Top 6 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Tên Các Vị Phật Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Welovelevis.com

Các Vị Bồ Tát Trong Phật Giáo

Xưởng tranh tượng Phật Mandala nêu tên các vị Bồ tát phổ biến trong Phật giáo Đại Thừa, Kim Cương Thừa và Phật giáo Nguyên Thủy

– Quan Thế Âm bồ tát (Avalokitesvara Bodhisattva): Đại diện cho lòng từ bi vĩ đại trong Phật giáo Đại Thừa, là trợ thủ đắc lực thường đứng bên tay trái của đức Phật A Di Đà.

– Đại Thế Chí bồ tát (Mahasthamaprapta Bodhisattva): Đại diện cho ánh sáng trí tuệ trong Phật giáo Đại Thừa, cũng là trợ thủ đắc lực thường đứng bên tay phải của đức Phật A Di Đà.

– Địa Tạng Vương bồ tát (Ksitigarbha Bodhisattva): Bồ tát của chúng sanh cõi địa ngục. Bồ tát này rất phổ biến trong Phật giáo Đại Thừa tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam.

– Văn Thù Sư Lợi bồ tát (Manjushri Bodhisattva): Đại diện cho trí tuệ hoàn hảo, một vị Bồ tát quan trọng trong Phật giáo Kim Cương Thừa.

– Kim Cương Thủ bồ tát (Vajrapani Bodhisattva): Đại diện cho sức mạnh trong Phật giáo Tây Tạng, ngài là người bảo vệ của Đức Phật, có đầy đủ sức mạnh và sự can đảm của tất cả chư Phật.

– Di Lặc bồ tát (Maitreya Bodhisattva): Vị Bồ tát duy nhất được tôn kính trong Phật giáo Nguyên Thủy. Ngài được cho là vị Phật tương lai sẽ đến trái đất giảng pháp và cứu chúng sinh khi những lời dạy của Phật Thích Ca bị lãng quên.

Khi nói về lòng từ bi và lý tưởng của Bồ tát, chúng ta đang nói về những người bình thường, với thân thể, cái trí, cuộc sống này, những vấn đề…Những người có thể tìm thấy sự quảng đại, nỗ lực và trí tuệ ngay ở đây và bây giờ. Chúng ta nhận ra rằng, Bồ tát là những người luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác. Họ là một người bình thường tiến vào cuộc đời theo hướng của Đức Phật. Bạn và tôi, thực ra là bất cứ ai hướng sự chú ý, cuộc sống của họ, để thực hành lối sống của một vị Phật đều là Bồ tát.

Bồ tát là một thuật ngữ được phiên âm từ tiếng Phạn Bodhisattva hay Bồ đề tát đỏa trong Hán-Việt. Từ Bodhi có nghĩa là giác ngộ hay thức tỉnh và sattva có nghĩa là một thực thể, bản chất hay tinh thần. Từ Bồ tát có thể được hiểu là “Một người có trí tuệ Bát Nhã” hoặc “Một người có bản chất giác ngộ”.

Nghĩa của từ “Bồ tát” trong tiếng Pali (Bodhisatta) là “Một người cam kết với sự khai sáng”. Từ “satta” có nghĩa là “cam kết, cố định hoặc ý muốn hướng về phía trước”.

Các vị Bồ tát được cho là có phẩm chất tương đồng với các vị Phật về trí tuệ, từ bi và quyền năng. Lòng từ bi thúc đẩy họ giúp đỡ những người khác, sự thông thái cho họ biết cách làm thế nào để đạt hiểu quả cao nhất và quyền năng tích lũy cho phép họ hành động theo những cách kỳ diệu.

Rất nhiều người, ngay cả bản thân tôi thường xuyên cầu nguyện Quan Thế Âm, đọc Chú Đại Bi hay thần chú Om Mani Padme Hum khi gặp khó khăn trong cuộc sống. Bằng một cách nào đó mà tôi không thể giải thích được, mọi khó khăn đều được giải quyết theo một cách tự nhiên và bất ngờ nhất. Tôi xin phép gọi đó là “Sự ngẫu nhiên huyền diệu của Bồ tát”.

Tuy nhiên, hãy coi Bồ tát nhưng một đòn bẫy hay chỗ dựa tinh thần giúp chúng ta vững bước trên con đường thoát khổ. Vì tôi thấy nhiều người chỉ quan tâm đến việc cầu nguyện mà không hành động để biến đổi trạng thái đau khổ của họ, điều này rất nguy hại. Nó cũng giống như bạn ngồi dưới gốc dừa và cầu cho trái dừa rớt xuống để uống vậy.

Bồ tát xuất hiện phổ biến trong văn hoá dân gian như một vị thần cứu rỗi, họ đảm nhận một vai trò thật sự thông qua sự tiến hoá của những ý tưởng trước đây, và thông qua sự hợp nhất với các vị thần trong tín ngưỡng dân gian địa phương.

Một thần thoại đặc biệt quan trọng ở Đông Á là Dharmakara. Theo kinh điển, Dharmakara là một vị Bồ tát mà lời thề nguyện của Ngài đã được nhận ra trước khi trở thành Phật A Di Đà.

Ý nghĩa của Bồ tát trong Phật giáo

Trong Phật giáo thời kỳ đầu, Bồ tát có nghĩa là “những kiếp trước của một vị Phật”.

Trong Phật giáo Đại Thừa, Bồ tát là từ đề cập đến những người cam kết đạt được giác ngộ vì lợi ích của chúng sanh. Trở thành Bồ tát là mục tiêu chính của Đại Thừa.

Bồ tát được đề cập trong Phật giáo Đại Thừa như là nhân vật tôn thờ. Các vị Bồ tát như Quan Thế Âm, Địa Tạng Vương hay Văn Thù Sư Lợi là những nhân vật cầu nguyện của đa số Phật tử theo trường phái này.

Trong Phật giáo thời kỳ đầu

Trong Phật giáo thời kỳ đầu tại Ấn Độ và trong một số truyền thống sau đó, bao gồm Phật giáo Nam Tông (Theravada Buddhism) thì thuật ngữ Bồ tát được sử dụng chủ yếu để chỉ những hóa thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong nhiều kiếp quá khứ.

Bồ tát trong các văn bản Phật giáo thời kỳ đầu dùng để chỉ:

Đức Phật lịch sử trước khi giác ngộ

Cuộc sống hiện tại của Đức Phật tương lai Di Lặc (Maitreya – Metteya)

Thuật ngữ Bồ tát ban đầu có nghĩa như “Một con người đang trên đường trở thành một vị Phật”. Những kiếp trước của Bồ tát Thích Ca Mâu Ni được kể trong Pali Jataka, một tập hợp những câu chuyện dân gian mà sau này đã trở thành nền tảng cho các truyện ngụ ngôn của Aesop (nhà văn nổi tiếng của Hy Lạp).

Trong Phật giáo Đại Thừa

Đại Thừa không mong muốn giác ngộ hoàn toàn để thoát khỏi vòng luân hồi. Họ làm như vậy vì lòng từ bi vĩ đại mong muốn giải phóng chúng sinh khỏi đau khổ.

Phật giáo Đại Thừa tin rằng, bất cứ ai thực hiện khát vọng thức tỉnh (Bodhicittotpada) đều có thể trở thành Bồ tát. Theo giáo lý Đại Thừa, trong suốt lịch sử vũ trụ, không có khởi đầu nên không có kết thúc, nhiều người đã cam kết trở thành Phật.

Kết quả là vũ trụ bao trùm một phạm vi rộng lớn các vị Phật tiềm năng, từ những người vừa bước lên con đường Phật quả (Buddhahood), cho tới những người đã trải qua thời gian dài sống trong quá trình tu luyện và do đó, họ đã có được sức mạnh siêu nhiên.

Một trong những tác phẩm vĩ đại nhất của văn học Phật giáo trong thế kỷ 8 là “Hướng dẫn trở thành Bồ tát” của Shantideva. Bồ Tát Hạnh (Bodhicaryavatara) gồm mười chương chi tiết về việc thực hành các hoàn thiện Ba la mật (paramitas) và rèn luyện Bồ đề tâm (Bodhicitta), nhờ đó một người có thể trở thành Bồ tát.

Kinh điển Đại Thừa dường như đã được phát triển thêm sau này, bởi vì họ nhận ra rằng, một số người mà sao này được gọi “Tiểu thừa” đã thu hẹp khái niệm về con đường Phật giáo. Những người chỉ quan tâm đến việc giải phóng bản thân khỏi đau khổ mà không quan tâm đến phúc lợi của chúng sanh.

Một số người cho rằng, sự định hướng này đã mâu thuẫn với sự nhấn mạnh ban đầu của Đức Phật, rằng các môn đệ của Ngài “đi vì lợi ích của nhiều người”, và với mối quan tâm không mệt mỏi của mình đối với phúc lợi của người khác. Vì vậy, các nhà truyền giáo Đại Thừa đã nhìn lại cuộc đời của Đức Phật để lấy cảm hứng. Trước khi giác ngộ, Đức Phật hay Bồ tát được cho là đã trải qua vô số kiếp sống để phát triển lòng từ bi vĩ đại trong một trí tuệ hoàn hảo.

Các câu chuyện Jataka được đề cập ở trên chứa đựng một bộ sưu tập văn hoá dân gian rộng lớn, trong đó, Bồ tát dù ở dạng con người hay động vật, đều có những hy sinh to lớn trong việc giúp đỡ chúng sinh thoát khỏi đau khổ.

Lấy cảm hứng từ những câu chuyện thần thoại và thực tế của Đức Phật, những người theo Đại Thừa đã đề cao tầm quan trọng của lòng từ bi trong quá trình học và thực hành pháp. Thay vì lý tưởng A la hán, sự giải phóng cá nhân của Phật giáo Nguyên Thủy, lý tưởng Bồ tát là mục tiêu chính của Đại Thừa để đạt được giác ngộ.

Đối với các hành giả Đại Thừa, trí tuệ và từ bi là 2 yếu tố không thể tách rời nếu muốn trở thành một vị giác ngộ hoàn hảo. Để nhìn thấy bản chất thật của thực tại, thì phải biết ý tưởng về các thực thể riêng biệt là một ảo tưởng hết sức nguy hiểm.

Như một nhân vật tôn thờ

Phật giáo Đại Thừa mở rộng phạm vi các đối tượng tôn thờ trong quá trình hình thành và phát triển trường phái của mình. Đức Phật Thích Ca luôn luôn là một nhân vật tôn kính lớn lao đối với những người theo đạo Phật. Bản thân Ngài cũng khuyến khích việc tôn kính các vị Phật trước cũng như Đức Phật tương lai Di Lặc.

Do đó, nếu nói rằng không có tôn thờ, sùng kính, thờ phụng trong Phật giáo thì không chính xác. Tuy nhiên, Phật giáo Đại Thừa đã mở rộng phạm vi của các hình tượng tôn sùng bằng cách giới thiệu thêm nhiều chư Phật và Bồ tát mới. Tại sao chuyện này lại xảy ra?

Có thể có trường hợp các nhân vật Phật giáo tiền nhân hoặc không phải là Phật giáo nhưng được kết hợp vào truyền thống Phật giáo để làm hình tượng cho sự thúc đẩy trạng thái giác ngộ. Điều này có vẻ như là trường hợp của Kim Cương Thủ, người đã bắt đầu sự sống như một Yaksha, một người bảo vệ của Đức Phật trong một số kiếp quá khứ. Một số học giả cũng cho rằng, Văn Thù Sư Lợi bồ tát bắt đầu như một nhạc sĩ thiên đường, hay các Tara (Lục Độ Phật Mẫu) đã bắt đầu cuộc đời như Durga, một vị thần Bà la môn (Brahmin).

Dường như một số vị Bồ tát trong Phật giáo xuất hiện như những biểu hiện tự phát trong quá trình thực hành thiền định. Đối với những người hành thiền, những hình ảnh có ý nghĩa và ổn định xuất hiện như là kết quả của tâm trí đạt đến trạng thái tinh thần bất bình thường.

Những hình ảnh này được gọi là nimittas. Một vị thiền sư có tinh thần đặc biệt tinh tế có thể nhìn thấy, ví dụ, một hồ nước lấp lánh hoặc một viên ngọc sáng trên một nền đen vô hạn.

Có thể suy đoán rằng, một thiền giả khi có trải nghiệm đặc biệt mạnh với lòng từ bi trong trạng thái thiền, và một tầm nhìn rõ ràng về một nữ thần xinh đẹp, yêu thương đang bước ra từ hoa sen để giúp chúng sinh. Và như thế, Tara được “sinh ra”.

Trong một số trạng thái của thiền, biên giới giữa tâm vô thức và ý thức có thể vượt qua một cách dễ dàng hơn, và tâm trí lúc đó sẽ thấy mọi thứ theo một cách mang tính biểu tượng hơn, như những gì chúng ta thấy trong giấc mơ nhưng với một mức độ chánh niệm sâu sắc chứ không phải ảo giác mơ màng. Một số kinh điển Đại Thừa có thể đã bắt đầu theo cách này.

Những người hành thiền nhiều kinh nghiệm đã khuyến khích người khác suy ngẫm về những hình ảnh tự phát sinh, và do đó truyền thống Nghi quỹ hay Thành tựu pháp (sadhana) được hình thành. Việc hình dung các vị Bồ tát trong thực hành thiền đã được đón nhận rộng rãi.

Kết luận

Bồ tát là những sinh mệnh cống hiến hết mình cho sự đánh thức phổ quát, hay sự giác ngộ của mọi người. Họ tồn tại như các hướng dẫn hay nhà cứu trợ chúng sinh. Họ là những hình mẫu minh họa cuộc sống thánh thiện mà chúng ta phải học hỏi để tiêu trừ đau khổ trên thế giới.

Bồ tát có thể tuyệt vời với sức mạnh, lòng từ bi và trí tuệ, nhưng họ cũng có thể trở nên bình thường như người hàng xóm bên cạnh chúng ta. Bồ tát xuất hiện bất cứ nơi nào mà hành động tốt đẹp được thực hiện.

Trên con đường Bồ tát, chúng ta đi theo những giáo lý về lòng quảng đại, kiên nhẫn, hành vi đạo đức, cân bằng, thiền định, và cái nhìn sâu sắc vào thực tế để biết điều gì là cần thiết để đạt được mục tiêu đó. Vì vậy, chúng ta có thể sống theo một cách có lợi cho người khác và chính mình. Chúng ta học cách từ bi với bản thân và học cách nhận ra rằng, chúng ta không tách biệt với những người mà chúng ta tưởng là xa lạ.

Đối với tôi, Bồ tát không phải là người mà chúng ta nghĩ là họ. Bồ tát chỉ đơn giản là những sinh vật bình thường đang làm theo những lời dạy của đức Phật. Bồ tát xuất hiện trên những nếp nhăn của cuộc đời bạn. Bồ tát đang sống trong khu phố của bạn, chờ đợi để nói lời “Chào buổi sáng” với bạn.

Bồ tát là những vị giảng sư đang làm hết mình cho hạnh phúc của mọi người. Bồ tát là những ông bố bà mẹ ngày đêm chăm lo cho con cái. Bồ tát là những người con hiếu thảo yêu thương cha mẹ…Bồ tát là cậu bé 8 tuổi đang cố cứu con chim bị rơi xuống nước.

Bồ tát giống như bạn và tôi. Bồ tát không phải là người mà chúng ta nghĩ là họ. Bồ tát không giới hạn trong một số ít các nhân vật đáng kinh ngạc hay những người nổi tiếng. Bồ tát không phải là người mà chúng ta nghĩ là họ. Chúng ta không thể hiểu được Bồ tát tuyệt vời như thế nào. Tất cả chúng ta đều là Bồ tát, trong một khoảnh khắc nào đó của cuộc đời. Khi bạn đang đọc bài viết này, rất nhiều Bồ tát đang giúp đỡ người khác bên ngoài. Họ là những nhân vật kỳ diệu, ban phước cho tất cả chúng sinh.

Hệ Thống Các Vị Phật, Bồ Tát Và Thần, Quỷ Trong Phật Giáo

Đức Phật Cồ Đàm (Siddhattha Gotama) hay Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) là cái tên đã ăn sâu vào tâm thức của người Việt và chúng ta được nghe kể rất nhiều về cuộc đời của ông qua các truyền thuyết Phật giáo được lưu lại trong văn bản kinh sách, thế nhưng, nếu tiếp cận cuộc đời của ông dưới góc nhìn lịch sử thì sẽ thấy quá nhiều điểm mờ. Cũng giống như Jesus Christ, Thích Ca Mâu Ni không để lại nhiều vết tích khảo cổ (dù có nhiều thánh tích và kinh văn ghi ghép). Năm sinh và năm mất của Thích Ca Mâu Ni không được xác định chính xác, chỉ được ước đoán vào khoảng thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 5 Trước công nguyên, cùng thời đại với một nhà truyền giáo khác là Mahavira, người sáng lập Jain giáo (1). Có một sự tương đồng trong cuộc đời của Thích Ca Mâu Ni và Mahavira, đó là hai ông đều là các hoàng tử rời bỏ cung vàng điện ngọc để tu luyện và đắc đạo rồi rao giảng triết thuyết của mình để cứu rỗi dân chúng.

Majjhima Nikaya (Trung Bộ Kinh – quyển thứ 2 trong số 5 quyển Nikāya) có nhắc đến chi tiết Thích Ca Mâu Ni đàm luận với một vị tu sĩ của Mahavira là Nigantha Dighatapassi và thu phục cư sĩ Jain giáo Upali tham giao giáo đoàn của Thích Ca Mâu Ni. Như vậy, ta có thể thấy, ở thời điểm Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, có một sự cạnh tranh giữa Phật giáo và Jain giáo, và cả hai giáo phái này đều đi ngược lại các truyền thống của Bà La Môn giáo đang thống trị ở Ấn Độ với các lề luật khắc nghiệt và sự phân biệt đối xử giữa các đẳng cấp. Không chỉ Phật giáo và Jain giáo, nhiều giáo phái và trường phái tư tưởng cũng nở rộ trong thời gian này như Pūraṇa Kassapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambalī, Pakudha Kaccāyana, and Sañjaya Belaṭṭhaputta, những vị được nhắc tới trong “Samaññaphala Sutta”(có nghĩa là “Qủa trái của đời sống chiêm niệm”, trích từ quyển 1 của Nikāya) (2). Các nhà nghiên cứu dự đoán thời đại của Đức Phật trùng với cuộc chinh phạt Thung lũng Indus của đế chế Achaemenid dưới thời đại trị vì của vua Darius I (3).

Không có nhiều văn bản lịch sử ghi chép về Đức Phật trong vòng một đến hai thế kỷ sau thời đại của ông. Chỉ đến thời vua Ashokha vào giữa thế kỷ 3 TCN, Đức Phật mới được đề cập đến trong các đạo luật của vị vua này, và trên Trụ đá Rummindei khi Ashokha tưởng niệm cuộc hành hương của mình tới Lumbini, nơi được cho là ghi dấu sự kiện Đức Phật ra đời (7). Bản thảo Phật giáo lâu đời nhất được lưu lại tới nay là các văn bản Phật giáo Gandhāran, được tìm thấy ở miền đông Afghanistan và bảo quản tại Thư viện Anh quốc, được viết bằng ngôn ngữ Gāndhārī trên vỏ cây bạch dương, có niên đại từ thế kỷ I TCN đến thế kỷ 3 SCN. (8)

“Then like Indra himself, and having tamed his senses,-desiring to return home he mounted his roble steed; and having made him turn back as he looked for his friends, from that moment he sought no more the desired forest.” (9)

“Thế rồi, giống như chính Indra, sau khi đã thuần hóa được các giác quan của mình, – với mong muốn quay trở về nhà người đã cưỡi lên con ngựa cao quý của mình; sau khi quay lại để tìm kiếm bạn bè, từ khoảnh khắc đó người không còn tìm kiếm khu rừng mơ ước nữa.”

Các cuốn kinh khác thuộc dòng đại thừa như Mahāvastu (kể về Lokottaravāda, chi phái Phật giáo đầu tiên theo quan điểm của đại thừa và thừa nhận sự siêu việt của Đức Phật), Lalitavistara Sūtra (tên tiếng Việt: Kinh Phổ Diệu, kể về sự đản sinh của Đức Phật) đều đề cập đến cuộc đời của Đức Phật và có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ 3 SCN. Những chi tiết trong hai bộ kinh này khá tương đồng với Nidānakathā trong hệ kinh tiểu thừa bằng tiếng Pali, có niên đại khoảng thế kỷ 5 SCN. Qua các cuốn kinh này, ta được biết rằng cuộc đời Đức Phật được chia làm 3 giai đoạn:

Khi Đức Phật là một vị bồ tát dưới sự trị vì của Phật Dīpankara ( Nhiên Đăng) và những câu chuyện tiền kiếp.

Khi Đức Phật đầu thai làm thái tử rồi bỏ đi tu, thiền định và chứng ngộ

Những cuộc đàm luận cùng với giáo đoàn

Nếu lược bỏ tất cả các huyền thoại mang nhiều màu sắc kỳ ảo, ta có thể biết những điều sau về Đức Phật dù không quá chắc chắn: Có một quý tộc của bộ tộc Shakya sống ở vùng núi Hymalaya, giáp ranh giữa Ấn Độ và Nepal hiện nay, đã từ bỏ ngôi vua để tu hành. Ông có thể đã trải qua nhiều pháp môn đang hiện hành ở Ấn Độ lúc bấy giờ, nhưng rồi ông đã chọn con đường thiền định và chiêm niệm trong tĩnh lặng dưới gốc cây bồ đề. Bằng con đường thiền định và chiêm niệm, ông đã có những nhận định về bản chất của thực tại và sự sống. Ông bắt đầu đi rao giảng những gì mình chiêm nghiệm và thu hút không ít các tín đồ. Cùng thời đại với ông cũng có nhiều nhà tư tưởng khác cùng rao giảng các triết thuyết khác nhau. Tư tưởng của ông được các đệ tử nhiều đời lan truyền nhưng họ cũng không quên bổ sung các chi tiết để phù hợp với trình độ, quan điểm, thân phận và nhiệm vụ họ phải gánh vác (chúng ta sẽ đi sâu vào điểm này ở phần I-2). Dù ông có những quyền năng huyền diệu như trong các cuốn kinh Phật đã thuật lại hay không thì tư tưởng của ông được phản chiếu qua ghi chép của nhiều thế hệ đệ tử cũng đã thay đổi thế giới, hướng con người vượt qua sự vô minh để đạt tới tự do đích thực.

Lần đại hội tập kết kinh điển thứ ba được tổ chức dưới sự bảo trợ của vua Ashokha vào khoảng 325 TCN. Ashokha là quân vương của đế quốc Magadha (phiên âm Hán Việt: Ma Kiệt Đà). Vùng đất của đế quốc này thuộc đồng bằng sông Hằng, bang Bihar – Ấn Độ ngày nay. Vào thế kỷ thứ 4 TCN, đế quốc này đã thâu tóm được miền Bắc Ấn, sau đó rơi vào sự đô hộ của Alexandria Đại Đế nhưng triều đại triều đại Maurya đã phục hưng lại quyền lực của quý tộc người Ấn. Ashokha là một trong số các vị vua của triều đại Maurya, người đã thống nhất Ấn Độ. Với tiềm lực quân sự và chính trị của mình, vua Ashokha đã truyền bá Phật giáo đến Srikanka, Đông Nam Á, Tây Á, Trung Đông… Nguyên nhân của cuộc tập kết lần thứ ba này là do những mâu thuẫn trong tăng đoàn về vấn đề pha tạp giáo lý ngoại giáo với giáo lý của Đức Phật. Về hình thức, lần tập kết đại hội này vãn giống hai lần tập kết trước, và đi đến sự thống nhất trong hệ thống kinh điển bằng việc tổ chức bộ Tripiṭaka (tức Tam Tạng: gồm Kinh Tạng, Luật Tạng và Luận Tạng) và bổ sung Kathàvatnu (tức Thuyết Sự) được soạn bởi Moggaliputta-tissa – chủ tọa của đại hội, vào Luận Tạng. Trong lần tập kết này, Moggaliputta-tissa phủ nhận toàn bộ các giáo lý mà ông cho là dị giáo mà chỉ thừa nhận những gì ông cho là Phật giáo chân chính. Tuy nhiên, cuộc tập kết kinh điển lần thứ ba này chỉ được ghi chép lại trong Luật tạng của Phật giáo Thượng tọa bộ trong khi Đại chúng bộ lại không hề được nhắc tới.

Đại hội tập kết kinh điển lần thứ tư là tên gọi chung của hai cuộc tập kết tại Srilanka (25TCN) và Kashmir (78SCN). Dấu tích của hai cuộc tập kết kinh điển này còn được lưu lại đến nay bằng văn bản. Đây có thể xem làm những lần đầu tiên kinh Phật được ghi lại bằng chữ, bởi vì họ bắt đầu ý thức được sự nguy hiểm của việc không lưu trữ kinh điển trong khi chiến tranh liên miên có thể gây ra cái chết của các trưởng lão dẫn đến thất truyền giáo lý. Kinh văn sau lần tập kết ở Srilanka được ghi chép trên lá cọ, còn tại Kashmir được ghi chép trên các lá bằng đồng. Kinh văn trong lần tập kết kinh điển tại Kashmir không được Theravāda thừa nhận vì đây là cuộc tập kết của các tu sĩ trong phái Sarvastivada ( tức Nhất thiết hữu bộ )- chi phái Phật giáo hoạt động chủ yếu ở Kashmir và Gandhara. Giáo lý của Nhất thiết hữu bộ nằm giữa tiểu thừa và đại thừa, trình bày quan điểm về bản chất của tồn tại.

Ở cái nhìn của Đại chúng bộ, bác bỏ những luật cấm đối với các tu sĩ thuộc dòng này chính là sự hướng tới tự do. Những người theo Đại chúng bộ cho rằng mười vị trưởng lão phản đối việc nới lỏng giới luật sau lần tập kết kinh điển lần thứ hai là chấp vào giới luật – những điều mà Thích Ca Mâu Ni đã dặn dò Ananda rằng có thể thay đổi tùy theo thời thế. Sau lần tập kết kinh điển lần thứ hai, hơn mười ngàn người thuộc Đại chúng bộ đã tổ chức một cuộc tập kết kinh điển riêng với tên gọi “Tuyên đọc của Đại chúng bộ”. Sự tập kết kinh điển của Đại chúng bộ bị Thượng tọa bộ công kích, cho rằng Đại chúng bộ đã bịa đặt và lắp ghép các kinh điển theo ý mình. Tuy nhiên, khi Fumio Masutani, một học giả Phật giáo thực hiện so sánh giáo lý trong hai bộ kinh điển của Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ thì không thấy có nhiều khác biệt. Cho đến nay, vẫn có nhiều quan điểm cho rằng Thượng tọa bộ là Phật giáo chính thống còn Đại chúng bộ là dị giáo, và vấn đề này cần phải được xem xét một cách cẩn trọng với cái nhìn rộng mở và công tâm. (11)

Đại chúng bộ có sự khác biệt với Thượng tọa bộ về quan niệm thực tại. Đại chúng bộ cho rằng tất cả đều chỉ là hư huyễn, cho dù là tuyệt đối hay tương đối, Niết bàn hay Luân Hồi, thế gian hay xuất thế gian. Những khái niệm ấy không thực sự trường tồn và không phải là chân thực và Đức Phật là người siêu vượt khỏi thế giới hư huyễn mà chúng ta đang mắc kẹt trong đó. Trong khi ấy, Thượng tọa bộ lại quan niệm rằng Đức Phật chỉ như người thường và có những hạn chế, còn các A la hán là những vị có được “thể tính cao khiết” (12).

Niên đại của các kinh điển của Đại chúng bộ không thể xác định rõ ràng, tuy nhiên, lịch sử Trung Quốc ghi nhận những kinh điển của Đại chúng bộ bắt đầu được lưu truyền và dịch sang tiếng Hán vào cuối thời Đông Tấn ( đầu thế kỷ 5 SCN). Trong suốt thời kỳ Ngũ Hồ Loạn Hoa và Nam Bắc triều kéo dài từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 7, Phật giáo Đại chúng bộ được lan truyền ở Trung Hoa. Thái độ của các quân vương Trung Hoa đối với Phật giáo rất khác nhau, có vị yêu thích Phật giáo, có vị bài trừ Phật giáo, điều đó cho thấy Phật giáo đã có sức ảnh hưởng rất lớn đến xã hội Trung Hoa bấy giờ.

Một vấn đề khác cần được xem xét đó là Hīnayāna (Tiểu thừa) và Mahāyāna (Đại thừa). Trước nay, các nhà nghiên cứu và các tu sĩ đều đồng nhất Tiểu thừa với Thượng tọa bộ còn Đại thừa với Đại chúng bộ nhưng quan điểm này có nhiều điểm đáng bàn cãi.

Đại thừa là pháp tu của bồ tát với nguyên lý đạt đến giác ngộ toàn triệt bằng vì mục đích cứu rỗi chúng sinh. Dấu vết cổ xưa nhất được ghi lại của khái niệm này là trong kinh Saddharma Puṇḍarīka Sūtra (Diệu pháp liên hoa hay kinh Pháp hoa) có niên đại trong khoảng từ thế kỷ I TCN đến thế kỷ I SCN. Khái niệm này ban đầu có thể không hẳn để chỉ một chi phái mà là một phong trào để kích thích sự tinh tấn trong tu hành ở các tu sĩ và quan điểm cho rằng có sự liên đới giữa Đại thừa và Đại chúng bộ là bởi các kinh sách của Đại chúng bộ đều được coi là những kinh điển quan trọng của Đại thừa. Những kinh điển Đại thừa được lưu truyền hiện nay đều là những bản kinh đã được dịch sang tiếng Hán và chúng đều không hướng tới việc thành lập một giáo phái hay tổ chức thờ phụng, mà chỉ đề xướng tu khổ hạnh, ẩn cư trong rừng núi và thực hành thiền định. Về sau, Đại thừa phân chia thành hai phái lớn là Mādhyamika (Trung quán tông) và Vijñaptimātravādin (Duy thức tông), trong đó Trung quán tông đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành Kim cương thừa còn các kinh điển của Duy thức tông được lan truyền rộng rãi ở Trung Hoa vào thời Đường nhờ đại sư Huyền Trang.

Các nhà nghiên cứu cho rằng khái niệm “tiểu thừa” là một khái niệm được thêm vào để tạo ra sự tương phản với “đại thừa” khi phong trào này lan rộng trong Phật giáo. Rất khó có thể định nghĩa chi phái nào của Phật giáo có xu hướng “tiểu thừa”. Tuy nhiên, tiểu thừa thường được gán với Phật giáo Thượng tọa bộ tuy nhiên có nhiều chi phái nhỏ của Thượng tọa bộ vẫn tiếp thu tư tưởng đại thừa (13). Cho đến nay, khái niệm “tiểu thừa” đã bị bác bỏ khỏi Phật giáo.

Với sự phân nhánh và chuyển mình phức tạp với rất nhiều chi phái nhỏ, Phật giáo có một hệ thống kinh điển đồ sộ được tập kết và ghi chép, chỉnh sửa, dịch thuật liên tục. Rất khó có thể biết được Thích Ca Mâu Ni đã thực sự giảng giải những gì cho đệ tử của mình, tuy nhiên, các trước tác kinh điển Phật giáo vẫn ẩn chứa đâu đó tinh thần tự do mà Thích Ca Mâu Ni đã truyền lại cho thế gian.

Bảng niên đại từ khi Đức Phật thuyết pháp đến khi Thiền tông lan truyền ở Trung Hoa

Lưu ý: Các niên đại được ghi chỉ mang tính tương đối và vẫn còn nhiều tranh cãi

II – Phật giáo đang thờ ai?

Giáo lý Phật giáo cũng không khuyến khích cầu nguyện mặc dù truyền thống cầu nguyện đến nay trở nên rất phổ biến ở đa số các chi phái Phật giáo. Một khái niệm tương tự với cầu nguyện là pràrthanà (có nghĩa là mong ước, phát nguyện) nhưng không phải cho lợi ích của bản thân mình mà vì điều thiện cho người khác hoặc sự hướng tới Phật (14). Tuy nhiên sự cầu nguyện này thường bị các tín đồ hiểu lầm thành sự cầu nguyện cho bản thân và những người thân của mình có một đời sống gặp nhiều an lành, may mắn. Sự hiểu lầm này có thể được hình thành nên do tâm thức thờ cúng nguyên thủy mà người dân vẫn quen thuộc trong mọi nền văn hóa dành cho các vị thần ban phúc giáng họa. Do đồng nhất Phật giáo với tục thờ cúng thần linh nên các vị Phật và bồ tát cũng dần mang ý nghĩa ban phúc giáng họa trong suốt quá trình phát triển của Phật giáo. Đặc biệt với Phật giáo đại thừa vốn tôn sùng Quán Thế Âm bồ tát vì niềm tin rằng vị này có ý nguyện cứu khổ cứu nạn nên có thể giúp người dân tránh được tai ương.

Niềm tin của Phật giáo đại thừa về Bodhisattva (bồ tát) lại càng kích thích sự tôn sùng Phật giáo mù quáng trong giáo chúng. Phật giáo đại thừa tin rằng bồ tát là những vị đạt được trí tuệ nhưng có nguyện nhận mọi đau khổ của thế gian vào mình và cứu rỗi thế gian. Trong các bài giảng nguyên thủy và kinh điển của Thượng tọa bộ, bồ tát không mang ý nghĩa như vậy, mà được sử dùng để ám chỉ những vị tu sĩ phát nguyện trở thành một vị Phật và được một vị Phật tại thế tiên đoán về khả năng thành Phật. (15) Khái niệm bồ tát được đề cập cổ xưa nhất trong các truyền thuyết về sự ra đời của Đức Phật (Tiền kiếp của Đức Phật vốn là một vị bồ tát chưa đắc quả vị Phật) và những truyền thuyết này được lưu trong Jātakas (Bản sinh bộ) thuộc truyền thống Thượng tọa bộ, Đại chúng bộ không thừa nhận những Jātakas được soạn trong triều đại của vua Ashokha. (16) Các vị vua của Sri Lanka thường tự nhận hoặc được ca tụng là bồ tát vì họ đã phát nguyện hành động vì người dân trong suốt quãng thời gian từ thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ 15, thậm chí một vài vị còn nói rằng họ đã nhận được tiên đoán về quả vị Phật từ kiếp trước. (15) Bên cạnh các vị “bồ tát tại thế”, một loạt các vị bồ tát siêu việt cũng được tôn sùng và thờ phụng tại nhiều tăng viện cùng với sự ảnh hưởng của xu thế đại thừa (Nguồn gốc của các vị bồ tát này sẽ được đề cập ở phần II-2).

Đáng lưu ý là các Stupa (có nghĩa là “gò, đống”) – các công trình bảo tháp lưu giữ các thánh tích hoặc tượng Phật và các cao tăng được xây dựng khắp Ấn Độ, đặc biệt bắt đầu dưới thời Ashokha. Đây là hình thức sơ khai của chùa mà Phật giáo Trung Quốc vẫn gọi. Các tu sĩ thường đi vòng quanh các Stupa để thể hiện sự sùng kính. (17) Khi du nhập vào Trung Quốc, bảo tháp được xây thành một quần thể với chùa (tự). Bắt nguồn của khái niệm “tự” để gọi nơi các sư tu hành và truyền bá Phật pháp đến từ sự kiện hai vị sư từ Thiên Trúc sang thăm Trung Quốc vào thời Hán Minh Đế. Lúc bấy giờ, do chưa có cơ sở Phật giáo tại Trung Quốc nên triều đình nhà Hán đã sắp xếp cho hai ông ở trong Hồng Lô Tự, một dinh dành cho quan lại nên từ đó “tự” được sử dụng để gọi các ngôi chùa. (18) Một thuyết khác cho rằng từ “Tự” là phiên âm tiếng Hán của stupa và cấu trúc chùa Trung Hoa là sự phát triển của bảo tháp ở Gandharan. (19). Ngôi chùa trong văn hóa Trung Hoa không chỉ là nơi tu tập và thuyết pháp của các sư, khi được dung hợp với Đạo giáo thần tiên, chùa trở thành nơi chúng sinh đến cầu xin may mắn. Đặc biệt khi Tịnh Độ tông được truyền vào Trung Hoa, truyền thống thờ cúng và cầu nguyện càng được phổ biến rộng rãi, lấn át mục đích tu tập và thuyết pháp.

Bảng thống kê các vị Phật, bồ tát và thần, quỷ phổ biến trong Phật giáo

Phân loại theo quả vị và dựa trên quan niệm của đại thừa

Thích Ca Mâu Ni

Bodh Gaya: Nơi Đức Phật thành đạo. Đạo tràng được xây dựng lại nhiều lần bắt đầu từ thời vua Ashokha

Kushinagar: Nơi Đức Phật nhập Niết Bàn. Tại đây còn vết tích tượng Phật và cột đá ghi lại sự việc được dựng dưới thời vua Ashokha

Lumbini: Địa danh không rõ ràng và chỉ được xác định bởi cột đá được dựng dưới thời vua Ashokha

Sarnath: Nơi Phật thuyết pháp đầu tiên. Di tích còn lại là tháp Dhamekh dưới triều đại Gupta (Thế kỷ VI)

Được đề cập đến đầu tiên trong Kinh Tạng (thuộc Tam Tạng). Một lần với cái tên Tissametteyya trong cuộc hỏi đáp giữa Tissametteyya và Thích Ca Mâu Ni về ái dục. Một lần khác trong bài kinh 26 về “Sư tử rống chuyển bánh xe đại pháp” như vị Phật vị lai. Nhà nghiên cứu Phật học Richard Gombrich cho rằng đoạn kinh viết về Di Lặc bị ảnh hưởng của thuyết mạt thế hoặc đã bị viết thêm vào, vì khi Thích Ca Mâu Ni thuyết về Di Lặc thì không có bối cảnh hỏi đáp đi kèm giống như những bài kinh khác (23).

Một giả thuyết khác cho rằng Di Lặc chính là vị thầy của sư Vô Trước – người sáng lập phái Duy Thức, được gọi với tên Maitreya-nātha (270 – 350 SCN). (25) Vô Trước là người đã được Di Lặc khải lộ về

Nhiều vị vua hoặc giáo chủ mới cũng tự xưng mình là hóa thân của Di Lặc để khai tông lập phái hoặc tạo ảnh hưởng.

Bhaiṣajya-guru-vaiḍūrya-prabhā-rāja Sūtra (Kinh Dược Sư) mô tả Phật Dược Sư như vị bồ tát đã thực hiện 12 ý nguyện và đắc Phật. Bộ kinh được lưu truyền không chỉ có bản tiếng Hán mà người ta còn tìm thấy bản kinh Gandhāra lưu truyền ở Bắc Ấn có niên đại thế kỷ thứ 7.

Theo Kāraṇḍirlha Sūtra (soạn trong thế kỷ IV – V), mặt trời và mặt trăng được cho là được sinh ra từ đôi mắt của Avalokiteśvara, Shiva từ trán, Brahma từ vai, Narayana từ trái tim, Sarasvati từ răng, gió từ chân và bầu trời từ dạ dày của ngài. Cũng trong kinh này, Om mani padme hum được nhắc đến như thần chú dẫn tới giải thoát cuối cùng. (27) Các kinh đại thừa khác cũng đều nhắc đến Quán thế âm bồ tát.

Quán thế âm bồ tát là vị bồ tát đại thừa đầu tiên được thờ trong Phật giáo Thượng tọa bộ. Ở Tích Lan, Quán Thế Âm được gọi là Natha-deva và đồng nhất với Maitreya, tuy nhiên các học giả phương Tây đã chỉ ra Natha-deva chính là Quán Thế Âm. Natha-deva có một ban thờ riêng cạnh ban thờ Phật. (28)

ở Myanmar, ngài được gọi là Lokanat hoặc lokabyuharnat, và Thái Lan thì được gọi là Lokesvara có nghĩa là chúa tể của thế gian.

Kṣitigarbha Bodhisattva Pūrvapraṇidhāna Sūtra (Kinh Địa Tạng) là bộ kinh đầu tiên nhắc tới Địa Tạng với ý nguyện giải thoát chúng sinh khỏi địa ngục cho đến khi Di Lặc xuất thế. Kinh Địa Tạng có xuất xứ không rõ ràng và không tìm được bản tiếng Pali hay Sankrite mà chỉ còn lưu lại bản dịch sang tiếng Hán nên nhiều học giả hoài nghi rằng cuốn kinh này được viết bởi người Trung Quốc. Kinh Địa Tạng đề cao chữ hiếu và có nhắc đến câu chuyện tiền kiếp của Địa Tạng là một cô gái xả thân cứu mẹ khỏi khổ hình ở địa ngục. Câu chuyện này có nhiều tương đồng với câu chuyện về tôn giả Mục Kiền Liên, một trong mười đại đệ tử của Đức Phật.

Văn thù sư lợi được nhắc đến đầu tiên trong ārya-mañjuśrī-mūlakalpa (Văn-thù-sư-lợi căn bản nghi quỹ), đại diện cho trí huệ soi sáng khỏi vô minh. Luận sư Tsongkhapa trong Phật giáo Tây Tạng được cho là hóa thân của Văn thù sư lợi. Văn thù sư lợi thường được tán tụng bởi các sư thuộc Trung quán tông trước giờ họ học kinh điển.

Trong Phật giáo Tây Tạng, Văn thù sư lợi được biểu hiện với một hóa thân khác là

Yamāntaka (có nghĩa là kẻ hủy diệt của thần Yama) với khuôn mặt phẫn nộ với cặp sừng bò trên đầu, phổ biến trong trường phái Gelug (Tây Tạng). (34)

Phổ Hiền thường được mô tả dáng hình giống nữ, cưỡi trên con voi màu trắng, đứng bên cạnh Thích Ca Mâu Ni cùng với Văn thù sư lợi.

Mahamayuri-Vidyaraini-Sutra gọi Khổng Tước Minh Vương là “nữ hoàng của huyền thuật”, mẹ của Đức Phật trong Phật giáo Đại thừa. Tương truyền là một con công từ thời khai thiên lập địa, có sức mạnh vảo vệ các tín đồ Phật giáo. Đây là kinh Phật giáo duy nhất nhắc đến kinh Rigveda.

Trong những truyền thuyết Phật giáo thời kỳ đầu, Vajrapāni là một vị tiểu thần đi theo Thích Ca Mâu Ni và bảo vệ Thích Ca Mâu Ni khỏi những mối đe dọa. Điều này được ghi lại trong Tam Tạng. Có thuyết cho rằng ông là một pháp thân của Sakra – thượng đế cõi trời Trāyastriṃśa, hoặc thần mưa trong truyền thống Gandharva. Ông tự hóa thành tám thân quỷ để bảo vệ Thích Ca Mâu Ni. (36)

Giống loài Asura (Atula)

Tranh Đôn Hoàng hang đá số 249 mô tả Asura có 4 tay 2 đầu, thân hình màu đỏ.

Được mô tả nửa người nửa chim, hoặc nửa người nửa ngựa, là các thần giỏi ca hát và chung tình. Kinara rất phổ biến và được giữ đúng tính chất trong cả truyền thống Hindu giáo và Phật giáo.

Là tên gọi của rắn thần, vua các loại rắn, những con rắn nằm sâu dưới lòng đất đôi khi tạo ra động đất. Được ghi lại trong kinh Lăng Nghiêm như một giống loài đần độn vô tri và bị sâu bọ rúc rỉa, nhưng muốn thoát khổ nên đã thực hành Phật pháp.

Một trong số các đệ tử tại gia của Thích Ca Mâu Ni, người đã hào phóng cấp chỗ ở và cúng dường cho tăng đoàn cũng như bố thí cho người vô gia cư. Ông được nhắc đến trong Tam Tạng.

Là vị vua tri thức được đề cập trong kinh Đại Nhật, đã chinh phục ba thế giới Tham – Sân – Si, cai quản phía đông của thế giới. Ông là người đã đánh bại Maheśvara (Shiva) (39)

Tên của ngài có nghĩa là bảo hộ quốc gia, và cũng được nhắc đến trong Tam Tạng của Thượng tọa bộ.

The early history of India : from 600 B.C. to the Muhammadan conquest, including the invasion of Alexander the Great – Vincent A.Smith (trang 34, 48/ Link sách online: https://archive.org/details/earlyhistoryofi00smit )

The Long Discourses of the Buddha. A Translation of the Digha Nikaya, Boston: Wisdom Publications, 1995 – Maurice Walse (trang 268)

Greek Buddha: Pyrrho’s Encounter with Early Buddhism in Central Asia. Princeton University Press. – Christopher I. Beckwith (2015). (trang 7-12/ Link sách online: https://books.google.com.vn/books?id=RlCUBgAAQBAJ&pg=PA7&redir_esc=y#v=onepage&q&f=false)

The Ancient City of Kapilvastu-Revisited – Swoyambhu D. Tuladhar (Bản đọc online: https://himalaya.socanth.cam.ac.uk/collections/journals/ancientnepal/pdf/ancient_nepal_151_01.pdf )

Gotama Buddha: A Biography Based on the Most Reliable Texts, Quyển 1. Kosei Publishing Company, 2000 – Hajime Nakamura (trang 124)

Nhất Hạnh (thuật ký) Đại Nhật Kinh Nghĩa Thích. Taisho Tripitaka Vol. T18, No. 848

That the True Dhamma Might Last a Long Time, Readings Selected by King Asoka, được tuyển chọn và dịch bởi Thanissaro Bhikkhu (Bản đọc online: https://www.accesstoinsight.org/lib/authors/thanissaro/asoka.html )

Ancient Buddhist Scrolls from Gandhara – Richard Salomon (Bản đọc Online: https://www.washington.edu/uwpress/search/books/SALANC.html )

Bản dịch tiếng Anh online của Buddhacarita: https://www.sacred-texts.com/bud/sbe49/sbe4901.htm

A Concise History of Buddhism – Andrew Skilton (2004) (trang 49-64)

https://www.tuvienquangduc.com.au/kinhdien-2/390nentangkettaplan2.html

Indian Buddhism- A.K. Warder (2000) , Delhi: Motilal Banarsidass Publishers (trang 283,284)

Phật giáo Nguyên Thủy: Lịch sử xã hội – Richard Francis Gombrich (1988) (trang 158)

https://thuvienhoasen.org/a25030/y-nghia-cua-cau-nguyen-cau-an-va-cau-sieu

Mahayana Sutras and the Opening of the Bodhisattva Path – David Drewes https://www.academia.edu/34935437/Mahayana_Sutras_and_the_Opening_of_the_Bodhisattva_Path_Updated_2019_?email_work_card=title

Sects & Sectarianism: The Origins of Buddhist Schools – Sujato, Bhikkhu (2006) (trang 51)

A Dictionary of Architecture and Landscape Architecture- James Stevens Curl (2000 Oxford University Press)

Từ điển Hán Nôm online (Link tra cứu: https://hvdic.thivien.net/whv/%E5%AF%BA )

Buddhist architecture -Lê Hữu Phước (Grafikol, 2009) (Trang 180)

Indian Buddhism: A Survey With Biographical Notes – Hajime Nakamura (1999) (trang 205)

On the origins of Mahāyāna Buddhism – Shinkan Murakami (Link đọc online: https://web.archive.org/web/20130612150915/https://old.ykbi.edu.tw/htm/ykbi16/ykbi16_1.pdf )

https://www.vbu.edu.vn/referances/RP-8/Vai-net-so-luoc-ve-nghe-thuat-Phat-giao-Gandhara-Pakistan.html

Theravada Buddhism: A Social History from Ancient Benares to Modern Colombo – Richard Gombrich (Routledge and Kegan Paul, 1988) (trang 83-85)

Chinese Sculpture – Angela Falco Howard (Yale University Press, 2006) (trang 228)

Being as Consciousness: Yogācāra Philosophy of Buddhism – Fernando Tola and Carmen Dragonetti (Motilal Banarsidass, 2004) (trang 15)

https://vuonhoaphatgiao.com/tu-dien-phat-hoc/a-dat-da/

The Origins of Om Manipadme Hum: A Study of the Karandavyuha Sutra- Alexander Studholme (State University of New York Press, 2002) (trang 39-40)

Buddhist Sects and Sectarianism – Bibhuti Baruah (2008) (trang 137)

Bodhisattva Avalokiteśvara in the Gaṇḍavyūhasūtra – Märt Läänemets (Link đọc online: https://www.chibs.edu.tw/ch_html/chbs/10/chbs1011.htm )

Arya Avalokitesvara and the Six Syllable Mantra #2 – Venerable Shangpa Rinpoche (Đọc online: https://web.archive.org/web/20070927222250/https://www.dhagpo-kagyu.org/anglais/science-esprit/chemin/medit/methodes/avalokitesvara_shangpa2.htm )

https://www.chinabuddhismencyclopedia.com/en/index.php/Mahasthamaprapta_(Shih_Chih,_Seishi)

Đàm thiên thuyết địa luận nhân, Ngô Bạch, Trương Huyền dịch, Nhà xuất bản Thời đại 2011

Đàm thiên thuyết địa luận nhân, Ngô Bạch, Trương Huyền dịch, Nhà xuất bản Thời đại 2011

https://tibet.net/2018/12/his-holiness-the-dalai-lama-confers-the-solitary-hero-yamantaka-empowerment-in-bodh-gaya/

https://www.lankalibrary.com/myths/gods.htm

The Gods of Northern Buddhism: Their History and Iconography (1988) – Alice Getty https://books.google.com.vn/books?id=KxczE2AZ7T8C&pg=PA52&redir_esc=y#v=onepage&q&f=false

In the art of Gandhara Zeus became the inseparable companion of the Buddha as Vajrapani. Freedom, Progress, and Society – K. Satchidananda Murty, R. Balasubramanian, Sibajiban Bhattacharyya (Motilal Banarsidass Publishe, 1986) (trang 97, Đọc Online: https://books.google.com.vn/books?id=KQubSpHFrKQC&pg=PA97&redir_esc=y#v=onepage&q&f=false )

Japanese Art – Miyeko Murase (1975, Metropolitan Museum of Art) (trang 31, 32 – Link online: https://books.google.com.vn/books?id=ZQ8NAl2Bj-4C&pg=PA31&redir_esc=y#v=onepage&q&f=false )

Study on Buddhist iconography of India from unpublished texts – Alfred Foucher ( Paris, E. Leroux, 1905)

Tên Gọi Và Hình Tượng Của Những Vị Phật, Bồ Tát Thường Gặp

>Những giáo lý Phật giáo đáng suy ngẫm 1. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Thích Ca: Trung Hoa dịch là Năng Nhơn, Mâu Ni là Tịch Mặc. Thích Ca Mâu Ni nghĩa là người hay phát khởi lòng nhân từ mà tâm hồn luôn luôn an tĩnh, vắng lặng. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người khai sáng ra đạo Phật, Ngài được thờ ngay giữa chính điện, ngự trên đài sen với tư thế ngồi kiết già, hoặc ngồi kiết già với tay phải cầm hoa sen đưa lên.

2. Đức Phật A Di Đà

A Di Đà còn gọi là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang và Vô Lượng Công Đức. Nghĩa là tuổi thọ, hào quang và công đức của Ngài không thể lường được.Ta thường thấy hình tượng Phật A Di Đà đứng trên tòa sen, tay trái cầm đài sen, tay phải duỗi xuống để tiếp dẫn chúng sanh. Các chùa hay thờ tượng Ngài đứng giữa, bên phải là Bồ tát Quán Thế Âm, bên trái Ngài là Bồ tát Đại Thế Chí. Đây gọi là Tây Phương Tam Thánh.

3. Đức Phật Di lặc

Di Lặc (tiếng Phạn: Maitreya, tiếng Pali: Metteyya). Di Lặc hay Di Lạc, tức vui vẻ và hoan hỷ, Ngài là vị Phật ở đời tương lai. Tượng Phật Di Lặc mập mạp, bụng to, miệng cười rất tươi. Bụng to là chỉ cho sự bao dung rộng lượng, miệng cười là chỉ cho lòng hỷ xả, không vướng mắc. Có nơi thờ tượng Phật Di Lặc có thêm sáu chú tiểu bám ở quanh mình, biểu trưng sáu căn của một con người.

4. Bồ Tát Quán Thế Âm

Quán là quán sát, lắng nghe; Thế là thế gian; Âm là âm thanh. Bồ Tát Quán (Quan) Thế Âm là vị Bồ Tát quán sát, lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh trong thế gian để kịp thời cứu giúp họ thoát khổ. Tay phải Ngài cầm nhành dương liễu, tay trái cầm bình nước Cam Lồ để tưới mát chúng sanh, trên đỉnh đầu có hình Đức Phật A Di Đà. Có rất nhiều hình tượng Quán Thế Âm như: Quan Âm Lộ Thiên, Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Nam Hải, Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn,…

5. Bồ Tát Đại Thế Chí

Đại Thế Chí Bồ Tát còn được gọi là Đắc Đại Thế Bồ tát, Đại Tinh Tấn Bồ tát, Vô Biên Quang Bồ tát,… hay vắn tắt là Thế Chí.

Ngài là vị Bồ tát thường dùng ánh sáng trí tuệ chiếu khắp mọi loài, khiến chúng sanh mười phương thế giới thoát khổ đau, thành tựu đạo quả Bồ đề. Đắc Đại Thế Bồ tát vì Bồ tát có hạnh nguyện đại hùng đại lực đại từ bi, dùng hạnh nguyện này để trụ trong Ta bà thế giới, điều phục và tiếp độ chúng sanh cang cường.

6. Bồ tát Địa Tạng

Địa Tạng có nghĩa là An Nhẫn, bất động như đại địa; tư duy sâu xa kín đáo như kho tàng bí mật. Ngài mặc áo cà sa, đội mũ tỳ lô, tay phải cầm tích trượng có mười hai khoen, tay trái nắm viên minh châu. Ngài thường được thờ trong Chánh Điện bên phải Đức Phật Thích Ca, hoặc nơi nhà thờ các vong linh.

7. Đức Phật Dược Sư

Thông Thường có 7 Đức Phật Dược Sư, hoặc 8 Đức Dược Sư (nếu cộng thêm Đức Thích Ca Mâu Ni), hạnh nguyện của các Ngài rất tương đồng như giúp chúng sinh được cứu khổ ban vui, sinh vào thiện đạo,thân hình đầy đủ các căn, được giàu có, xinh đẹp, thọ mạng dài lâu, tiêu trừ các tội lỗi về phạm giới khuyết giới, tiêu trừ các tội trộm cắp nghèo khó, giúp trừ các bệnh khổ thân tâm ma quỷ ám hại, được vãng sinh Tịnh Độ….

Bản Hán văn bên Trung Quốc nguyên có 7 bộ Kinh Dược Sư tương ứng với công đức bản Nguyện của 7 vị Phật gọi là Kinh Thất Phật Dược Sư Bản Nguyện Công Đức phần nói về 6 Đức Dược Sư là Quyển Thượng và phần nói về Đức Dược Sư Lưu Ly Quang là quyển hạ, tuy vậy khi truyền sang Việt Nam thì chỉ có 1 bộ Bản Nguyện Công Đức của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai do Ngài Pháp Sư Huyền Trang dịch, nguyên nhân cũng do một phần Việt Nam thịnh hành pháp môn Trì danh hiệu Phật.

8. Phật Mẫu Chuẩn Đề

Thân vị Bồ-tát nầy có màu vàng trắng hay màu vàng lợt, ngồi kiết gia trên đài sen, có hào quang tỏa sáng xung quanh, mình mặc thiên y, trên đầu trang điểm ngọc anh lạc. Đầu đội mão báu có ngọc lưu ly rũ treo, có 18 tay đều đeo vòng xuyến khảm Xà Cừ và mỗi tay đều cầm các loại khí cụ biểu thị cho các Tam Muội Gia, gồm có 3 mắt. Vị Bồ-tát nầy chuyên hộ trì Phật pháp và bảo hộ những chúng sinh có mạng sống ngắn ngủi được thọ mạng lâu dài. Pháp môn tu hành của vị Bồ-tát nầy là trì tụng bài chú: Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đà Câu chi nẫm, đát diệt tha: án, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha.

9. Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn

Trong Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni của Mật tông có nói: “Trong vô lượng ức kiếp thời quá khứ, Bồ tát Quan Thế Âm nghe Đức Thiên Quang Vương Tĩnh Chú Như Lai nói thần chú Đại Bi Tâm Đà La Ni bèn phát nguyện làm lợi ích, an lạc tất cả chúng sinh. Liền khi ấy, trên người mọc ra một nghìn con mắt và một nghìn bàn tay”.

Thiên thủ thiên nhãn là ngàn mắt ngàn tay. Con số ngàn không chỉ có nghỉa đen là đúng một ngàn , mà ám chỉ một số lượng nhiều vô số kể, không đếm được. Do đó nên hình tượng Quan Âm Thiên thủ Thiên Nhãn trên thực tế tại các chùa có thể có hơn 1000 tay, cũng có thể có vài chục tay hay vài trăm tay.

Nghìn mắt để thấy khắp thế gian và nghìn tay để cứu vớt chúng sinh. Bàn tay tượng trưng cho hành động. Muốn làm việc gì cũng phải dùng đến bàn tay. Con mắt tượng trưng cho sự xem xét, quán thông, thấu suốt, thấy rõ tường tận tất cả chúng sinh ở các cõi, thấy cả xa lẫn gần, cả to lớn lẫn tế vi, trước mặt và sau lưng, trên và dưới, ban ngày và ban đêm…Tượng có thể có hình con mắt trong lòng bàn tay, tượng trưng cho ý nghĩa hễ mắt để đâu thì tay theo đó. Hễ nhìn thấy nơi nào có chúng sanh khổ nạn là ngài ứng hiện và dang bàn tay từ bi ra để cứu giúp tức thì.

10. Bồ tát Văn Thù Sư Lợi

Bồ tát Văn Thù Sư Lợi nói cho đủ theo âm Hán là Đại trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát. Đại Trí là trí tuệ (pràjnà) thấu triệt tường tận chân lý tuyệt đối. Trí này có khả năng soi rọi, chuyển hóa vô minh, phiền não, dục ái, nhiễm ô thành thanh tịnh, đưa nhận thức vượt lên mọi phạm trù đối đãi, đạt giải thoát toàn diện.

Là vị Bồ Tát tiêu biểu cho Trí Tuệ, Bồ Tát Văn Thù thường được miêu tả với dáng dấp trẻ trung ngồi kiết già trên một chiếc bồ đoàn bằng hoa sen. Trên tay phải của Ngài, dương cao lên khỏi đầu là một lưỡi gươm đang bốc lửa -một biểu tượng đặc thù của Bồ Tát Văn Thù để phân biệt với các vị Bồ Tát khác- mang hàm ý rằng chính lưỡi gươm vàng trí tuệ này sẽ chặt đứt tất cả những xiềng xích trói buộc của vô minh phiền não đã cột chặt con người vào những khổ đau và bất hạnh của vòng sinh tử luân hồi bất tận, đưa con người đến trí tuệ viên mãn. Trong khi đó, tay trái của Bồ Tát đang cầm giữ cuốn kinh Bát Nhã- trong tư thế như đang ôm ấp vào giữa trái tim mình suối nguồn và biểu trưng của tỉnh thức, giác ngộ.

11. Bồ Tát Phổ Hiền

Phổ Hiền Bồ tát (dịch âm là Tam mạn đà bạt đà la, hoặc Tam mạn đà bạt đà, zh. pǔxián 普賢, sa. samantabhadra, ja. fugen, bo. kun tu bzang po ཀུན་ཏུ་བཟང་པོ་). Phổ là biến khắp, Hiền là Đẳng giác Bồ tát, Phổ Hiền là vị Bồ tát Đẳng giác có năng lực hiện thân khắp mười phương pháp giới, tùy mong cầu của chúng sanh mà hiện thân hóa độ. Ngài là một trong những vị Bồ Tát quan trọng trong Phật giáo Đại thừa. Theo kinh Pháp Hoa, Ngài là vị Bồ tát ở quốc độ của Phật Bảo Oai Đức Thượng Vương Như Lai, phía Đông cõi Ta Bà, nghe thế giới này thuyết kinh Pháp Hoa liền lãnh đạo năm trăm vị Đại Bồ tát đến nghe pháp và phát tâm hộ trì Chánh pháp của Đức Phật Thích Ca.

Phổ Hiền được xem là người hộ vệ của những ai tuyên giảng đạo pháp và đại diện cho “Bình đẳng tính trí” tức là trí huệ thấu hiểu cái nhất thể của sự đồng nhất và khác biệt. Bồ Tát Phổ Hiền hay được thờ chung với Phật Thích-ca và Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi (sa. mañjuśrī). Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà, voi trắng tượng trưng cho trí huệ vượt chướng ngại, sáu ngà cho sự chiến thắng sáu giác quan. Trong hệ thống Ngũ Phật, Phổ Hiền được xem ở trong nhóm của Phật Đại Nhật (sa. vairocana). Biểu tượng của Phổ Hiền là ngọc như ý, hoa sen, có khi là trang sách ghi thần chú của Bồ Tát.

Mỗi vị Phật, Bồ Tát đều có một hình tướng, hạnh nguyện riêng, nhưng tất cả các Ngài đều có lòng thương chúng sanh vô hạn và làm lợi ích cho hết thảy.

Linh Tâm

Chân Tâm Là Phật, Phật Là Chân Tâm

I) Trước cửa nhà của vua Thành Thái…

II) Chân Tâm là Phật, Phật là Chân Tâm

IV) Danh từ đồng nghĩa với Phật Tánh

V) Nguyên lý căn bản của Thiền Tông

VI) Nguyên lý căn bản của Thiền Tông 2

Bài này trước tiên nói rằng nơi tôi nghe được câu ‘Tâm là Phật, Phật là Tâm’ là ở trước cửa nhà của vua Thành Thái, sau đó, bàn về ‘Chân Tâm là Phật, Phật là Chân Tâm’ với đại ý : ‘Chân Tâm là Phật, Phật là Chân Tâm’ là Nguyên lý căn bản của Thiền Tông ; và trả lời câu hỏi : Tại sao ta có thể Kiến Tánh, nên Kiến Tánh ??

NB = Nguyễn Biểu

NTr = Nguyễn Trãi

vTT = vua Thành Thái

Năm ngoái (2014), khi đọc trên Internet, những bài nói về vua Thành Thái, nói về lúc cuối đời, vua ở trên con đường sau này gọi là Nguyễn Trãi , tôi tự nghĩ ‘tưởng ai chứ nhà của vua Thành Thái , thì tôi biết !’ Quả vậy, vua Thành Thái ở khu xóm nhà tôi ở thời thơ ấu, nhà của vua Thành Thái trước mặt là đường Nguyễn Trãi (lúc đó gọi là Cây Mai) , gần sát đường Nguyễn Biểu ở phía trái nhà (lúc đó chưa là đường Nguyễn Biểu mà chỉ là một đường hẻm lớn), phía phải nhà đi bộ độ gần 20 căn, thì đến chung cư của sĩ quan Pháp (chung cư ở góc đường Nguyễn Trãi–Cộng Hòa, sau 1955, đổi lại là ‘Trường Tiểu học Mù’, Cộng Hòa là tên gọi 1956-1975, bây giờ gọi là gì không rõ).

Sau khi nghĩ đến nhà của vua Thành Thái, tôi chợt nhận ra rằng nơi tôi nghe được câu ‘Tâm là Phật, Phật là Tâm’ là ở trước cửa nhà của vua Thành Thái ; điều này giải thích được tại sao hai người tranh luận Phật-pháp ngoài đường phố, hôm ấy , có trình độ Thiền Tông khá cao siêu : họ có lẽ là những nhân sĩ đến yết kiến vua Thành Thái, nhằm lúc vua vắng nhà nên đứng đợi ngoài đường phố (vì là những nhân sĩ nên họ nghiên cứu Phật Pháp khá tinh !)

Như đã nói ở bài trước,

Chân Tâm là Phật, Phật là Chân Tâm

Tôi đã có nhiều dịp nói rằng Chân Tâm là Phật Tánh

Chân Tâm là Phật, Phật là Chân Tâm

Phật Tánh là Phật, Phật là Phật Tánh

Đây là chân lý :

Trong ‘Sáu cửa Thiếu Thất’, Đạt Ma Sư Tổ nói rằng ngoài Phật Tánh ra, không có ông Phật nào khác !

95) Phật Tánh chẳng phải là Đại Ngã, chẳng phải là Tiểu Ngã ;Phật Tánh, Chân Tâm, vọng tâm, linh hồn, Vô Ngã , Tự Tâm, Diệu Tâm . . .

Chân Tâm là Phật, Phật là Chân Tâm

Phật Tánh là Phật, Phật là Phật Tánh )

Nguyên lý căn bản thứ 2 của Thiền Tông là

Tất cả chúng sinh

Đều có Phật Tánh

Xưa nay chẳng sinh

Xưa nay chẳng diệt . . .

Định lý sống còn của Thiền Tông là

Bởi vì Phật Tánh không hề bị ô nhiễm nên mới nói ngộ, nói mê. Nên mới có Thiền Tông ! vì nếu Phật Tánh của ta bị ô nhiễm thì chứng ngộ Phật Tánh làm gì ??

Kiến Tánh là chứng ngộ Chân Tâm của chính ta !

_-Tại vì tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh (theo Nguyên lý căn bản thứ 2 của Thiền Tông) ; tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh do đó, ta cũng có Phật Tánh !

_-Tại vì Phật Tánh không hề bị ô nhiễm, theo . Bởi vì Phật Tánh không hề bị ô nhiễm nên mới nói ngộ, nói mê. Nên mới có Thiền Tông !

Xưa nay, Phật Tánh vốn tự viên thành ; từ vô thỉ, Phật Tánh của ta vốn viên mãn, tròn đầy, trong sáng, và vốn là Đại Niết Bàn . Cái điều cao siêu, linh dị nhất là Phật Tánh không hề bị ô nhiễm. Đây cũng là điều may mắn cho tất cả chúng sinh, vì nếu Phật Tánh của ta bị ô nhiễm thì ôi thôi ta còn biết về đâu ? Ví như hòn ngọc quí, cứ mỗi kiếp lại thêm tỳ vết, sạn cát ; thì sau vô lượng kiếp cái hòn ngọc quí đó sẽ thành cái chi chi?? Quí thì hết rồi, còn ngọc thì chẳng ra ngọc Giả sử muốn lọc lừa cho ra lại viên ngọc cũ , thì biết phải làm sao ? Chính vì Phật Tánh không hề bị ô nhiễm mà ta nên Kiến Tánh ! Nên mới có Pháp Môn Kiến Tánh ! Nên mới có Thiền Tông !

Bởi vì Phật Tánh không hề bị ô nhiễm nên chứng ngộ Phật Tánh là chứng ngộ Thường Lạc Ngã Tịnh (vì Phật Tánh là Thường Lạc Ngã Tịnh và mãi mãi là Thường Lạc Ngã Tịnh)

Chứng ngộ Phật Tánh là chứng ngộ như Phật đã chứng ngộ ; bởi vì PhậtTánh là Phật, theo Nguyên lý căn bản của Thiền Tông !

Có nói vì Phật Tánh không hề bị ô nhiễm nên mới có Thiền Tông ! (vì nếu Phật Tánh của ta bị ô nhiễm thì chứng ngộ Phật Tánh làm gì ??)

_-Tại sao ta có khả năng Kiến Tánh ?? _-Tại vì tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh (theo Nguyên lý căn bản thứ 2 của Thiền Tông) ; tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh do đó, ta cũng có Phật Tánh ! Và Kiến Tánh là chứng ngộ Phật Tánh của chính ta !

_-Chứng ngộ Phật Tánh là chứng ngộ như Phật đã chứng ngộ ; bởi vì PhậtTánh là Phật, theo Nguyên lý căn bản của Thiền Tông !

Kinh Kim Cang, dịch giả Đoàn Trung Còn

Kinh Lăng Nghiêm,dịch giả Trí Độ và Tuệ Quang

Kinh Trường A Hàm,dịch giả Thích Thiện Siêu

Kinh Vô Ngã Tướng, dịch giả Phạm Kim Khánh

Pháp Trích Lục, Huỳnh văn Niệm trích lục.

Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ, dịch giả Thích Duy Lực

Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ, dịch giả Thích Minh Trực

Chứng Đạo Ca, Huyền Giác, dịch giả Trúc Thiên

Truyền Tâm Pháp Yếu, Hoàng Bá , dịch giả Thích Duy Lực

Mục Lục Thơ AiBảo GióLay Mục Lục Thơ ‘Đặc Biệt’ Mục Lục Thơ ‘họa thơ, lẩy Kiều’ Mục Lục Thơ Thiền Toán Mục Lục Thơ ‘x Phật x’ Mục Lục Thơ ‘x Tánh x’ Mục Lục Thơ ‘x Thiền x’