Top 2 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Tên Con Người Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Welovelevis.com

Đặt Tên Cho Một Con Người

Thời gian gần đây, một số người đã lên tiếng vì cảm thấy khó gọi, khó nói, băn khoăn, lung túng về cái tên của một ai đó, đọc lên dễ hiểu lầm, kỳ cục, dị hợm hay quá dài…

Đại biểu Nguyễn Thị Nhung đề nghị luật Hộ tịch cần quy định nguyên tắc đặt tên và xác định họ cho con phù hợp với văn hoá, tránh những cái tên xấu, quá dài, không thuần Việt.

Bà Nhung dẫn chứng có những người đặt tên cho con theo tên nước ngoài hoặc tên gây mặc cảm như: Lê Văn Thật, Nguyễn Văn Lỳ; hoặc tên quá dài, gây phức tạp khi sử dụng, như Lê Hoàng Hiếu Nghĩa Đệ Nhất Thương Tâm Nhân.

“Đó là những vướng mắc ở cơ sở mà cán bộ hộ tịch đã cho ý kiến khi chúng tôi đi giám sát. Vì vậy, tôi đề nghị nếu luật Hộ tịch không quy định xác định họ, dân tộc và nguyên tắc đặt tên thì cần xây dựng một luật mới là luật Đặt tên hay quy định rõ hơn trong bộ luật Dân sự sửa đổi sắp tới”, bà Nhung nói.

Đại biểu Nhung đề nghị luật quy định nguyên tắc đặt tên và xác định họ dân tộc cho con phù hợp với văn hoá truyền thống, phong tục tập quán, tránh tình trạng vì mong muốn của bố mẹ mà họ và dân tộc của con không phù hợp phong tục, tập quán. Ví như cha mẹ là người dân tộc, nhưng lại lấy họ Nguyễn làm phát sinh họ mới, gây nhầm lẫn và trái phong tục.

Theo báo cáo tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Hộ tịch do Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý trình bày, đa số ý kiến đại biểu nhất trí với phạm vi điều chỉnh của dự án Luật. Theo ông Lý, giữa hộ tịch, hộ khẩu và căn cước công dân tuy có mối liên hệ với nhau, nhưng có phạm vi, mục đích và cách thức thực hiện khác nhau. Hộ tịch là những sự kiện quan trọng về nhân thân của công dân được Nhà nước ghi nhận và bảo vệ. Còn hộ khẩu và căn cước công dân chủ yếu để phục vụ công tác quản lý xã hội.

Về việc cấp Giấy khai sinh và Thẻ căn cước công dân có hai luồng ý kiến. Một bộ phận tán thành việc tiếp tục cấp Giấy khai sinh cho trẻ em khi đăng ký khai sinh như quy định hiện hành và một luồng ý kiến khác đề nghị bỏ việc cấp Giấy khai sinh trong dự thảo Luật hộ tịch, thay vào đó cấp Thẻ căn cước công dân cho trẻ em khi đăng ký khai sinh như trong dự án Luật căn cước công dân.

Theo Thường vụ Quốc hội, đăng ký khai sinh là việc Nhà nước chính thức thừa nhận sự ra đời của một con người. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì trẻ em sinh ra được Nhà nước cấp Giấy khai sinh trong đó ghi thông tin cơ bản của trẻ em. Giấy khai sinh có giá trị pháp lý làm căn cứ cho việc cấp các loại giấy tờ khác trong quản lý nhà nước. Hơn nữa, việc cấp Giấy khai sinh đã và đang được thực hiện thống nhất, ổn định từ nhiều năm nay, cơ bản không có vướng mắc.

“Do đó, Thường vụ Quốc hội tán thành với đề nghị của Chính phủ tiếp tục cấp Giấy khai sinh cho trẻ em khi đăng ký khai sinh”, ông Lý cho hay.

Đồng tình với báo cáo giải trình, tiếp thu, đại biểu Tô Văn Tám khẳng định thẻ căn cước công dân không thể thay thế giấy khai sinh. Theo ông Tám, giấy khai sinh có ý nghĩa là phương tiện đánh dấu sự ra đời của một con người, được nhà nước thừa nhận, vừa là cơ sở cho các loại giấy tờ khác trong quản lý nhà nước. Còn thẻ căn cước công dân nhằm phục vụ nhu cầu quản lý, thông tin trong thẻ căn cước là dựa trên giấy khai sinh.

Đại biểu Điều Huỳnh Sang (đoàn Bình Phước) không đồng tình với dự định cấp thẻ căn cước cho công dân dưới 14 tuổi vì lứa tuổi này trẻ em thay đổi nhanh về nhận dạng, gây khó khăn cho cơ quan chức năng. Hơn nữa, tuổi này chưa phải chịu trách nhiệm hình sự và giao dịch dân sự. Ngân sách nhà nước và người dân cũng sẽ phải bỏ ra số tiền không nhỏ để làm hơn 21 triệu thẻ căn cước công dân cho khoảng ¼ dân số dưới 14 tuổi.

“Thẻ căn cước công dân khi được cấp chủ yếu chỉ cất đi chứ không có nhiều tác dụng giao dịch trong cuộc sống, còn hàng chục lĩnh vực khác thì yêu cầu giấy khai sinh. Vì vậy tôi đề nghị tiếp tục cấp giấy khai sinh cho trẻ dưới 14 tuổi, thông tin khai sinh sẽ được gửi về cơ sở dữ liệu quốc gia để cấp thẻ căn cước công dân khi người này đủ 14 tuổi”, đại biểu Sang đề xuất.

Với giới hạn của mình, duyenky chỉ xin nói đến vấn đề đặt tên cho con trẻ khi mới chào đời, còn các vấn đề khác như bản tin trên nêu ra thì xin để nhà nước, những người có trách nhiệm giải quyết.

Thật vậy, cái tên của một người rất quan trọng, nó không chỉ là một ký hiệu để gọi, phân biệt, nhận ra…mà còn như động viên hay ám ảnh, vận vào người mang nó suốt cả cuộc đời họ.

Về tôn giáo, cái tên cũng có ý nghĩa và quan trọng như vậy. Thánh kinh ghi lại: Sau khi được Thiên Chúa trao một mỹ nhân, chàng Adam thích lắm, cứ ngỡ mình nằm mơ! Và trong khi phấn khởi khôn tả, chàng gọi nàng là Eva. Kinh thánh giải thích rằng chàng “đặt tên” cho nàng như vậy vì nàng là “mẹ của chúng sinh “(St 3:20)

Còn Ngôi Hai Thiên Chúa xuống trần thì được đặt tên là “Giesu”. Tên này được chính Thiên Chúa chỉ định, thích hợp cho sứ vụ của Ngôi Hai Thiên Chúa: “Đấng sẽ cứu dân mình khỏi tội.”

Đối với người Do Thái thì “Giesu” là tên đặt rất thông thường cho một người. Còn “Kito” là danh vị chính thức, nghĩa là “Đấng được xức dầu” đến để phục hưng Israel và đem ân phúc cho thế gian như lời các tiên tri đã loan báo. Cũng như Emmanuel là“Chúa ở cùng chúng ta”.

Rồi sau này Đức Giesu cũng đổi tên cho Phero thành Sinmon, nghĩa là đá cho đúng với chức vụ của ông.

Tất cả cho thấy rằng cái tên đặt rất quan trọng, nó có thể ảnh hưởng đến tâm tính người mang nó, gây thiện cảm với ngươi chung quanh, hay làm chủ nhân bực bội, chung quanh ngượng ngùng hay trêu cười…

Mặc dù cha mẹ khi đặt tên cho con không muốn thế. Nhưng vì lý do nào đó nên chọn tên như vậy để đặt cho con: thường nhất là thích tên nào thì đặt tên ấy, không để ý những hậu quả sau này, cũng có khi do bất mãn với hoàn cảnh, gia đình, người yêu… hay kỳ vọng, ước mơ con sẽ được như cái tên mình đặt…

Nếu chọn một cái tên bình thường, con bạn sẽ là một trong hàng nghìn người. Chọn một cái tên quá lạ và nổi bật, có một số điều bạn cần cân nhắc.

Có thể con bạn sẽ cảm thấy bối rối, xấu hổ khi có một cái tên khác thường. Một số người đã cố gắng học cách yêu cái tên của mình, nhưng một số khác cảm thấy bối rối, xấu hổ với tên của mình và hiếm khi dùng đến nó.

Thí dụ: Trần Đại Võ Lâm, Cao Trí Dũng Tuyền Nhân…

Một số cha mẹ chọn một cái tên khá phổ biến nhưng lại có cách viết chính tả khác thường. Bạn có muốn con mình phải mất rất nhiều thời gian để sửa chữa chính tả viết theo cách thông thường không? Nhiều người sẽ không biết cách viết chính tả hay phát âm nó.

Thí dụ: Trần Chí Trung, Nguyễn Trí Chung…

Thật khó chọn một cái tên mà con bạn chắc chắn thích. Nhưng một số người lại thích có một cái tên khác thường như:

Thí dụ: Đỗ Văn Cu Lớn, Lê Nhật Pháp Đức Mỹ Anh …

6. Tạo liên tưởng cho người khác

Nếu chọn một cái tên mà không được sử dụng phổ biến, bạn có thể dẫn con đến nhiều tình huống khó xử. Những người khác sẽ có những liên tưởng khác nhau với cái tên của con bạn.

Thí dụ: Lâm Rừng Núi, Lại Thị Hoa Thịnh Đốn…

Bạn không biết được tính cách của con sẽ thế nào khi lớn lên. Những cái tên độc, lạ có thể dẫn đến những tính cách bất thường của con. Một đứa trẻ sống khép mình làm sao có thể thích một cái tên độc và lạ.

Thí dụ: Nguyễn Ngọc Nữ Đẹp Xinh, Vũ Thông Minh Nhất…

7. Cái tên thể hiện ước mơ của người đặt:

Bạn gởi ước mơ nơi con cháu mình sẽ như mình mong ước, nhưng thực tế con cháu mình thì sao?

Thí dụ: Cao Minh Đức Trí Dũng, Vũ Thiện Nhân Hiếu Hiền…

Tất nhiên mọi người rồi cũng sẽ quen với tên mà bạn chọn. Tuy nhiên, cái tên đó vẫn là không bình thường. Hãy xem xét về tương lai của con bạn. Bạn nên đặt cho con một cái tên phổ biến cũng như tên đệm hay, để con có thể sử dụng dù bé thích hay không. Bạn cũng có thể đặt cho con một biệt danh khác thường. Nhưng đừng quá đáng ngộ nghĩnh hay quá đặc biệt khiến con bạn phải bối rối.

Nhân dịp có một gia đình người quen, con cái than thở ngay trước mặt cha mẹ rằng quí vị đặt tên cho họ thật là mâu thuẫn: đứa tên Đức thì thất đức, đưa tên Trí thì mất trí, còn đưa tên Tú thì bé nhỏ lùn tịt! Cũng như tên Nguyễn thị Đẹp mà xấu hoắc, hay Bạch Tuyết mà đen thui!…Và cũng nhân dịp con gái của duyenky đang bối rối về vấn để chọn một cái tên cho con nhỏ sắp sinh, mình đã tìm hiểu ý nghĩa của một số từ có thể dùng đặt tên cho con trẻ hay dùng làm biệt danh, biệt hiệu… trên cơ sở lấy Hán Việt làm gốc.

Cũng muốn nói thêm rằng ngoài biệt danh biệt hiệu mà khi lớn, con người có ý thức chọn lựa ra, thì cái tên cha mẹ đặt ban đầu mới gắn liền và ành hưởng tới cuộc sống cá nhân. Nhưng lại được đặt trước hay ngay sau khi sinh ra, nên có khi chẳng dính dáng hay thích hợp với chính người đó, mà chỉ do ước mơ của bố mẹ, mong muốn của gia đình mà cái tên được chọn!

Vì thế khi trưởng thành, có người tự hào, thích thú và phấn đấu với cái tên, nhưng cũng không ít người khổ tâm vì cái tên đã được đặt!

Cùng nói thêm rằng ngày xưa các cụ thường chọn tên lót cho con trai là VĂN, vì mong muốn con trai mình sẽ là người có học, văn hay chữ tốt, đạo đức…

Còn con gái thì chữ THỊ, chính là cây hoa hồng, hoa thị…rất thơm, đẹp.

Nhưng càng văn minh, người ta càng nghĩ ra những tên lót khác, tạo nên những cái tên có khi đẹp, tốt, lạ, có khi dị hợm, dài thòng và rồi tên Văn cũng như Thị đã dần biến mất!

Trừ những người muốn duy trì dòng họ của mình như dòng họ Nguyễn Khắc…, Cao Trí…Còn bình thường thì nên tránh cả tên đệm và tên gọi quá “kêu, to, nổi”, mà nên kết hợp một từ “to lớn, kêu, đẹp, tốt” với một từ giản dị có ý nghĩa bình thường…sẽ tạo nên một cái tên hay.

Thí dụ: Diễm Thu, Cát Tiên, Tuấn Vũ, Nguyên Sa…

* An: êm đềm, yên lặng, ổn định…

* Anh: sáng, đẹp, tên chung loài hoa, người tài năng nhất, tính túy, đẹp tốt…

– Bích: ngọc quí, màu xanh biếc…

– Cát: tốt, lành, phước…

* Chân: thật, bản chất, tốt tươi, có nhân đức…

* Châu: sắc đỏ, ngọc trai…

* Chi: tên một vì sao, tiếng chim kêu, thứ cỏ thom..

– Diễm: lụa chói sáng, ánh sáng của ngọc, tươi đẹp, ưa mến…

– Diệu: tốt, thần diệu, khéo léo, hay…

– Dung: bao dung, hình dáng, cây phù dung…

* Hiền: có đức hạnh, lương thiện, tốt, thẳng, tài năng…

– Kim: hiện tại, vàng, màu vàng, một trong ngũ hành…

– Loan: chim phượng con…

– Mai: cây mai, cây mơ, ngọc tốt…

* Mỹ: đẹp, tốt, khen ngợi…

* Ngọc: đá quì, vật quí, đẹp, tốt…

* Khánh: lễ mừng, phước, thưởng thức, nghiêm chỉnh…

– Tường: điềm tốt, lành, phúc, tường tận, nhớ…

– Thị: cây hồng, cây thị, chợ…

– Thúy: màu xanh biếc, mầu cẩm thạch, trong trẻo, sâu kín, thâm thuý, chim trả…

* Trân: quí báu, vật quỉ…

– Uyên: sâu xa, thâm thuý, nước xoáy…

– Yến: trời trong, buổi chiều, yên vui, ăn mặc đẹp, chim cút…

– Băng Sương: trong sạch…

– Cát Khánh: việc vui mừng…

– Cẩm Nhung: một thứ hàng có vân đẹp như nhung…

* Cam Qui: một loại qui, hoa tím….

– Cảm Tú: đẹp như gấm như thêu…

– Chi Lan: cỏ chi và cỏ lan, tính bằng hữu…

– Diệu Diệu: sáng sủa…

– Diệu Hạ (Điệu Xuân): hạ, xuân rực rỡ, tốt tươi…

* Đan Quế: cây quế đỏ, mặt trăng, thi đỗ, sung sướng…

* Giao Nguyên: cánh đồng ở ngoại ô…

* Gia Tâm: để ý thêm, để tâm vào.

* Hiền Minh: có đức sáng suốt…

– Hiền Trang: đức hạnh trang nghiêm…

– Khánh Vân: năm màu sắc, thái bình…

– Lan Châu: thuyền bằng gỗ, cây mộc lan….

– Lan Ngọc: tiết hạnh phụ nữ thỏm như lan bền chắc như ngọc…

– Lan Thạch: lan thơm, đá cứng…

– Liên Bích: hai cái đẹp liền nhau.

– Liễu Chi: cành liễu…

– Liêu Hoa: hoa cây liễu…

– Liêu My: lông mày lá liễu…

– Linh Bảo: quí báu và thiêng liêng…

– Linh Ly: lẹ làng, lanh lợi…

– Linh Thảo: một loại cỏ, vị thuốc trường sinh…

– Long Vân: rồng và mây…

– Nga Mi: phụ nữ, gái đẹp…

– Ngân Hạnh: bạch quả…

– Nguyệt Cát: may mắn, dẹp như trăng, ngày mồng một…

– Nhật Như: đều một, không lẫn lộn…

– Như Ngọc: trong sạch quí báu như ngọc…

– Oanh Hoa: chim oanh và hoa…

– Oanh Yến: chim oanh chim yến…

– Phương Quế: cây quê thơm…

– Phương Tú: thơm và đẹp…

– Quế chi: cành cây quế…

– Quế Nguyệt: tháng tám âm lịch…

– Quyến Quyện: đẹp xinh…

– Sa Châu: bãi cát, cồn cát…

– Song Thủy: sắc xanh biếc…

– Thạch Bích: đá núi đứng thẳng như bức tường…

* Trân Bảo: các loại đá quì…

* Trung Châu: miền đồng bằng…

– Uyên Chi: ý vị thâm trầm…

– Uyên Nhã: sâu sắc và phong nhã…

– Vân Nguyệt: mây và trăng…

– Vân Thụy: mặt nước chân mây…

– Vi Thúy: Khởi thủy, bắt đầu…

– Yên Nhã: sâu rộng, cao nhã…

– Yên Chí: tên một loài hoa, cây bông màu đó làm son môi…

– Yên Hạ: khói và cây, cảnh thiên nhiên, người ở ẩn…

– Yên Hoa: khói và hoa, cảnh phòng lưu…

– Yến Uyên: hòa thuận.

– Bá: người lớn tuổi, tước thứ ba trong năm tước xưa (công, hầu, bá, tự, nam), họ, một loại thông …

– Binh: căn bản, quyền, sáng tỏ, người quân lính …

– Canh: sáng chói, cảnh tượng, hinh sắc có ý nghĩa…

– Cao: sùng bái, quý trọng, vượt bực, ơn huệ, cây ngải hương…

– Công: khéo léo, chức tước, khổng tử vi, sự nghiệp, thành công…

– Chi: to lớn, ý muốn, lễ vật, một thứ cỏ thơm…

– Chính: phải, chủ trì, thích đáng, chất chính…

– Danh: danh dự, văn tự, tiếng tăm…

– Doanh: đầy đủ, dư thừa, cột nhà, thăng, hơn, tiến tới, kinh doanh…

– Duy: chỉ có một, tưởng nhớ, bao bọc, liên kết…

– Dũng: mạnh, can đảm, nhảy vọt lên, tăng lên…

– Đại: to lớn, quá, lời nói tôn trọng, thay thế, màu đen xanh…

– Đan: màu đỏ, thuốc, đơn chiếc, nồng hậu, thịnh vượng, sắc lệnh của vua…

– Đạt: hiểu thấu, thành tựu, thông báo…

– Đinh: đều nhau, ngày tháng, yên ổn, ngừng lại…

– Đức: đạo đức, ơn huệ, phục, khéo công, cậy ơn…

– Gia: nhà, thêm, có lầu, đẹp, tốt, phước, vui, cây cà, cọng sen…

– Hải: biển, sông, vật dụng lớn, tụ họp lại, một loại động vật…

* Hòa: hòa hợp, thoả thuận, êm ái, bằng nhau…

* Hoàn: hoàn toàn, tốt, giữ gìn, một loại có, trả lại, vòng ngọc, vui vẻ…

* Hoàng: lớn, tiếng tôn kính, người già, chim phượng mái, màu vàng, sáng sủa, thong thả, cây tre, một loại cá…

– Huy: ánh sáng mặt trời, đẹp tốt, rực rỡ, mau lẹ…

– Hùng: mạnh mẽ, dũng cảm, hùng hậu, con trống con đực…

– Hữu: bạn thân, hòa thuận, giúp đỡ, đầy đủ…

– Khoa: tốt đẹp, to lớn, khoe khoang, học thuật…

– Long: con rồng, vua, tốt thịnh, tôn quý, long trọng, hợp lại…

– Mạnh: lớn, dài, gắng sức, bắt đầu…

* Minh: chiếu sáng, sáng sủa, trí tuệ, dương thế, sạch sẽ, mưa nhỏ, ghi nhớ, thế ước, tiết lộ….

* Nghĩa: đường lối phải, hào hiệp, ý nghĩa, việc làm nên…

– Phong: vẻ đẹp tốt, gió, thái độ, phẩm cách, phong cảnh, phong tục, bạn chờ, giao hòa, đóng kín, đi trước…

* Phúc: phước, tốt, lành, giàu sang, việc may, trở lại, tấm lòng dấu ở trong…

– Quang: ánh sáng, rực rỡ, hết sạch, rộng lớn, trơn bóng, quả quyết, thẳng suốt…

– Quân: đều nhau, vua, cha mẹ, trói buộc, một thứ nhạc khí, một thứ cỏ, loài hươu…

– Quy: vinh hiển, sang, đặt giá, cuối cùng, hồi hộp…

– Sĩ: học trò, con trai, người nghiên cứu học vấn, làm quan, binh sĩ…

– Tài: giỏi, tài năng, tiền bạc, của cái, tính chất, tài liệu, quyết, đoán…

– Tân: mới, mau chóng, tiến thêm, tin tức, nước lớn, lúa màu đỏ, dẫn dắt…

– Tín: trung thành, tin, sứ giá, dấu hiệu, nghe theo…

– Toàn: đầy đủ, trọn vẹn, trở lại, hợp lại…

* Tú: tốt đẹp, đặc biệt, hoa, cây có, các vì sao, thêu đủ năm mầu…

– Tuấn: tài trí, tài đức, tài giỏi, cao lớn, tụ tập, mau chóng, đào sâu, ngựa bay…

– Tùng: cây thông, tụ họp…

– Tường: tốt, lành, phúc, rõ ràng, xét hỏi, chim bay lượn…

* Thái: rất lớn, an vui, lúa màu, thái độ, hình trạng, chọn, tôn vinh người già…

– Thành: thành tựu, bình định, dựng lên, thành thật, tổng kết…

* Thiên: khéo, lành, hay, tốt, giỏi, chuyên, bữa ăn, số ngàn…

– Thông: đi suốt qua, hiểu thấu, thông suốt, đểu cả, vẻ vang, không ngừng…

– Trí: khôn, hiểu biết, trao đưa, trả lại, thái độ, dày đặc, đứng lên, ân xá…

– Trọng: họ, ở giữa, nặng, khó, chuộng, tôn trọng…

– Trung: ở giữa, ngay thẳng, thân tình, thành công, thành thật, tốt lành…

– Văn: người có học vấn, hiểu biết, văn vẻ, lễ phép, đẹp, vân trên tơ lụa, mây có màu sắc, một thứ cỏ thơm…

– Việt: vượt qua, rất, lắm, tan rã, rơi rớt, bóng cây…

* Vinh: vẻ vang, tốt tươi, thịnh vượng…

– Vũ (võ): loài chim, lông chim, mái hiên, không gian, mạnh dạn, làm người phục, nguồn gốc sâu xa, bay liệng, dáng đẹp…

– Vương: vua, được qúi trọng, thịnh vượng, lớn, tên họ…

2. Tham khảo một số tên cho nam giới:

– Hạ Chí: chí hướng cao xa…

– Hài Tùng: một loại tùng…

– Hàm Chí: nuôi ý chí cương quyết…

– Hy Triệu: điềm tốt mừng…

– Khang Ninh: bình an không đau ốm…

– Khang Phu : bình an giàu có…

– Khang Thái: rất an vui…

– Long Châu: thuyền của vua được trang trí bằng hình còn rồng…

– Nhật Quang: ánh sáng mặt trời…

– Quang Huy; ánh sáng chói lọi, rực rỡ…

– Quang nghi: dung mạo sáng sủa…

– Quang Nguyên: nguồn ánh sáng…

– Quang Thái: sáng ngời, rực rỡ…

– Quý Hiển: sang trọng, hiển vinh…

– Tài Trí: tài năng và trí tuệ…

– Tài Vụ: tai năng và vũ dũng…

– Tam Nguyên: trời, đất và con người, rằm tháng 1,7,10 – đỗ đầu thi Hương, Hội và Đình…

– Tư Bao: 4 vật quí của nhà văn (giấy, viết, mực, nghiên)…

– Tùng Hoàng: hoa cây thông…

– Tùng Quân: cây thông, cây trúc…

– Tượng Thủy: điềm tốt lành…

– Vũ Đức: dức tốt của quân nhân (trí, nhân, dũng nghiêm)…

– Vũ sĩ: người giỏi võ nghệ, mạnh mẽ, can đảm…

– Xuân Huyên: cây xuân và cây huyên (cha, mẹ)…

Đấy là một số danh từ có thể dùng làm tên lót hay đặt tên có ý nghĩa và cũng hay hay, không quá đáng cũng không bao giờ bị hiểu lầm mà duyenky chủ quan chọn lọc, tuy nhiên còn rất nhiều, nhiều lắm với những cách ghép khác nhau, chúng ta sẽ có một cái tên thật duyên dáng dễ thương cho con gái hay một cái tên phù hợp cho con trai sẽ là đấng mày râu bặt thiệp sau này mà đẹp, lạ, dễ nghe, dễ gọi nữa.

Ý Nghĩa Của Tên Người Vần K

Nếu K là chữ cái bắt đầu tên bạn chứng tỏ bạn thích cuộc sống tự do, vui vẻ và vô tư. Bạn đặc biệt yêu thích âm nhạc vì âm nhạc có thể làm dịu bớt sự căng thẳng trong tâm hồn. Bạn thường chủ động đối mặt với những vấn đề nan giải trong cuộc sống.

Kế: Kiến thức uyên bác, đối xử công bằng, có số xuất ngoại.

Kết: Đa tài, cuộc đời thanh nhàn, trung niên yên ổn, cuối đời gặp chuyện buồn.

Khả: Thông minh, số đào hoa, cuối đời hưởng phúc lộc.

Khắc: Có số làm quan nhưng khắc bạn đời và con cái.

Khách: Phúc lộc song toàn, trung niên vất vả, cuối đời thanh nhàn, cát tường.

Khải: Trí dũng song toàn, đi xa gặp may, trung niên hưng vượng, gia cảnh tốt.

Khản: Có tài năng song không gặp thời, trung niên gặp nhiều tai ương, cuối đời cát tường.

Khán: Đa tài, lanh lợi, trung niên thanh nhàn, cát tường, cuối đời vất vả.

Kháng: Thuở nhỏ vất vả, kỵ sông nước, cuối đời cát tường.

Khang: Trí dũng song toàn, hay giúp đỡ người, trung niên bôn ba, cuối đời cát tường.

Khánh: Anh minh, đa tài, danh lợi vẹn toàn, phú quý.

Khanh: Có số làm quan, xuất ngoại, trung niên thành đạt.

Khảo: Cả đời thanh bạch, bình dị, nếu xuất ngoại sẽ cát tường; trung niên vất vả nhưng cuối đời thành công.

Khao: Có số xuất ngoại, cả đời bình an, khắc cha mẹ.

Khẩu: Có tài ăn nói, trung niên vất vả nhưng cuối đời cát tường.

Khích: Đi xa gặp quý nhân phù trợ, có số làm quan, nên kết hôn muộn sẽ đại cát, cả đời hưng vượng.

Khiếm: Hay lo lắng, cuộc sống khốn khó, khắc bạn đời và con cái.

Khiêm: Thông minh, nhanh nhẹn, có tài giao tiếp, trung niên sống bình dị, cát tường.

Khiêu: Thanh tú, lanh lợi, trắc trở tình duyên, trung niên đề phòng có họa, cuối đời cát tường, phú quý.

Khoa: Anh tú, trung niên thành công, thịnh vượng, xuất ngoại sẽ cát tường.

Khóa: Thuở nhỏ gian khó, trung niên bình dị, cuối đời cát tường.

Khoái: Bản tính thông minh, đa tài, tình duyên trắc trở, trung niên vất vả, cuối đời cát tường.

Khoan: Thanh nhàn, đa tài, phú quý, trung niên cát tường, gia cảnh tốt, nếu là con gái thì không nên đặt tên này.

Khoáng: Mẫn tuệ, gia cảnh tốt, cả đời cát tường.

Khôi: Cuộc đời thanh nhàn, bình dị, cẩn thận lời ăn tiếng nói, cuối đời cát tường.

Khởi: Khắc bạn đời hoặc con cái, xuất ngoại sẽ gặp phúc, số có 2 vợ, trung niên vất vả, cuối đời phát tài, phát lộc.

Khôn: Thanh tú, lanh lợi, con cái thông minh, trung niên có tai họa, kết hôn muộn sẽ hạnh phúc.

Khổng: Ưu tư, lo nghĩ nhiều, trung niên vất vả, cuối đời hưởng sung sướng.

Khuất: Thuở nhỏ gian nan, trung niên thành công rộng mở, có số đào hoa; một số người lo nghĩ nhiều.

Khuê: Cả đời phúc lộc, trí dũng song toàn, trung niên cát tường.

Khung: Có tài song không gặp thời hoặc vất vả cả đời, tính tình cương trực.

Khương: Đa tài, nhanh trí, tính tình ôn hòa, trung niên vất vả, cuối đời cát tường.

Khuyên: Sống thanh nhàn, trọng tín nghĩa, trung niên cát tường, gia cảnh tốt.

Kiếm: Tính tình quyết đoán, cẩn thận gặp họa dao kiếm, trung niên vất vả, cuối đời cát tường.

Kiến: Tính tình quyết đoán, có tài, xuất ngoại gặp phúc, xa quê lập nghiệp thành công, trung niên vất vả, nếu kết hôn và sinh con muộn thì sẽ đại cát, phúc lợi song toàn.

Kiện: Ưu tư, vất vả, khó được hạnh phúc, cuộc sống gặp nhiều trắc trở, tai ương.

Kiệt: Xuất ngoại đại cát, trung niên cát tường, cuối đời hưng vượng.

Kiều: Đa tài, đức hạnh, trí dũng song toàn, có số làm quan hoặc xuất ngoại.

Kính: Đa tài, đức hạnh, gặp nhiều may mắn, có số làm quan, gia cảnh tốt.

Kỵ: Gia đình không hạnh phúc, lắm bệnh tật, cuối đời vui vẻ.

Kỳ: Học vấn uyên thâm, trí dũng song toàn, có số làm quan, có 2 con sẽ đại cát, cả đời vinh hoa phú quý.

Kỷ: Thời trai trẻ bôn ba, vất vả, lận đận chuyện tình cảm, cuối đời hưởng hạnh phúc.

Chọn tên cho con như thế nào?

Ngoài ý nghĩa tên theo vần, bạn có thể xem tuổi và bản mệnh của con để đặt tên cho phù hợp. Một cái tên hay và hợp tuổi, mệnh sẽ đem lại nhiều điều tốt đẹp cho con bạn trong suốt đường đời.

Đặt tên theo tuổi

Để đặt tên theo tuổi, bạn cần xem xét tuổi Tam Hợp với con bạn. Những con giáp hợp với nhau như sau:

Thân – Tí – Thìn

Tỵ – Dậu – Sửu

Hợi – Mão – Mùi

Dần – Ngọ – Tuất

Dựa trên những con giáp phù hợp bạn có thể chọn tên có ý nghĩa đẹp và gắn với con giáp Tam Hợp. Ngoài ra cần phải tránh Tứ Hành Xung:

Tí – Dậu – Mão – Ngọ

Thìn – Tuất – Sửu – Mùi

Dần – Thân – Tỵ – Hợi

Đặt tên theo bản mệnh

Bản mệnh được xem xét dựa theo lá số tử vi và theo năm sinh, tùy theo bản mệnh của con bạn có thể đặt tên phù hợp theo nguyên tắc Ngũ Hành tương sinh tương khắc:

Dựa theo Tử Vi, các tuổi tương ứng sẽ như sau:

Thìn, Tuất, Sửu, Mùi cung Thổ

Dần, Mão cung Mộc

Tỵ, Ngọ cung Hỏa

Thân, Dậu cung Kim

Tí, Hợi cung Thủy

Bạn có thể kết hợp theo từng năm sinh để lựa chọn tên theo bản mệnh phù hợp nhất, ví dụ:

Canh Dần (2010), Tân Mão (2011): Tòng Bá Mộc (cây tòng, cây bá)

Nhâm Thìn (2012), Quý Tỵ (2013): Trường Lưu Thủy (nước chảy dài)

Giáp Ngọ (2014), Ất Mùi (2015): Sa Trung Kim (vàng trong cát)

Bính Thân (2016), Đinh Dậu (2017): Sơn Hạ Hỏa (lửa dưới núi)

Mậu Tuất (2018), Kỷ Hợi (2019): Bình Địa Mộc (cây mọc đất bằng)

Ý Nghĩa Tên Của Những Người Vần V

Văn: Thông minh, liêm khiết, thanh tú, đa tài, có số xuất ngoại. Trung niên thành công, phát tài, phát lộc.

Vận: Là người nhanh trí, trung niên cát tường, cuối đời ưu tư.

Vân: Thông minh, lanh lợi, số vinh hoa, phú quý. Trung niên thành công, phát tài, phát lộc, cuối đời thịnh vượng, số có 2 con trai.

Ý nghĩa của tên người vần V – Mẹ mang thai – Cách đặt tên cho con – Ý nghĩa của tên người – Đặt tên hay cho bé Vật: Số ít phúc, nhiều tai ương, đau ốm, khó trường thọ, số có 2 con trai.

Vi: Phúc lộc song toàn, phú quý, đa tài, trung niên bôn ba vất vả, cuối đời cát tường.

Vĩ: Đa tài, nhanh trí, lanh lợi, cẩn thận họa ái tình. Trung niên thành công hưng vượng, cuối đời nhiều lo lắng, sầu muộn.

Vị: Phúc lộc song toàn, đa tài, xuất ngoại sẽ cát tường, được quý nhân phù trợ, thành công, phát tài, phát lộc, kỵ nước, kỵ lửa.

Viêm: Thông hiểu đại nghĩa, ôn hòa, hiền hậu, thành công hưng vượng.

Viên: Bản tính chất phác, ôn hòa, hiền hậu, trung niên thành công, hưng vượng.

Viễn: Đa tài, thanh tú, nhạy bén, có số xuất ngoại. Trung niên thành công, phát tài, phát lộc.

Viện: Thanh tú, lanh lợi, ôn hòa, hiền hậu, trung niên cát tường, cuối đời hưng vượng, xuất ngoại sẽ cát tường.

Viết: Cuộc đời thanh nhàn, trung niên vất vả, gia vận tốt.

Vĩnh: Khắc cha mẹ, xuất ngoại sẽ được tài lộc, trung niên bôn ba vất vả, cuối đời phát lộc, vinh hoa phú quý.

Vong: Thuở nhỏ vất vả, trung niên tuy vất vả song được hưởng phúc, vinh hoa, cuối đời cát tường.

Vu: Là người hiền hậu, cuộc đời thanh nhàn, phú quý. Trung niên vất vả, cuối đời ăn nên làm ra. Nếu là con gái thì gặp nhiều tai ương bất hạnh.

Vũ: Thanh tú, lanh lợi, ôn hòa, hiền hậu, trung niên thành công, danh lợi song toàn.

Vương: Cả đời thanh nhàn, vinh hoa, số có 2 vợ. Trung niên bôn ba vất vả, cuối đời thành công phát tài.

Vượng: Tính tình cương trực, mau miệng, trung niên bôn ba vất vả nhưng thành công, hưng vượng, gia cảnh tốt.

Vưu: Cuộc đời thanh nhàn, thông minh lanh lợi, khắc bạn đời, khắc con cái. Trung niên vất vả, cuối đời phát tài phát lộc.

Related posts:

Liên Quan Khác

Tại Sao Gọi Người Hà Nội Là Người Tràng An?

Câu ca dao cổ tự ngàn xưa gợi nhắc cho ta về nét đẹp người Hà Thành, nhưng ý nghĩa của nó chưa mấy ai đã hiểu rõ. Tại sao lại là “Tràng An”? Trong lịch sử, Hà Nội chưa bao giờ được gọi là Tràng An cả, mặc dù đã từng qua rất nhiều lần thay đổi tên gọi như: Thăng Long, Đại La, Đông Đô… hay nôm na là Kẻ Chợ. Tuy nhiên, trong câu ca trên thì Tràng An đích thị là chỉ Hà Nội – Thủ đô ngàn năm văn hiến của người Việt – chứ không chỉ bất cứ một nơi nào khác. “Tràng An” là một mĩ từ có nguồn gốc xuất phát từ Trung Quốc. Đây vốn là kinh đô của Trung Hoa thời Đường, kéo dài suốt bốn thế kỷ (năm 608 – 907), cũng là bốn thế kỷ thịnh vượng, mang dấu ấn văn hóa Hán nhất. Người Trung Hoa sau này ấn tượng về sự phồn thịnh của kinh đô ấy tới mức đã cấp cho địa danh này một nghĩa mới: Cứ nói đến “Tràng An” tức là nói tới kinh đô. Hơn nữa, với nghĩa danh từ “Tràng An” là một cụm từ ghép cố định, chỉ một địa danh. Còn với nghĩa tính từ thì “Tràng An” còn chỉ sự lâu bền, bình yên, an lành. Như thế, đây là một cách sử dụng điển tích thể hiện niềm tự hào hoài cổ, nhưng ngày nay chúng ta đã Việt hóa làm cho ý nghĩa của hai chữ “Tràng An” trở nên sâu xa hơn (đất Tràng An, phong tục Tràng An…). Câu ca dao trên được xây dựng trên cấu trúc song hành: “Chẳng… cũng thể…”, đặt “người Tràng An” bên cạnh “hoa nhài”, “thơm” sánh với “thanh lịch”. Đây quả là một sự liên tưởng độc đáo! “Nhài” là một loại cây nhỡ, lá hình bầu dục, hoa trắng mọc thành cụm, nở về đêm, có mùi thơm dịu nhẹ, thoang thoảng và quyến rũ. Có lẽ, chính từ phẩm chất này mà dân gian đã chuyển sang để so sánh với nét đẹp của người Hà Nội. “Thanh lịch”, thanh nhã và lịch sự, là một phẩm chất đáng quý. Người thanh lịch không chỉ có cử chỉ tao nhã, lịch sự mà phải là một người có hiểu biết sâu sắc, có cách ứng xử đúng mực, duyên dáng, đáng yêu, tức là người đó phải hội đủ các yếu tố về nội dung và hình thức. Tóm lại, câu ca dao muốn ngợi ca sự thanh lịch của người Tràng An, ắt là điều tất yếu không thể phủ nhận được giống như hương thơm của hoa nhài vậy.

Tuy nhiên, “người Tràng An” là bao gồm những ai và tại sao người Hà Nội – Tràng An lại được đề cao đến vậy? Thật khó mà xác định được điểm mốc nào để gọi là người Hà Nội gốc. Sinh ra ở Hà Nội, hay trưởng thành ở Hà Nội, hay có ông bà cha mẹ ở Hà Nội Người Hà Nội là những người đã sống ở đây từ trước năm 1945 hay trước 1954, 1975? Theo tôi, điều đó không quan trọng. Tất cả những người đang sống và làm việc trên đất Hà Nội, đang cống hiến cho Hà Nội, và kể cả những người đang yêu thương Hà Nội dù chỉ là trong suy tưởng đều có thể coi là “người Hà Nội”. Chúng ta không thể phủ nhận sự thanh lịch của Hà Nội, bởi đó là thực tế. Tính cách thanh lịch đó thể hiện ở cách ứng xử văn hóa mà cụ thể là trong cách nói năng, ăn mặc, giao tiếp… Tiếng nói Hà Nội phát âm đúng, từ ngữ chuẩn xác, có thể làm mẫu mực cho cả nước. Người Hà Nội biết tiếp thu có sàng lọc tiếng nói của mọi miền đất nước, giữ lại những gì tinh túy nhất nên lời nói lưu loát, nhã nhặn lại ý nhị, tôn trọng người đối thoại. Mặt khác, người Hà Nội rất sành ăn uống, họ đã nâng việc nấu ăn lên thành nghệ thuật ẩm thực. Món ăn Hà Nội ngon từ cách chế biến, từ chút gia vị, nước chấm cho đến cách bày biện đẹp mắt, gợi cảm mà không phàm tục, và khi ăn cảm thấy thích thú. Chẳng thế mà bao nhà văn tên tuổi đã dành cả cuốn sách để viết về đề tài này như Thạch Lam với “Quà Hà Nội” hay Vũ Bằng với “Miếng ngon Hà Nội”. Trong trang phục, người Hà Nội ưa sự gọn gàng, tề chỉnh, trang nhã. Đẹp nhưng kín đáo, không hề cầu kỳ lòe loẹt, phô trương lố lăng, họ đã tôn vinh phong cách dân tộc trong trang phục. Đã có không ít người nước ngoài ấn tượng đến sững sờ trước một tà áo dài Hà Nội duyên dáng như mây thu mơ hồ, mặc dù phụ nữ nước họ cũng có những bộ váy dân tộc rực rỡ với nhiều vẻ đẹp. Tính thanh lịch ấy còn được thể hiện trong cách làm ăn, giao tiếp. Sự thanh lịch mà Thăng Long – Hà Nội có được là do cả một quá trình lịch sử lâu dài. Và cũng không thể nào hun đúc, bảo tồn được nền văn hiến thanh lịch ấy nếu không có sự bồi đắp của những tinh hoa khắp mọi miền dành cho Thủ đô. Chẳng hạn như những bài hát hay nhất cho Hà Nội cũng không phải người Hà Nội viết. Hay Bùi Xuân Phái, tác giả của rất nhiều bức tranh đẹp về Phố cổ Hà Nội, cũng là người xuất thân từ tỉnh Hà Đông chứ không phải từ 36 phố phường. Ngày nay, Hà Nội cũng như mọi miền trên cả nước đang mở rộng trên con đường giao lưu và hội nhập quốc tế. Hà Nội đổi mới từng ngày, từng giờ nhưng bản sắc Hà Nội từ ngàn xưa vẫn còn giữ mãi. Với sức sống dẻo dai, với lòng yêu cái đẹp đã được hun đúc từ nhiều đời, người Hà Nội hôm nay đã và đang đẩy lùi những gì không phải là của mình. Từng người, từng gia đình vẫn giữ “nếp nhà” như thể người Hà Nội muôn đời thanh lịch.