnh.

    Còn có tên gọi khác là vẹt Mẫu Đơn, vẹt Lovebird, các loại vẹt Uyên Ương có màu lông đa dạng, thường là màu xanh lá pha với đỏ, cam hoặc có thể là màu xám. trong các loài vẹt biết nói ở Việt Nam thì khả năng nói của loài vẹt này khá tốt và nói nhiều, có thể gây ồn ào nhưng nhìn chung thân thiện và trung thành.

    Xuất xứ từ Australia nhưng cũng được ưa chuộng tại Việt Nam, vẹt xám Australia có mức độ phổ biến cao, chỉ xếp sau vẹt Uyên Ương. Cùng là màu lông xám nhưng có thể nói vẹt xám Australia có ngoại hình bắt mắt hơn dòng châu Phi.

    Vẹt má vàng sống nhiều ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan. Loài này có đặc điểm là phần lông bên má màu vàng, chiều dài thân khoảng 56 cm, cân nặng 200 – 300 gram. Loài vẹt này được cho là khá thân thiện, dễ nuôi, có thể nhại giọng tốt, sức khỏe tương đối cao, có thể sống từ 30 – 40 năm.

    Về phần sinh sản của loài chim này bạn nên chú ý từ khi mới nuôi vẹt do tính cách khá độc lập, khó chọn bạn đời, thậm chí kể cả khi được nuôi chung trống mái, sức khỏe sinh sản tốt nhưng vẫn không chịu đẻ trứng sau nhiều năm.

    Vẹt Mã Lai còn được gọi là vẹt mào Úc, là giống vẹt khá thông minh trong các loài vẹt ở Việt Nam. Lông vẹt Mã Lai có màu trắng hoặc xám, nổi bật là hai hình tròn cam ở bên má giống với vẹt Australia và phần lông nhô lên, cong nhẹ ra phía sau.

    Nghe cái tên chắc bạn cũng đoán được kích thước nhỏ bé của loài vẹt này đúng không? Chỉ dài khoảng 14 cm nên có thể lọt thỏm trong lòng bàn tay. Cho vẹt ăn gì sẽ không quá khó khăn, thức ăn của loài này bao gồm trái cây, hạt, hoa, chồi hoa,… đặc biệt những loài quả ngọt.

    Màu lông của loài này thường là màu xanh lá toàn thân. Các con trống có cổ màu xanh lá cây trong khi con mái lại có miếng vá màu xanh da trời. Vẹt lùn rất năng động và hay bay nhảy, nhào lộn trên không trung. Nuôi một chú vẹt lùn trong nhà là một ý kiến hay cho một không gian sống động hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Thế Nào Để Đặt Tên Cho Con Vẹt Của Cậu Bé?
  • Cách Đặt Tên Cho Con 2022 Hay Ý Nghĩa Nhất Theo Các Mùa Trong Năm
  • Đặt Tên Cho Con Theo Vần T Ấn Tượng Nhất (Phần 5)
  • Đổi Tên Facebook 1 Chữ Trên Điện Thoại Android, Iphone
  • Đặt Tên Thư Mục Trên Ios Và Android Bằng Biểu Tượng Cảm Xúc
  • Ý Nghĩa Logo Của Các Ngân Hàng Tại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Khám Phá Ý Nghĩa Logo Ngân Hàng
  • Swift Code Là Gì? Những Ý Nghĩa Của Swift Code
  • Tên Phạm Ngọc An Nhiên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Trần Ngọc An Nhiên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Trần Ngọc An Nhiên Có Ý Nghĩa Là Gì
  • 2022-07-31

    13505 views

    Số bài: 666

    Ý nghĩa logo các ngân hàng lớn tại Việt Nam luôn là một vấn đề thu hút và nhận được sự quan tâm không chỉ của những người làm trong ngành thiết kế và tư vấn thương hiệu mà còn khơi gợi được sự tò mò của tất cả mọi người. Logo là hình ảnh đại diện cho bộ mặt của thương hiệu, do vậy nó đòi hỏi phải thể hiện thật chuyên nghiệp những thông điệp và giá trị cốt lõi mà doanh nghiệp muốn truyền tải đến khách hàng. Trong lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng cổ phần thương mại tại Việt Nam, việc đầu tư vào logo và hình ảnh thương hiệu là việc làm vô cùng cần thiết trong bối cảnh cạnh tranh gắt gao không chỉ về sản phẩm và dịch vụ mà còn về giá trị vô hình như thương hiệu.

    1. Logo Techcombank

    Techcombank (Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam) là một trong những ngân hàng TMCP lớn nhất Việt Nam, được thành lập vào năm 1993.

    Slogan của Techcombank: Giữ trọn niềm tin

    Ý nghĩa logo Techcombank

    Hai màu chủ đạo trong logo là màu đỏ và đen đầy nhiệt huyết, đồng thời đây cũng là hai màu tương phản nhau tạo nên sự hiện đại và đầy khác biệt. Tên ngân hàng được chia thành hai phần rõ rệt, với phần chữ TECHCOM mang sắc đỏ rạo rực, sôi nổi và phần BANK với màu đen hiện đại, phong cách.

    Biểu tượng của logo là hai hình vuông màu đỏ lồng vào nhau tạo thế vững chắc, ổn định, thể hiện cam kết cho sự hợp tác bền vững và có lợi nhất cho khách hàng và đối tác. Hai hình vuông lồng vào nhau với hình vuông trắng ở giữa thể hiện sự phát triển thịnh vượng của ngân hàng, mong muốn tạo ra càng nhiều giá trị mới cho xã hội, đồng thời là sự kết hợp lợi ích giữa ba bên: cá nhân, tập thể và cộng đồng. Màu trắng thể hiện sự minh bạch và cái tâm trong sáng, điều mà Techcombank muốn xây dựng và hướng đến đối tượng khách hàng của mình.

    Ngoài ra, hai hình vuông đỏ với tám cạnh mang triết lý phương Đông sâu sắc, tượng trưng cho sự may mắn, phát tài phát lộc, điều mà ngân hàng muốn hướng đến và đem lại cho quý khách hàng, bạn bè và cho chính bản thân ngân hàng.

    2. Logo Agribank

    Được thành lập từ năm 1988, Agribank (Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam) là một trong những ngân hàng lớn nhất tại Việt Nam về số vốn, tài sản, đội ngũ cán bộ nhân viên,…

    Slogan của Agribank: Mang phồn thịnh đến với khách hàng

    Ý nghĩa logo Agribank

    Logo của ngân hàng Agribank là một hình vuông với viền ngoài là hàng chữ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn bao quanh. Hình vuông được chia ra làm ba phần với ý nghĩa đại diện cho ba miền Bắc Trung Nam, ở giữa là hình ảnh 9 hạt lúa uốn lượn thành hình chữ S đại diện cho đất nước Việt Nam. Hình vuông của logo còn là hình ảnh mô phỏng của chiếc bánh chưng trong truyền thuyết “Sự tích bánh Chưng, bánh Dày” thời vua Hùng giữ nước.

    Ngoài ra, logo còn được làm nổi bật bởi hình ảnh đường thẳng kẻ chéo lên mô phỏng đồ thị tăng trưởng, đồng thời phản ánh quan hệ gắn bó đồng hành giữa Agribank và khách hàng.

    Màu sắc chủ đạo của logo gồm bốn màu. Màu đỏ booc đô dùng cho mảng giữa và đường viền của hạt lúa, màu xanh lá cây dùng cho mảng tam giác và tên tiếng Việt của ngân hàng, màu vàng được dùng cho chín hạt lúa còn màu trắng dùng cho 5 chữ VBARD là tên tiếng Anh viết tắt của Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development và hai dòng kẻ chéo. Màu xanh lá cây tượng trưng cho cây cối và sự phát triển sinh sôi nảy nở, màu đỏ booc đô là màu của phù sa sông nước, màu trắng là màu của bầu trời và sông suối và màu vàng là sự phồn thịnh và phát triển của đất nước.

    3. Logo MB Bank

    MB hay còn có tên khác là ngân hàng TMCP Quân đội, được thành lập từ năm 1994, là một trong những ngân hàng TMCP lớn nhất của Việt Nam, một doanh nghiệp của Quân đội Nhân dân Việt Nam trực thuộc Bộ Quốc phòng.

    Slogan của MB Bank: Vững vàng tin cậy

    Ý nghĩa logo MB Bank

    Logo của MB gồm hai phần rõ rệt:

    – Phần biểu tượng là ngôi sao màu đỏ, biểu trưng cho ý chí quyết tâm, hy vọng, chiến thắng. Đồng thời hình ảnh ngôi sao này cũng gợi liên tưởng đến ngôi sao trên quốc kì của Việt Nam, thể hiện niềm tin, sức mạnh chỉ lối cho MB vững bước đi lên.

    – Phần chữ màu xanh lam là tên ngân hàng với phông chữ mềm mại thể hiện sự linh hoạt, năng động. Màu xanh lam biểu trưng cho sự vững vàng, tin cậy đối với khách hàng, cho niềm tin và hy vọng đối với MB.

    Có thể thấy, logo của MB khá đơn giản nhưng vẫn truyền tải được thông điệp mà ngân hàng muốn hướng đến đối tượng khách hàng của mình, đó là sự tin cậy, chân thành mà rất đỗi gần gũi, xứng đáng là ngân hàng mang truyền thống của quân đội.

    4. Logo Maritime Bank

    Maritime Bank chính là Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam. Được thành lập từ năm 1991 tại Hải Phòng, cho đến năm 2005, Maritime Bank đã chính thức chuyển hội sở lên Hà Nội và mở đầu một giai đoạn phát triển mới. Hiện nay, Maritime Bank được đánh giá là một trong năm ngân hàng TMCP lớn nhất tại Việt Nam.

    Slogan của Maritime Bank: Tạo lập giá trị bền vững

    Ý nghĩa logo Maritime Bank

    Logo hiện tại của Maritime Bank có thiết kế khá đơn giản với hình tròn màu đỏ và nằm trọn trong hình tròn là số 1 màu trắng nổi bật. Màu chủ đạo là màu đỏ sôi nổi nhiệt huyết, khác hoàn toàn so với màu xanh dương là tông màu chủ đạo của logo cũ. Vòng tròn màu đỏ được cho là hình ảnh mũi tàu, một hình ảnh hết sức quen thuộc của ngành hàng hải.

    Sự thay đổi hoàn toàn về màu sắc cũng như thiết kế logo của Maritime Bank đã cho thấy sự quyết tâm bứt phá mạnh mẽ của ngân hàng để vươn lên vị trí trở thành một trong những định chế tài chính hàng đầu tại Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biểu Tượng, Ý Nghĩa Logo Của Các Ngân Hàng Việt Nam
  • Tản Mạn Về Tên Các Ngân Hàng Thương Mại Việt
  • Tên Nguyễn Phương Nguyên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Người Việt Phỏng Vấn Luật Sư Nguyễn Xuân Phước, Người Đưa Vụ Cù Huy Hà Vũ Ra Liên Hiệp Quốc
  • Tên Phạm Minh Huy Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100