Bài 24. Nước Đại Việt Ta

--- Bài mới hơn ---

  • Tinh Thần Đoàn Kết? Cần Làm Gì Để Phát Huy Tinh Thần Đoàn Kết Cao Độ?
  • Những Câu Chuyện Về Tinh Thần Đoàn Kết Của Bác
  • Đoàn Kết Dân Tộc Là Nhân Tố Có Ý Nghĩa Quyết Định, Bảo Đảm Thắng Lợi
  • Danh Sách Các Thành Viên Nhóm Nhạc Exo Của Hàn Quốc
  • Ý Nghĩa Của Việc Đặt Tên Những Con Đường Ở Sài Gòn Trước 1975
  • Giáo viên:Hồng Huyền Trân

    TRƯỜNG THCS HÒA THUẬN 2

    MỤC TIÊU BÀI HỌC:

    Chỉ ra và phân tích được những biểu hiện của ý thức dân tộc và một số nét đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích nước Đại Việt ta. Nhận xêt được nội dung ý nghĩa của đoạn trích.

    Biết cách dung các kiểu câu để thực hiện hành động nói.

    A. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG:

    Các nhóm cử đại diện trình bày trước lớp những hiểu biết về tác giả Nguyễn Trãi.

    NƯỚC ĐẠI VIỆT TA

    I/ Giới thiệu :

    1/ Tác giả :

    – Nguyễn Trãi (1380-1442) hiệu là Ức Trai, quê ở Hải Dương, sau dời về Hà Tây.

    – Ông là người toàn đức, toàn tài, một nhân vật lịch sử lỗi lạc, một Danh nhân văn hoá thế giới (1980)

    Cáo là gì ?

    2/ Cáo là gì ?

    Cáo là thể văn nghị luận cổ, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương hay công bố kết quả một sự nghiệp để mọi người cùng biết.

    Cáo phần nhiều được viết theo thể văn biền ngẫu. Cũng như hịch, cáo là thể văn có tính chất hùng biện, lời lẽ đanh thép,lí luận sắc bén, kết cấu chặt chẽ, mạch lạc.

    3/ Tác phẩm :

    Đoạn văn trích phần đầu bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Ông thay mặt Lê Lợi viết bài cáo này sau khi đánh tan giặc Minh xâm lược 1428.

    B. HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC

    1.Đọc văn bản:

    Từng nghe :

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

    Như nước Đại Việt ta từ trước,

    Vốn xưng nền văn hoá đã lâu,

    Núi sông bờ cõi đã chia,

    Phong tục Bắc Nam cũng khác.

    Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập

    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương,

    Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

    Song hào kiệt đời nào cũng có.

    Vậy nên :

    Lưu Cung tham công nên thất bại,

    Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong,

    Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô,

    Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã.

    Việc xưa xem xét

    Chứng cớ còn ghi.

    Qua hai câu đầu, ta hiểu cốt lõi tư tưởng

    nhân nghĩa của

    Nguyễn Trãi là gì ?

    2. Tìm hiểu văn bản :

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

    a/ Cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa ( 2 câu đầu )

    Cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là yên dân và trừ bạo :

    – Yên dân là làm cho dân được hưởng thái binh, hạnh phúc.

    – Trừ bạo là tiêu diệt kẻ thù xâm lược giặc ( giặc Minh )

     Muốn cho yên dân thì phải trừ bạo. Theo tác giả, tư tưởng nhân nghĩa gắn liền với yêu nước chống xâm lược, lấy dân làm gốc.

    Để khẳng định chủ quyền dân tộc, tác giả đã khẳng định những yếu tố nào ?

    ( 8 câu tiếp )

    Như nước Đại Việt ta từ trước,

    Vốn xưng nền văn hoá đã lâu,

    Núi sông bờ cõi đã chia,

    Phong tục Bắc Nam cũng khác.

    Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập

    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương,

    Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

    Song hào kiệt đời nào cũng có.

    – Chủ quyền

    – Lãnh thổ

    b/ Khẳng định chủ quyền dân tộc ( 8 câu tiếp )

    Tác giả đưa ra 5 yếu tố cơ bản để khẳng định chủ quyền dân tộc ngang hàng với Trung Quốc :

    – Nền văn hiến lâu đời

    – Lãnh thổ

    – Phong tục tập quán

    – Lịch sử

    – Chủ quyền

    Chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật

    c. Đặc sắc nghệ thuật:

    – Sử dụng những từ ngữ thể hiện tính chất hiển nhiên, vốn có như từ trước, vốn xưng, đã lâu, đã chia, cũng khác.

    – Sử dụng nhiều phép tu từ : so sánh, tương phản, liệt kê.

    Hình thành

    sơ đồ khái quát

    trình tự lập luận

    của bài cáo

    NGUYÊN LÍ

    NHÂN NGHĨA

    YÊN DÂN

    TRỪ BẠO

    CHÂN LÍ VỀ SỰ TRƯỜNG TỒN

    CỦA DÂN TỘC ĐẠI VIỆT

    SỨC MẠNH CỦA NHÂN NGHĨA

    SỨC MẠNH CỦA ĐỘC LẬP DÂN TỘC

    Văn hiến

    Lãnh thổ

    Phong tục

    Lịch

    sử

    Chủ quyền

    Sơ đồ khái quát trình tự lập luận của bài cáo

    d/ Ý nghĩa văn bản :

    Nước Đại Việt ta thể hiện quan niệm, tư tưởng tiến bộ của Nguyễn Trãi về Tổ Quốc, đất nước và có ý nghĩa như bản tuyên ngôn độc lập.

    Câu hỏi thực hành:

    Qua hai câu đầu, ta hiểu cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là gì ?

    Để khẳng định chủ quyền dân tộc, tác giả đã khẳng định những yếu tố nào ?

    – Nêu nội dung chính của văn bản.

    3. Tìm hiểu về hành động nói tiếp theo:

    a. Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:

    Thuộc ghi nhớ, làm bài tập trong SBT Ngữ văn

    Viết một đoạn văn ngắn, chỉ ra hành động nói và cách thực hiện hành động nói.

    Chuẩn bị bài: Bn lu?n v? php h?c.

    XIN CHÀO TẠM BIỆT

    --- Bài cũ hơn ---

  • ‘thương Hiệu Tôn Vinh Sức Sống Của Đại Việt’
  • Tên Con Lê Đình Huy Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Đặng Đình Huy Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Trần Diệu Nhi Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Ý Nghĩa Tên Các Địa Danh Ở Tây Nguyên
  • Chữ Cồ Trong Quốc Hiệu Đại Cồ Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Có Cái Tên “sài Gòn”?
  • Khám Phá Ý Nghĩa Tên Gọi Các Mẫu Xe Hyundai
  • Huyền Bí Thạch Động Hà Tiên
  • Tên Gọi Vĩnh Long Có Nghĩa Gì?
  • Nguồn Gốc Tên Gọi Đà Nẵng
  • Học giả An Chi: Chúng tôi đã năm lần nói về chữ “cồ” trong quốc hiệu “Đại Cồ Việt”. Lần đầu tiên là trên số 353 (1-6-2000), chúng tôi đã trả lời ngắn gọn rằng, ở đây, “cồ” không phải là một chữ Nôm nhưng vẫn còn cho rằng nó là âm xưa của chữ Hán 巨, mà âm Hán Việt hiện đại là “cự”, có nghĩa là to, lớn. Lần thứ hai là trên Kiến thức Ngày nay số 599 (1-4-2007), chúng tôi đã nhận xét về ý kiến của Kỳ Quảng Mưu 祁广谋 trong bài “Đại Cồ Việt quốc danh thích”, đăng trên Đông Nam Á tung hoành 东南並 纵橫 năm 2000 (tr.35-38), cho rằng cồ là một chữ Hán, có nghĩa gốc là: 1. dáng nhìn sợ hãi; 2. kinh ngạc, lo sợ. Cách giảng trịch thượng, ngu xuẩn này hẳn làm hài lòng bọn bá quyền, bành trướng. Sau khi bác bỏ ý kiến của họ Kỳ, chúng tôi đã chứng minh rằng “cồ” là hình thức nói tắt của Cồ Đàm Ma, họ của Đức Phật Thích Ca, phiên âm từ tiếng Sanskrit Gautama. Vậy Đại Cồ Việt là nước Việt vĩ đại theo đạo Phật. Nhưng có một tác giả là Nguyễn Anh Huy đã chính thức bác chúng tôi và “thách” chúng tôi phải trả lời. Chúng tôi đã trả lời chi tiết trên số 4-2009. Đó là lần thứ ba. Lần thứ tư là trên Đương thời số 8-2009, chúng tôi đã bác ý kiến của tác giả Huỳnh Dõng cho rằng cồ là một chữ Hán, có nghĩa là “núi non lởm chởm, hiểm trở, bao quanh bởi sông nước cuộn trào”. Lần thứ năm là trên An ninh Thế giới số 918 (16-12-2009), chúng tôi đã nhận xét và phản bác ý kiến của tác giả Tạ Chí Đại Trường cho rằng “quốc hiệu Đại Cồ Việt chẳng văn hoa tí nào”.

    Lần này là lần thứ sáu. Vừa mới đây, chúng tôi có nhận được từ chuyên gia Hán Nôm trẻ Nguyễn Tuấn Cường đường liên kết trên Facebook để đọc bài “Về quốc hiệu đời nhà Đinh” của GS Nguyễn Tài Cẩn ( chúng tôi ngày 31-5-2009). Trước khi trình bày rõ quan điểm của mình để trả lời bạn, chúng tôi xin mạn phép phân tích kỹ điểm quan trọng nhất mà chúng tôi không thể đồng ý với giáo sư.

    Điểm quan trọng đầu tiên mà chúng tôi hoàn toàn không đồng ý với GS Nguyễn Tài Cẩn là ở chỗ, ông cho rằng Cồ Việt là “nước Việt hùng mạnh có thứ vũ khí gọi là cồ” (Giả thuyết I). Ngay từ đầu giả thuyết, GS Cẩn đã khẳng định một cách võ đoán rằng “giả thuyết này, nhìn chung, khá quen thuộc”. Nhưng rõ ràng là nó mới được tung ra, cho nên gần cuối đoạn thì chính ông Cẩn đã phải nói rõ rằng đây là một cách hiểu thứ ba do Nguyễn Anh Huy mới đề xuất thêm. Thế là ông đã bất nhất ngay từ đầu. Ông Cẩn đề nghị dành ưu tiên cho cách hiểu “mới mẻ này” vì ba lý do, mà lý do đầu tiên là: “Nó hợp với thời đại: theo Nam Hải dị nhân, Đinh Bộ Lĩnh có gươm, vậy thời đại nỏ thần đã chuyển sang thời đại gươm giáo.”

    Tóm lại, với chúng tôi, mặc dù có cả sự tăng cường về lý luận của GS Nguyễn Tài Cẩn, thuyết “cồ = vũ khí” của tác giả Nguyễn Anh Huy vẫn không thể dùng được. Tại những nguồn thư tịch đã nói, chúng tôi đã phân tích và chứng minh rằng Đại Cồ Việt là một kiểu đặt tên toàn Hán, mà Cồ Việt là một danh ngữ có cấu trúc cú pháp giống như Âu Việt, Lạc Việt, Dương Việt, Điền Việt, Mân Việt, v.v… trong đó Cồ, Âu, Lạc, Dương, Điền, Mân là định ngữ của Việt. Cồ là hình thức nói tắt lần thứ hai của Cồ Đàm Ma, mà hình thức nói tắt lần đầu là Cồ Đàm, họ của Đức Phật Thích Ca, phiên âm từ tiếng Sanskrit Gautama. Vậy Cồ Việt là “nước Việt lấy đạo Phật làm quốc giáo”. Và Đại Cồ Việt là “nước Việt vĩ đại lấy đạo Phật làm quốc giáo”. Quốc hiệu này cho thấy sự sáng suốt của Vua Đinh từ đối nội đến đối ngoại. Về đối nội, sử gia Đào Duy Anh cho biết:

    “Đinh Bộ Lĩnh chỉ có thể dựa vào tập đoàn phong kiến tôn giáo là thành phần xã hội có uy tín nhất trong xã hội bấy giờ để duy trì trật tự và kỷ cương. Nhưng trong hai tôn giáo, Phật và Đạo, đều thịnh hành trong dân gian, thì Phật giáo có tổ chức và qui củ vững vàng hơn, có kinh điển và lễ nghi nghiêm trang hơn, chứ Đạo giáo thì chỉ là một mớ phương thuật và mê tín. Về tổ chức cũng như về tinh thần, Phật giáo là yếu tố thống nhất đắc lực nhất thời bấy giờ. Bởi thế Đinh Tiên Hoàng mới lấy Phật giáo làm quốc giáo, định phẩm cấp tăng nhân để giao cho họ lãnh đạo Phật giáo trong toàn quốc (AC nhấn mạnh). Khuông Việt đại sư tham gia triều chính như một vị tể tướng. Các chùa (tự viện) của Nhà nước do các tăng quan trụ trì đều được cấp ruộng làm tự điền. Các tự viện có những đại điền trang không kém gì đại điền trang của bọn vương công đại thần”. ( Lịch sử Việt Nam, q. thượng, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1958, tr.175).

    Chủ trương của Đinh Tiên Hoàng về đối nội như thế thật là cực kỳ sáng suốt. Về đối ngoại, ông cũng tinh tế không kém. Ta nên nhớ rằng, đồng thời với nước Đại Cồ Việt thì, nằm dọc theo bờ biển phía nam Trung Quốc thời Ngũ đại Thập quốc (bên Tàu), là nước Nam Hán, tồn tại từ 917 đến 971. Trong năm đầu tiên, Nam Hán được đặt tên là Đại Việt. Đến năm 968, khi quốc hiệu Đại Cồ Việt ra đời thì Nam Hán đã tồn tại được 49 năm còn tên cũ của nó là Đại Việt thì đã bị bỏ từ 48 năm rồi. Nhưng Đinh Tiên Hoàng là một vị vua nhìn xa trông rộng. Ông đâu có quên chuyện quân Nam Hán sang xâm lược nước ta hồi 937 (mà bị Ngô Quyền đánh cho tơi bời trên sông Bạch Đằng). Dã tâm xâm lược của chúng có bao giờ nguội tan. Cho nên, nếu Đinh Tiên Hoàng đặt tên nước là “Đại Việt” thì chẳng hoá ra ông mời chúng sang “đòi lại đất cũ của Nam Hán” hay sao? Sự gian manh của bọn này thì ta còn lạ gì (nhất là nếu ta liên hệ tới tình hình biển Đông hiện nay)! Vì thế nên phải có một định ngữ trước từ Việt của ta để phân biệt với “Việt” cũ của Nam Hán. Đó là chữ , họ của Đức Phật Thích Ca. Vậy Cồ Việt là nước lấy đạo Phật làm quốc giáo. Đây cũng là một sự thật lịch sử. Đến 1054, khi Lý Thánh Tông đổi Đại Cồ Việt thành Đại Việt thì Nam Hán, tức Đại Việt cũ bên Tàu, đã bị tiêu diệt được 83 năm. Cái nguy cơ làm cho Đinh Tiên Hoàng phải dè chừng, từ lâu đã không còn nữa. Cái thế của nước ta đã khác. Ta nên nhớ rằng năm 1075, Lý Thường Kiệt còn đem quân sang đánh Tống nữa kia mà. Huống chi, tuy đạo Phật vẫn được tôn sùng nhưng bây giờ Nho giáo đã bắt rễ khá sâu trong xã hội Việt Nam, nhất là từ khi Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long (1010). Chữ Cồ đã xong nhiệm vụ từ đối nội (trong nước, Nho giáo bắt đầu thịnh) đến đối ngoại (không còn sợ họa “đòi đất” vì hai chữ “Đại Việt”).

    Thế là chữ Cồ trong Đại Cồ Việt đã hoàn thành sứ mệnh của nó một cách vẻ vang. Nó đã có mặt trong quốc hiệu 86 năm (968-1054), từ Đinh Tiên Hoàng đến Lý Thánh Tông, với tư cách là một yếu tố biểu hiện thể chế tôn giáo của nước nhà: nước Việt lấy Phật giáo làm quốc giáo.

    A.C

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Gọi Việt Nam Có Từ Khi Nào?
  • Ý Nghĩa Sự Ra Đời Vị Trí Và Vai Trò Của Nhà Nước Đại Cồ Việt Thời Đinh Trong Tiến Trình Lịch Sử Dân Tộc
  • Top 100 Tên Hay Và Ý Nghĩa Ba Mẹ Nên Đặt Cho Con Yêu Của Mình
  • Tên Hồ Hạnh Thiên Duyên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Con Gái Tên Trang Và Mong Muốn Của Cha Mẹ: Ý Nghĩa Tên Trang Là Gì?
  • Bài 9. Nước Đại Cồ Việt Thời Đinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Con Nguyễn Gia Phong Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Hoàng Nguyễn Gia Linh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tham Quan Bến Nhà Rồng
  • Đặt Tên Cho Con Trần Hương Giang 55/100 Điểm Trung Bình
  • Tên Trần Giang Hương Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • LỊCH SỬ 7

    Kiểm tra bài cũ

    Câu 1:

    Nhà Đinh xây dựng đất nước như thế nào? Ý nghĩa việc đặt tên nước là Đại Cồ Việt?

    Câu 2:

    Hoàn cảnh ra đời nhà tiền Lê? Tổ chức bộ máy nhà tiền Lê?

    BÀI 9

    NƯỚC ĐẠI CỒ VIỆT THỜI ĐINH-TIỀN LÊ

    II. SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

    VÀ VĂN HÓA

    1. Bước đầu xây dựng nền kinh tế tự chủ

    Nông nghiệp

    : Em hãy trình bày tình hình nông nghiệp nước ta thời Đinh- Tiền Lê?

    Thế nào là cày tịch điền? Ý nghĩa của việc cày tịch điền?

    Con trâu có bức tranh trên mình được đánh giá là đẹp nhất sẽ dùng để nhà vua đi cày trong lễ tịch điền

    Vua là người xuống ruộng cày 3 sá ruộng đầu tiên

    Nhà vua với áo bào, tay cày, tay roi xua trâu cày miết

    1. Bước đầu xây dựng nền kinh tế tự chủ

    Nông nghiệp

    Chia ruộng đất cho dân cày cấy

    Khuyến khích khai hoang

    Chú trọng thủy lợi

    Trồng dâu nuôi tằm

    Đồng Tiền thứ 2 đồng Thiên Phúc Trấn Bảo của Lê Đại Hành đúc khỏang 986- 1009

    blog.360.yahoo.com/blog-Kw82jxwzd6dwviHG3r4R7…

    c. Thương nghiệp

    – Đúc tiền đồng; nhiều trung tâm buôn bán,chợ được hình thành.

    – Buôn bán với nước ngoài

    2. Đời sống xã hội và văn hóa

    Trong xã hội thời Đinh-Tiền Lê có những tầng lớp nào?

    a. Xã hội

    Tầng lớp thèng trÞ

    Tầng lớp bị trị

    Sơ đồ các tầng lớp trong xã hội.

    Vua

    Quan văn

    Quan võ

    Nhà sư

    Nông dân

    Thợ thủ công

    Thương nhân

    Địa chủ

    Nô tì

    b. Văn hóa

    Tình hình giáo dục, tôn giáo thời Đinh-Tiền Lê như thế

    nào ?

    Giáo dục chưa phát triển

    – Phật giáo được truyền bá rộng rãi

    Văn hóa dân gian khá phát triển

    Do đạo phật phát triển,được truyền bá rộng rãi,các nhà sư có học ,giỏi chữ Hán,nhà sư trực tiếp dạy học,làm cố vấn ngoại giao và họ rất được trọng dụng .Một số nhà sư giỏi như sư Đỗ Thuận ,Vạn Hạnh…

    Chùa Nhất Trụ ở xã trường Yên

    Đền thờ vua Lê

    Củng cố

    Quốc hiệu nước ta thời Đinh-Tiền Lê là gì?

    Đại Việt

    Đại Cồ Việt

    Vạn Xuân

    Đại Ngu

    2. Trong xã hội thời Đinh-Tiền Lê tầng lớp tận cùng trong xã hội là:

    Nông dân

    Đia chủ

    Thợ thủ công

    Nô tì

    DẶN DÒ

    HỌC BÀI

    XEM TRƯỚC BÀI 10

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Con Nguyễn Quang Tú Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Đặt Tên Cho Con Nguyễn Đăng Khoa 50/100 Điểm Trung Bình
  • Đặt Tên Cho Con Nguyễn Thùy Dung 67,5/100 Điểm Tốt
  • Tên Con Nguyễn Thùy Dung Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Nguyễn Tiến Dũng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • ‘thương Hiệu Tôn Vinh Sức Sống Của Đại Việt’

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 24. Nước Đại Việt Ta
  • Tinh Thần Đoàn Kết? Cần Làm Gì Để Phát Huy Tinh Thần Đoàn Kết Cao Độ?
  • Những Câu Chuyện Về Tinh Thần Đoàn Kết Của Bác
  • Đoàn Kết Dân Tộc Là Nhân Tố Có Ý Nghĩa Quyết Định, Bảo Đảm Thắng Lợi
  • Danh Sách Các Thành Viên Nhóm Nhạc Exo Của Hàn Quốc
  • Theo nữ doanh nhân này, Nhà máy bia Hương Sen ra đời vào đầu những năm 1990, được xây dựng thiết bị công nghệ tiên tiến hiện đại và đồng bộ do các tập đoàn nổi tiếng thế giới về chế tạo như: Krones, Steineccker, Huppman, KHS, WTC Ecolmaster, Mycom,… Đây là nhà máy đầu tiên ứng dụng quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn ISO 22000: 2005. Đến nay đã 3 lần đổi mới, đầu tư mở rộng, Công ty có một nhà máy bia tiên tiến, hiện đại vào bậc nhất thế giới với công suất đạt 200 triệu lít bia/năm.

    ‘Sản phẩm bia Đại Việt ra đời xuất phát từ ý tưởng của một người con họ Trần, tên là Trần Văn Sen (thân phụ bà Bích) quê ở Thái Bình, với mong muốn thể hiện niềm từ hào dân tộc và tình yêu với quê hương đất nước con người Việt Nam. Đại Việt là tên gọi của nước Việt Nam vào thế kỷ XIII, gắn với sự hưng thịnh của triều đại nhà Trần’, bà Bích chia sẻ.

    Tổng giám đốc Netlink Nguyễn Văn Dũng tặng hoa nữ doanh nhân Trần Thị Ngọc Bích

    ‘Khi nói về Đại Việt là người ta nghĩ đến một đất nước nhỏ bé nhưng đã ba lần đánh thắng giặc Nguyên Mông, một đế chế hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ. Cho nên cái tên Đại Việt gợi lại niềm tự hào dân tộc, thể hiện sự đoàn kết, gắn bó, tình yêu quê hương đất nước của người Việt Nam. Từ sự đoàn kết, yêu thương ấy mới tạo nên sức mạnh kỳ diệu giúp nhân dân ta chiến thắng giặc ngoại xâm. Do đó cái tên bia Đại Việt gợi nhắc về một quá hào hùng, một tình yêu đất nước sâu sắc’.

    Trước đó, ông chủ của hãng bia Đại Việt, doanh nhân họ Trần ở Thái Bình, ông Trần Văn Sen, cho hay: ‘Thương hiệu bia Đại Việt xuất phát từ tâm huyết của bản thân tôi đối với lịch sử của quê hương và dân tộc. Không phải tự nhiên mà tôi chọn cái tên Đại Việt làm thương hiệu, mà tôi muốn gửi gắm vào đó niềm tự hào của người dân Việt Nam”.

    Không chỉ muốn người Việt Nam mỗi khi uống bia Đại Việt nhớ đến lịch sử của cha ông, cùng với việc đưa thương hiệu bia Đại Việt ra khắp năm châu thế giới như Anh, Mỹ…, ông Sen mong muốn được quảng bá hình ảnh của một đất nước con người giàu truyền thống dân tộc, một đất nước quật khởi và yêu hòa bình.

    Giang Quyết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Con Lê Đình Huy Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Đặng Đình Huy Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Trần Diệu Nhi Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Ý Nghĩa Tên Các Địa Danh Ở Tây Nguyên
  • Ý Nghĩa Của Tên Đông & Bộ Tên Lót Hay Nhất Với Tên Đông
  • Tuần 8. Ôn Tập Văn Học Trung Đại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • 1000+ Tên Nhân Vật Trong Game Hay Nhất
  • Mua Đồ Chơi Kamen Rider Giá Rẻ Ở Đâu? Giá Bao Nhiêu Tiền
  • Ý Nghĩa Tên Các Tháng,các Ngày Trong Tuần Của Tiếng Séc
  • Ý Nghĩa Các Ngày Trong Tuần
  • Bí Mật Đằng Sau Những Cái Tên Của 7 Ngày Trong Tuần
  • ÔN TẬP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

    TIẾT 27

    NỘI DUNG

    1. Nội dung yêu nước

    ?

    Nhu~ng biờ?u hiờ?n cu?a ch? nghi~a yờu nuo?c t? thờ? ki? XVIII dờ?n h?t thờ? ki? XIX?

    Nội dung yêu nước trong văn học thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX: là tư tưởng trung quân ái quốc với cảm hứng : ý thức độc lập tự chủ, lòng căm thù giặc, tinh thần quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược, lòng tự hào đất nước con người…

    ?

    So v?i giai do?n tru?c n?i dung

    yờu nu?c trong van h?c giai do?n

    ny cú bi?u hi?n gỡ m?i?

    – Những biểu hiện mới :

    + Ý thức về vai trò của trí thức đối với đất nước (chiếu cầu hiền)

    + Tư tưởng canh tân đất nước (Xin lập khoa luật)

    + Mang âm hưởng bi tráng (tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu)

    + Tìm hướng đi mới cho cuộc đời trong hoàn cảnh xã hội bế tắc (Bài ca ngắn đi trên bãi cát- Cao Bá Quát)

    NỘI DUNG

    ?

    Phõn ti?ch nhu~ng biờ?u hiờ?n cu?a ch? nghi~a yờu nuo?c qua ca?c ta?c phõ?m, doa?n tri?ch dó ho?c?

    – Phân tích những biểu hiện của nội dung yêu nước qua các tác phẩm và đoạn trích :

    + Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu : lòng căm thù giặc, nỗi xót xa trước cảnh đất nước bị giặc tàn phá

    + Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu) : sự biết ơn với những người đã hi sinh vì Tổ quốc.

    + Bài ca phong cảnh Hương Sơn (Chu Mạnh Trinh) : ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên đất nước.

    + Vịnh khoa thi Hương (Trần Tế Xương) : lòng căm thù giặc.

    + Xin lập khoa luật (Nguyễn Trường Tộ) : canh tân đất nước.

    + Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến) : ngợi ca vẻ đẹp của quê hương đất nước, đồng thời thể hiện tình yêu nước thầm kín của tác giả.

    2. Nội dung nhân đạo

    NỘI DUNG

    Vì sao có thể nói văn học ở thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX xuất hiện trào lưu nhân đạo ?

    – Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học thế kỉ XXVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, xuất hiện thành trào lưu nhân đạo vì : tác phẩm mang nội dung nhân đạo xuất hiện nhiều, liên tiếp tập trung vào vấn đề con người.

    Biểu hiện phong phú của nội dung nhân đạo trong giai đoạn này?

    – Biểu hiện của nội dung nhân đạo:

    + Sự thương cảm trước bi kịch và đồng cảm trước khát vọng của con người

    + Khẳng định, đề cao nhân phẩm, tài năng, lên án thế lực tàn bạo chà đạp lên quyền sống của con người.

    + Đề cao truyền thống đạo lí nhân nghĩa của dân tộc.

    NỘI DUNG

    Chứng minh qua các tác giả, tác

    phẩm tiêu biểu ?

    – Chứng minh qua các tác giả tác phẩm tiêu biểu :

    + Truyện Kiều (Nguyễn Du) : đề cao vai trò của tình yêu. Đó là biểu hiện cao nhất của sự đề cao con người cá nhân. Tình yêu không chỉ đem lại cho con người vẻ đẹp cuộc sống, qua tác phẩm, nhà thơ muốn đặt ra và chống lại định mệnh.

    + Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn) : con người cá nhân được gắn liền với nỗi lo sợ tuổi trẻ, hạnh phúc chóng phai tàn do chiến tranh.

    + Thơ Hồ Xuân Hương: đó là con người cá nhân bản năng khao khát sống, khao khát hạnh phúc, tình yêu đích thực, dám nói lên một cánh thẳng thắn những ước mơ của người phụ nữ bằng cách nói ngang với một cá tính mạnh mẽ.

    + Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ) : con người cá nhân công danh, hưởng lạc ngoài khuôn khổ.

    + Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến) : con người cá nhân trống rỗng mất ý nghĩa.

    + Thơ Tú Xương : nụ cười giải thoát cá nhân và sự khẳng định mình.

    HƯỚNG DẪN VỀ NHÀ

    – Ôn tập, hệ thống nội dung kiến thức của bài.

    – Học bài

    – Sưu tầm và tìm đọc một số tác phẩm thuộc văn học trung đại

    – Soạn: Ôn tập VHTĐ Việt Nam (Tiếp)

    Tiết 28

    ÔN TẬP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

    NỘI DUNG

    3. Giá trị phản ánh và phê phán hiện thực

    ?

    Do?n trớch Vo ph? chỳa Tr?nh mang giỏ tr? ph?n ỏnh v phờ phỏn hi?n th?c nhu th? no?

    Đoạn trích là bức tranh chân thực về cuộc sống nơi phủ chúa, được khắc họa ở hai phương diện:

    + Cuộc sống thâm nghiêm xa hoa, giàu sang.

    + Cuộc sống thiếu sinh khí, yếu ớt.

    * Một thế giới riêng đầy quyền uy: Những tiếng quát tháo, truyền lệnh, những tiếng dạ ran, những con người oai vệ, những con người khúm núm, sợ sệt…có nhiều cửa gác, mọi việc đều có quan truyền lệnh, chỉ dẫn. Thầy thuốc vào khám bệnh phải chờ, nín thở, khúm núm, lạy tạ.

    * Phủ chúa là nơi xa hoa, giàu sang vô cùng: từ nơi ở đến tiện nghi, từ vật dụng đến đồ ăn thức uống…nhưng thiếu sinh khí, âm u. Thiếu sự sống, sức sống.

    * Ngòi bút tả thực điềm đạm, kín đáo nhưng lạnh lùng, thờ ơ, thậm chí coi thường của tác giả → sự phê phán sâu sắc của Hải Thượng Lãn Ông.

    4. Giá trị nội dung và nghệ thuật thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

    NỘI DUNG

    ?

    Giỏ tr? n?i dung v ngh? thu?t tho van Nguy?n Dỡnh Chi?u?

    – Giá trị nội dung thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: Đề cao đạo lí nhân nghĩa, yêu nước chống giặc ngoại xâm.

    – Giá trị nghệ thuật: Tính chất đạo đức – trữ tình. Màu sắc Nam Bộ qua ngôn ngữ, hình tượng nghệ thuật.

    ?

    V? d?p bi trỏng v b?t t? v? ngu?i nụng dõn nghia si trong Van t? nghia si C?n Giu?c?

    NỘI DUNG

    – Vẻ đẹp bi tráng và bất tử của hình tượng người nông dân – nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc:

    + Bi: Gợi lên qua cuộc sống vất vả, lam lũ. Nỗi đau buồn, thương tiếc trước sự mất mát, hi sinh và tiếng khóc đau thương của người còn sống.

    + Tráng: Lòng căm thù giặc, lòng yêu nước, hành động quả cảm, anh hùng của nghĩa sĩ. → Tạo nên tiếng khóc lớn lao,cao cả.

    → Trước Nguyễn Đình Chiểu, VHVN chưa có hình tượng nghệ thuật hoàn chỉnh về người anh hùng nông dân nghĩa sĩ. Sau Nguyễn Đình Chiểu rất lâu cũng chưa có một hình tượng nghệ thuật nào như thế. Vì vậy lần đầu tiên trong VHDT có một tượng đài bi tráng và bất tử về người nông dân nghĩa sĩ.

    PHƯƠNG PHÁP

    1. Một số đặc điểm quan trọng và cơ bản về thi pháp (đặc điểm

    nghệ thuật) của VHTĐ VN.

    PHƯƠNG PHÁP

    2. Minh chứng một số sáng tạo phá cách trong quy

    phạm, ước lệ.

    – Thơ Nguyễn Khuyến, thơ Hồ Xuân Hương.

    + Hình thức: Thơ Nôm đường luật TNBC.

    + Sáng tạo: Thi đề, hình ảnh, từ ngữ, tính ước lệ.

    – Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: Đảm bảo nghiêm ngặt thể loại văn tế, nhưng mang tinh thần thời đại, mang tính hiện đại, vượt hơn hẳn những bài văn tế thông thường.

    PHƯƠNG PHÁP

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sinh Viên Nguyễn Thị Ngọc Hân: Sống Đẹp Trong Tuyệt Vọng
  • Giao Anl5 Nguon Goc Dia Danh Ba Ria Doc
  • Tìm Hiểu Thêm Về Nguồn Gốc Địa Danh Bà Rịa
  • Tại Sao Gọi Là Bà Rịa
  • Ý Nghĩa Của Tên Xuyến & Tên Lót Ghép Với Xuyến Đẹp
  • Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua 12 Kỳ Đại Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Các Thời Kỳ
  • Lịch Sử Tên Gọi Các Hãng Thời Trang Nổi Tiếng
  • Lời Bài Hát Ý Nghĩa – My Heart Will Go On
  • Nội Dung, Ý Nghĩa Nhan Đề Truyện Ông Già Và Biển Cả Lớp 12
  • Một Kiệt Tác Văn Học Của Thế Giới
  • ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUA 12 KỲ ĐẠI HỘI

    14:11 – 18/01/2021

    Kể từ khi ra đời đến nay đã 91 mùa Xuân, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua 12 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc. Mỗi kỳ Đại hội Đảng là một mốc son lịch sử ghi nhận những thắng lợi, những thành tựu và những bài học kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam. Nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, xin được khái quát những nét chính của 12 kỳ Đại hội Đảng đã qua:

    1. Đại hội đại biểu Đảng lần thứ nhất: Họp tại nhà số 2 Quan Công Lộ, Ma Cao, Trung Quốc, từ ngày 27 đến 31/03/1935. Dự đại hội có 13 đại biểu thuộc các Đảng bộ trong nước và tổ chức của Đảng hoạt động ở nước ngoài. Đại hội đã thông qua Nghị quyết chính trị của Đảng, các Nghị quyết về vận động công nhân, vận động nông dân, vận động thanh niên, phụ nữ, binh lính, về mặt trận phản đế, về đội tự vệ, về các dân tộc ít người… về Điều lệ của Đảng. Đại hội đã bầu ra BCH Trung ương gồm 13 uỷ viên do đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư. BCH Trung ương đã cử đồng chí Nguyễn Ái Quốc làm đại diện của Đảng Cộng sản Đông Dương bên cạnh Quốc tế cộng sản.

    Đại hội lần thứ nhất của Đảng có ý nghĩa lịch sử quan trọng. Đại hội đánh dấu sự khôi phục được hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước; thống nhất phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

    2. Đại hội đại biểu Đảng lần thứ hai: Họp từ ngày 11 đến 19/2/1951 tại xã Vinh Quang, Huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang. Dự Đại hội có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho hơn 766.000 đảng viên trong toàn Đảng. Đến dự Đại hội còn có đại biểu của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Thái Lan. Đại hội đã quyết nghị đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam, thông qua Chính cương, Tuyên ngôn và Điều lệ mới của Đảng. Đại hội đã bầu ra BCH Trung ương mới gồm 19 uỷ viên chính thức và 10 uỷ viên dự khuyết. Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng, Tổng Bí thư Đảng là đồng chí Trường Chinh.

    Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng là một sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu bước trưởng thành mới về tư tưởng, đường lối chính trị của Đảng. Đảng từ bí mật trở lại hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển cách mạng.

    3. Đại hội đại biểu Đảng lần thứ ba: Họp tại Hà Nội từ ngày 5 đến ngày 10/9/1960. Dự đại hội có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết, thay mặt cho hơn 50 vạn đảng viên của Đảng. Gần 20 đoàn đại biểu đảng và công nhân quốc tế đã đến dự đại hội. Đại hội lần này là đại hội xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà. Đại hội đã nhất trí thông qua nhiệm vụ, phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, thông qua Điều lệ sửa đổi của Đảng. Đại hội đã bầu ra BCH Trung ương mới gồm 47 uỷ viên chính thức và 31 uỷ viên dự khuyết. Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu lại là Chủ tịch Đảng, đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất của BCH Trung ương Đảng.

    4. Đại hội đại biểu Đảng lần thứ tư: Họp từ ngày 14 đến ngày 20/12/1976 tại Thủ đô Hà Nội. 1008 đại biểu thay mặt cho hơn 1 triệu 550 nghìn đảng viên của Đảng. Đến dự đại hội còn có 29 đoàn đại biểu của các Đảng Cộng sản, đảng công nhân, của phong trào giải phóng dân tộc và các tổ chức quốc tế. Tại Đại hội này đã quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Điều lệ mới của Đảng. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư thay chức Bí thư thứ nhất, BCH Trung ương gồm 101 uỷ viên chính thức và 32 uỷ viên dự khuyết. Đại hội lần thứ IV của Đảng là đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc, là đại hội tổng kết những bài học lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là đại hội thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên xây dựng CNXH.

    5. Đại hội Đại biểu Đảng lần thứ năm: Họp từ ngày 27 đến 31/3/1982 tại Hà Nội. Tham dự Đại hội có 1.033 đại biểu thay mặt hơn 1.727.000 đảng viên hoạt động trong 35.146 đảng bộ cơ sở. Đến dự đại hội còn có 47 đoàn đại biểu quốc tế và các đảng anh em. Đại hội đã khẳng định tiếp tục thực hịên đường lối cách mạng XHCN và đường lối xây dựng nền kinh tế XHCN của Đại hội lần thứ IV, vạch ra chiến lược kinh tế xã hội và những chủ trương, chính sách, biện pháp thích hợp trong từng chặng đường. Đại hội đã thông qua Điều lệ sửa đổi của Đảng và bầu ra BCH TW Đảng gồm 116 uỷ viên chính thức và 36 uỷ viên dự khuyết. Tổng Bí thư là đồng chí Lê Duẩn.

    Đại hội lần thứ V của Đảng là kết quả của một quá trình làm việc nghiêm túc, tập hợp ý kiến của toàn Đảng để đề ra nhiệm vụ, phương hướng… nhằm giải quyết những vấn đề gay gắt nóng bỏng đang đặt ra của cách mạng Việt Nam. Đại hội đánh dấu một bước chuyển biến mới về sự lãnh đạo của Đảng trên con đường đấu tranh “Tất cả vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của nhân dân”. 

    6. Đại hội đại biểu Đảng lần thứ sáu: Họp tại Hà Nội từ ngày 15 đến 18/12/1986 (Đại hội VI được gọi là Đại hội đổi mới). Về dự Đại hội VI của Đảng có 1.129 đại biểu thay  mặt gần 1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng. Đến dự Đại hội có 32 đoàn đại biểu và các vị khách quốc tế. Đặc biệt đại hội đã “khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học”. Bầu ra BCH Trung ương gồm 124 uỷ viên chính thức và 49 uỷ viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

    7. Đại hội đại biểu Đảng lần thứ bảy: Họp tại Hội trường Ba Đình (Hà Nội) từ ngày 24/6 đến 27/6/1991. Dự Đại hội có 1.176 đại biểu đại diện cho hơn 2 triệu đảng viên cả nước. Đến dự đại hội có nhiều đoàn đại biểu đảng cộng sản và các tổ chức quốc tế. Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH; Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000; Báo cáo xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng; Điều lệ Đảng (sửa đổi). Đại hội đã bầu ra BCH Trung ương khoá VII gồm 146 uỷ viên, đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng. Thành công của đại hội đánh dấu bước trưởng thành mới của Đảng, cột mốc mới trong tiến trình cách mạng Việt Nam, là: “Đại hội của trí tuệ – đổi mới, dân chủ – kỷ cương – đoàn kết”.

    12. Đại hội đại biểu Đảng lần thứ mười hai: Họp từ ngày 20/01 đến ngày 28/01/2016 tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội có 1.510 đại biểu, đại diện cho hơn 4,5 triệu đảng viên cả nước. Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XII đã tổng kết chặng đường 30 năm đổi mới (1986 – 2022) của đất nước, tiếp tục khẳng định sự nghiệp xây dựng CNH, HĐH; đồng thời Đại hội cũng kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết XI của Đảng; quyết định phương hướng, mục tiêu nhiệm kỳ 2022-2021.Chủ đề của Đại hội là: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội. Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu sớm đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Ðại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, nhiệm kỳ 2022 – 2022, gồm 200 ủy viên (trong đó 180 ủy viên chính thức, 20 ủy viên dự khuyết). Bộ Chính trị gồm 19 thành viên. Ban Bí thư gồm 14 thành viên. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Tổng Bí thư.

    13. Đại hội đại biểu Đảng lần thứ mười ba: Dự kiến sẽ họp từ ngày 25/01/2021 đến ngày 02/02/2021 tại Thủ đô Hà Nội. Dự Đại hội sẽ có khoảng 1.590 đại biểu, đại diện cho hơn 5,2 triệu đảng viên cả nước. Tại Đại hội XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đánh giá kết quả lãnh đạo và phát triển đất nước, quá trình thực hiện nghị quyết Đại hội XII (2016 – 2022); đề ra mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước trong giai đoạn 2022 – 2025 và định hướng phát triển đất nước đến năm 2045, đó là: Phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN: Đến năm 2025, là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 (kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng): là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 (kỷ niệm 100 năm thành lập Nước): trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Chủ đề của Đại hội XIII là “Khát vọng, Phát triển, Đổi mới, Sáng tạo”. Ðại hội XIII của Ðảng sẽ bầu ra BCH Trung ương Đảng; Ban Chấp hành Trung ương Đảng sẽ bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Tổng Bí thư theo quy định tại Điều lệ Đảng và Quy chế bầu cử trong Đảng năm 2022 của Ban Chấp hành Trung ương.

                               Nguyễn Hữu Giới

                                                                                     Chủ tịch Hội Thư viện VN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Cách Gọi Tên (Tiếng Việt) Các Nguyên Tố Hoá Học
  • Các Tháng Tiếng Anh Và Cách Học Để Nhớ Nhanh Nhất
  • Những Câu Nói Hay Của Các Nhân Vật Trong Thám Tử Lừng Danh Conan
  • One Piece : Ý Nghĩa Chữ D Trong One Piece Là Thiên Địch Của Thần ?
  • Ý Chí Của D. – Ý Nghĩa Chữ D Trong Tên Của Các Nhân Vật One Piece
  • Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Các Kỳ Đại Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Đảng Là Gì? Đảng Cộng Sản Việt Nam Là Gì? Ý Nghĩa Sự Ra Đời Của Đảng
  • Bạn Có Biết Những Sự Thật Này Của Bộ Gintama?
  • Gintama: Xứng Danh Thiên Hạ Đệ Nhất ‘bựa’ Nhưng Ít Người Biết Đến Ý Nghĩa Và Nguồn Gốc Đặc Biệt Của Chàng Samurai Gintoki
  • Danh Sách Những Nhân Vật Được Yêu Thích Nhất Trong Gintama
  • Giải Mã Tên Các Nhóm Nhạc Hàn Hot Nhất Hiện Nay
  • QĐND – Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, diễn ra từ ngày 3 đến 7-2-1930 tại Cửu Long (Trung Quốc) mang tầm vóc lịch sử của Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã đề ra Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng; vạch ra đường lối giải phóng dân tộc và tiến lên CNXH của cách mạng Việt Nam. Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng là đồng chí Trần Phú. Từ đó đến nay, Đảng ta đã trải qua 11 kỳ đại hội và sẽ tổ chức Đại hội XII của Đảng từ ngày 20 đến 28-1-2015, tại Hà Nội. Mỗi kỳ đại hội Đảng là một mốc lịch sử quan trọng, khẳng định những thắng lợi, thành tựu, đúc rút kinh nghiệm cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Báo Quân đội nhân dân trân trọng giới thiệu các kỳ đại hội của Đảng ta.

    * Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ I

    Diễn ra từ ngày 27 đến 31-3-1935, tại Ma Cao, Trung Quốc. Dự đại hội có 13 đại biểu chính thức thay mặt cho 500 đảng viên trong nước và các Đảng bộ ở nước ngoài.

    Đại hội bầu Ban Chấp hành (BCH) Trung ương gồm 9 ủy viên chính thức và 4 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư. BCH Trung ương nhất trí cử đồng chí Nguyễn Ái Quốc là đại biểu của Đảng bên cạnh Quốc tế Cộng sản.

    Đại hội đánh dấu sự khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước; đẩy mạnh cuộc vận động thu phục quần chúng, thống nhất phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    * Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II

    Diễn ra từ ngày 11 đến 19-2-1951 tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Dự đại hội có 158 đại biểu chính thức, 53 đại biểu dự khuyết, đại diện cho hơn 766.000 đảng viên Cộng sản trên toàn Đông Dương.

    Đại hội thông qua Báo cáo Chính trị, Báo cáo “Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội”, thông qua Chính cương của Đảng Lao Động Việt Nam (Đảng ra hoạt động công khai và lấy tên này).

    Đại hội đã phát triển đường lối kháng chiến và đề ra những chính sách cụ thể để đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn và chuẩn bị những tiền đề đi lên CNXH sau khi kháng chiến thành công. Do sự phát triển và yêu cầu của sự nghiệp cách mạng và kháng chiến, đại hội quyết định xây dựng ở mỗi nước Đông Dương một Đảng Cộng sản riêng. Ở Việt Nam, Đảng lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam. Đại hội đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta; đồng thời có nhiều đóng góp quý báu vào kho tàng lý luận cách mạng nước ta.

    Đại hội bầu BCH Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết (Bộ Chính trị gồm 7 ủy viên chính thức và 1 dự khuyết). Đại hội bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch Đảng, bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư.

    * Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III

    Diễn ra từ ngày 5 đến 10-9-1960 tại Hà Nội; có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết đại diện hơn 500.000 đảng viên trong cả nước về dự đại hội.

    Đại hội đã tiến hành tổng kết 30 năm lãnh đạo của Đảng, nêu lên những bài học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đại hội phân tích kỹ đặc điểm, tình hình cách mạng Việt Nam, quyết định đường lối cách mạng XHCN, xây dựng CNXH ở miền Bắc và đường lối cách mạng miền Nam nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; đề ra nhiệm vụ và phương hướng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.

    Đại hội bầu BCH Trung ương gồm 47 ủy viên chính thức và 31 ủy viên dự khuyết; BCH Trung ương đã bầu Bộ Chính trị gồm 11 ủy viên chính thức. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục giữ cương vị Chủ tịch Đảng. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đảng.

    * Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV

    Diễn ra từ ngày 14 đến 20-12-1976 tại Hà Nội. Tham dự đại hội có 1.008 đại biểu chính thức đại diện cho 1.550.000 đảng viên của cả hai miền đất nước, cùng với sự có mặt của đại diện nhiều Đảng Cộng sản và các tổ chức quốc tế khác.

    Đại hội IV của Đảng diễn ra trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi hoàn toàn, hai miền Nam – Bắc thống nhất sau hơn 20 năm bị chia cắt.

    Đại hội thông qua Báo cáo Chính trị, Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm (1976-1980), Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng. Đại hội tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đưa đất nước đi lên CNXH.

    Đại hội đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam; bổ sung Điều lệ Đảng. Đại hội bầu BCH Trung ương gồm 101 Ủy viên chính thức, Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư.

    QĐND

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 18 : Đảng Cộng Sản Việt Nam Ra Đời
  • Ý Nghĩa Chiến Thắng 30/4/1975
  • Chiến Dịch Hồ Chí Minh
  • Chiến Dịch Hồ Chí Minh: Hoàn Cảnh, Diễn Biến, Kết Quả, Ý Nghĩa
  • Tiểu Sử Các Thành Viên Nhóm Nhạc Big Bang
  • Hà Tiên Và Sự Hình Thành Nước Việt Nam Hiện Đại

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Thú Vị Về Tên Gọi Của Đà Nẵng
  • Nguồn Gốc Điền Danh Tên Gọi Đà Nẵng
  • Cây Giáng Hương – Cây Công Trình Tuyệt Vời Trong Thành Phố
  • Hương Tràm Chia Sẻ Ý Nghĩa Đặc Biệt Của Tên Mình, Nhân Dịp Sinh Nhật Tại Mỹ
  • Ý Nghĩa Hoa Mẫu Đơn
  • Khoa học và Công nghệ

    -

    Vũ Đức Liêm

    Hà Tiên ngày nay là thị xã vùng biên nhỏ nhắn, bình yên, thơ mộng nép mình bên bờ vịnh Thailand. Hà Tiên của hai trăm năm trước là một trong những trung tâm kinh tế sôi động nhất ở Đông Nam Á, nơi diễn ra các tranh chấp chính trị và quân sự không ngừng giữa người Việt, người Thái, người Khmer và các cộng đồng người Hoa. Lịch sử của vùng đất này là minh chứng sống động cho sự đa dạng trong thống nhất của quá trình hình thành nên lãnh thổ và dân tộc Việt Nam.

    Một phần biển Mũi Nai, Hà Tiên, Kiên Giang ngày nay.

    Vùng đất này nằm giữa các diễn ngôn lịch sử rất khác biệt, nhiều khi bị trùm phủ dưới các huyền thoại tạo ra bởi chủ nghĩa dân tộc. Bài viết này chỉ ra những nhân tố cốt lõi làm nên sự thịnh vượng của Hà Tiên và tìm kiếm sự gắn kết của nó đối với lịch sử Việt Nam, như một phần của công cuộc định hình nên không gian của nước Việt Nam hiện đại.

    Tại sao việc khôi phục quá khứ huy hoàng của vùng đất này là vấn đề quan trọng? Vì nó góp phần làm sáng rõ nhiều vấn đề nhận thức về quá trình hình thành lãnh thổ, biên giới và các đơn vị hành chính của Việt Nam. Đặc biệt đây là khu vực có vị trí chiến lược về an ninh-quốc phòng và tiềm năng kinh tế trong tương lai, gắn liền với Phú Quốc và hành lang phát triển kinh tế dọc theo bờ vịnh Thailand. Lịch sử truyền thống Việt Nam ít chú ý đến tính đa dạng địa phương và quá trình sáp nhập lãnh thổ. Điều này không những không giúp độc giả hiểu được công lao khai phá, quá trình khai thác lãnh thổ, mở rộng đất đai, sáp nhập đất đai của thế hệ đi trước, mà còn gây trở ngại cho sự mở rộng tri thức về quá trình phát triển lãnh thổ Việt Nam và những cách thức đa dạng để trở thành Việt Nam. Đó là cách chúng ta tôn trọng sự thống nhất trong đa dạng, và trân trọng công lao của tiền nhân, dù là họ Mạc Hà Tiên, các di dân Hoa kiều, cộng đồng người Khmer trên lãnh thổ Việt Nam hay chúa Nguyễn, và vương triều Nguyễn. Nhận thức lịch sử đa chiều cũng là cách củng cố lập luận về quá trình xác lập chủ quyền, lãnh thổ của Việt Nam đối với vùng đất này. Những diễn biến phức tạp và sự năng động của Hà Tiên cho thấy lịch sử không đơn thuần như mô tả của người Campuchia rằng khu vực này vốn là “lãnh thổ”của họ.

    Cốt lõi của vấn đề ở chỗ Hà Tiên là vùng đất có lịch sử đa dạng, nằm giữa các dự án chính trị, tranh chấp quyền lực và lãnh thổ ở Đông Nam Á lục địa thời sơ kỳ hiện đại, gắn kết nhiều nhóm cư dân khác nhau. Liên hệ chính trị, lãnh thổ của nó với người Việt-Khmer-Thái là phức tạp. Điều quan trọng là Hà Tiên không chỉ hành động với tư cách là một chư hầu lệ thuộc mà tính năng động và tự chủ của nó giúp định hình khuynh hướng chính trị-lãnh thổ mà nó gia nhập. Sự sáp nhập của Hà Tiên vào lãnh thổ Việt Nam vì thế không chỉ đơn thuần là sự mở rộng không gian của người Việt mà còn là sự chủ động gia nhập của Hà Tiên vào không gian chính trị này. Sự lựa chọn này giúp định hình một con đường để trở thành Việt Nam hiện đại: con đường của Hà Tiên.

    Hà Tiên ở thế kỷ XVIII. Nguồn: Nicholas Sellers, The Princes of Hà Tiên, 1682-1867. Brussels: Thanhlong, 1983.

    Các huyền thoại về vùng đất Hà Tiên

    Trong khi các sách lịch sử của Việt Nam thường bắt đầu bằng sự kiện năm 1708 khi Mạc Cửu phái người đến Phú Xuân (Huế) xin được bổ nhiệm cai quản Hà Tiên, và sau đó được chúa Nguyễn phong chức Tổng binh (theo Đại Nam Thực Lục). Sự kiện được cho là đánh dấu vùng đất này trở thành một phần của lãnh thổ Đàng Trong. Lịch sử Campuchia mô tả một diễn trình hoàn toàn khác. Một thương nhân người Quảng Đông rời Trung Hoa năm 1671 đi qua Phillipines và Java. Cuối cùng ông ta đến triều đình Chân Lạp ở Udong và giành được sự tin tưởng của nhà vua Chey Chettha IV (Ang Sor). Sự ghen tị của các quan chức cấp cao người Khmer cuối cùng buộc ông phải xin nhà vua cho ra cai quản vùng đất Banday Mas. Nhà vua Khmer sau đó chấp thuận và ban cho ông danh hiệu Okya (Trần 1979:1537).

    Một phần phiên bản của câu chuyện này được kể lại bởi Vũ Thế Dinh, một gia thần của dòng họ Mạc viết năm 1818 trong Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả (Gia phả dòng họ Mạc của quan Hiệp trấn Hà Tiên). Tuy nhiên nó cũng cung cấp thêm nhiều góc nhìn thú vị về cách thức dòng họ này xây dựng một chính thể tự trị đứng giữa các nhà nước của người Việt, người Khmer và người Thái. Diễn ngôn lịch sử này chú ý nhiều hơn đến tính năng động của họ Mạc và sự chủ động lựa chọn của họ trong mối liên minh/ phiên thuộc với người Việt. Dù được phong Okya, danh hiệu dành cho quan chức cao cấp Khmer (David Chandler 2000: 108-111), Mạc Cửu thấy rõ địa vị bấp bênh của mình trong một vương triều xa lạ. Khi dừng chân ở vùng đất Banday Mas, ông nhận thấy nơi đây là một cảng thị tấp nập với thương nhân người Hoa, Việt, Khmer, Malay tụ hội, nên tìm cách để được sự cho phép của vua Chân Lạp mở các sòng bạc nhằm thu thuế. Như nhận định của sử gia Li Tana, đây chính là các sòng bạc đầu tiên ở Đông Nam Á được mở bởi thương nhân Hoa kiều. Chính sự thịnh vượng này cho phép họ Mạc dần kiểm soát khu vực duyên hải và cảng biển Hà Tiên để xây dựng một trung tâm kinh tế-chính trị riêng (Li Tana 2004:806). Cũng vì nhận thấy sự đe dọa của Chân Lạp ở phía Bắc và Siam ở phía Tây mà Mạc Cửu lại tìm cách tìm đến Phú Xuân.

    Những người phương Tây cũng có một phiên bản cho riêng mình về câu chuyện Hà Tiên, vương quốc có tên gọi Ponthaimas. Alexander Hamilton đến vùng đất này năm 1718, gọi đây là cảng thứ hai của Campuchia. Thương nhân người Pháp Pierre Poirve mô tả đó là vương quốc được tạo ra bởi một thương nhân người Hoa, nhưng nằm dưới sự ảnh hưởng của Siam. Trong tham luận năm 1768 trình bày trước Viện Hàn Lâm Lyon, ông mô tả họ Mạc như những thương nhân khôn khéo, chăm chỉ, biết cách khai phá vùng đất trù phú để trở nên thịnh vượng, lại biết sử dụng chính sách ngoại giao khéo léo để được các nước láng giềng hùng mạnh che chở. Hà Tiên vì thế không chỉ là một cảng thị thương mại sầm uất mà còn là “kho lúa dồi dào nhất của phần đất miền Đông châu Á”, nơi người Malay, Nam Hà (Đàng Trong), Siam đều trông vào để bảo đảm cho những nạn đói.

    Hà Tiên cũng xuất hiện trong mô tả của người Trung Quốc. Một quan chức nhà Thanh đã ghé qua đây những năm 1740, và ghi chép về vương quốc có tên Cảng Khẩu/ Cảng Khẩu Quốc, nằm dưới sự ảnh hưởng của An Nam (Đàng Trong) và Siam. Tuy vùng đất được xây dựng bởi những cư dân rời bỏ Trung Hoa vào cuối Minh-đầu Thanh, quan chức nhà Thanh ngạc nhiên về sự thịnh vượng, thấm nhuần văn hóa Hán của họ, những người thậm chí còn xây cả Văn Miếu (Hoàng triều Văn hiến thông khảo, 1747). Chính vì điều này mà Hà Tiên cũng được biết đến ở Đàng Ngoài của chính quyền Lê-Trịnh. Lê Quý Đôn dành mối quan tâm đặc biệt đối với những thành tựu văn hóa của vùng đất này, đặc biệt là ngợi ca “Không thể bảo ở hải ngoại xa xôi không có văn chương”.

    Lời tựa của văn bản Hà Tiên Thập Vịnh. Nguồn: EFEO Microfilm, A.441.

    Bản thân Hà Tiên cũng tạo ra các huyền thoại cho riêng mình. Các huyền thoại sẽ giúp vùng đất này trở nên hấp dẫn, có khả năng thu hút di dân, thương nhân, tìm kiếm tính chính thống cho sự cai trị của dòng họ, và tìm kiếm các mối quan hệ quốc tế. Từ chuyện các nàng tiên xuất hiện trên sông Giang Thành, đào được hũ bạc, đến bức tượng Phật và ánh sáng huyền bí ở Lũng Kỳ báo hiệu sự ra đời của Mạc Thiên Tứ. Tất cả tạo nên diễn ngôn chính trị, tôn giáo, và dung hợp xã hội mà họ Mạc muốn gửi bức thông điệp đến các nhóm cư dân ven vùng vịnh. Trong một bức thư năm 1742 viết bằng chữ Khmer gửi đến chính quyền Mạc Phủ Tokugawa, Mạc Thiên Tứ tự xưng mình là Neak Somdec Preah Sotoat và tự phong danh hiệu “vua của Campuchia”.  

    Trong lúc các huyền thoại này có cốt lõi của các diễn ngôn lịch sử gắn Hà Tiên với dòng di cư của người Hoa vào cuối thời Minh đầu thời Thanh xuống Đông Nam Á. Họ can dự vào một loạt các sự kiện kinh tế, chính trị, và quân sự khắp khu vực, từ chiến tranh ở Thailand, xung đột ở đảo Java, Manila, cho đến việc điều hành các khu khai mỏ thiếc dọc theo bán đảo Malay và quần đảo Indonesia làm xáo trộn bức tranh chính trị Đông Nam Á, và khỏa lấp những khoảng trống vắng nhà nước tập quyền ở khu vực. Để rồi sau đó, đến lượt các vùng đất này trở thành nơi tranh chấp của những vương quốc tập quyền khu vực.

    Khung cảnh cho sự thịnh vượng của Hà Tiên

    Sự thịnh vượng của Hà Tiên đến từ nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm vị trí địa lý, khung cảnh thương mại khu vực và toàn cầu, và sự gia tăng tương tác quân sự dọc theo hạ lưu Mekong. Vùng đất này nằm giữa tuyến giao lưu của các luồng thương mại, các nguồn hàng, các dự án chính trị, di dân, và các nền văn hóa từ các vùng núi của Lào và Campuchia xuống, người Malay từ bán đảo Malay-quần đảo Indonesia, người Thái từ phía Tây, và các nhóm người Hoa xung quanh vùng vịnh, và nam tiến của người Việt. Hà Tiên nằm ngay trên đầu mối của một trong những tuyến thương mại cổ xưa nhất ở Đông Nam Á, kết nối Ấn Độ Dương với biển Đông qua eo Kra từ các thế kỷ gần CN. Óc Eo, cảng thị quan trọng nhất của vương quốc cổ Phù Nam cũng năm trên trục giao thương này.

    Sự phát triển của Hà Tiên diễn ra trong một khung cảnh quan trọng của lịch sử hạ lưu sông Mekong vào thời sơ kỳ hiện đại. Sự mở rộng của các dự án nhà nước tập quyền của người Việt, Khmer, và Thái đến vùng đông nam của bán đảo Đông Dương. Các sử gia về Đông Nam Á gọi đây là những vùng đất tự trị cuối cùng ở châu Á trước khi chúng bị sáp nhập thành lãnh thổ của các nhà nước tập quyền (“the Last Stand of Asian Autonomies”: Anthony Reid 1997). Các học giả khác thì gọi vùng đất này là “đường biên nước” (water frontier), nơi chứng kiến khoảng trống quyền lực nhà nước cuối cùng ở Đông Nam Á với sự dịch chuyển tự do của dòng di cư, thương mại, và xung đột chính trị (Li Tana-Nola Cooke 2004).  

    Khung cảnh thương mại khu vực trở thành môi trường nuôi dưỡng cho sự thịnh vượng của Hà Tiên, trong một thế kỷ huy hoàng và cực kỳ sôi động trên vùng vịnh Thailand. Trước hết là sự mở rộng của người Thái xuống phía nam, tiến ra biển và bắt đầu nhòm ngó vùng duyên hải từ Chanthaburi, Trat đến Hà Tiên, nơi tập trung các trung tâm sản xuất gỗ, lúa gạo, hải sản, đóng thuyền, lâm sản như đậu khấu, da hươu, gỗ đàn hương, ngà voi… Khi Ayutthaya bị người Miến đốt cháy vào năm 1767, người Thái đã từ bỏ kinh đô phía Bắc và bắt đầu chuyển xuống Thonburi-Bangkok, chỉ cách vùng vịnh Thailand chưa đầy 20 km. Cùng lúc đó, người Malay bắt đầu gia tăng các hoạt động thương mại lên phía Bắc của vùng vịnh, dùng thiếc và vũ khí phương Tây đổi lấy gạo.

    Bảng 1. Nhập khẩu thiếc của Quảng Châu từ Đông Nam Á, 1758-1774. Đơn vị: piculs: 60.479 kg. Nguồn: Li Tana và Paul A. Van Dyke 2007.

     Phần mô tả về Hà Tiên trong bản đồ Châu Á của Pierre M. Lapie. Nguồn: Atlas Universel De Geographie Ancienne Et Moderne, Paris : Eymery Fruger et Cie, [1833].

    Nguồn thiếc này, theo gợi ý của sử gia Barbara W. Andaya (ĐH Hawaii) trong công trình nghiên cứu về lịch sử đảo Sumatra thế kỷ XVIII, là đến từ Palembang và Bangka – các trung tâm sản xuất thiếc lớn nhất ở Đông Nam Á sơ kỳ hiện đại (Andaya 1993, Reid 2004). Không chỉ là điểm trung chuyển như ghi chép của các thuyền Hà Lan thường xuyên ghé qua Hà Tiên, lấy hạt tiêu đổi muối và gạo, Hà Tiên còn là đầu mối thông thương của hạ lưu Mekong ở thế kỷ XVIII. Không chỉ kết nối với vùng núi Đậu Khấu, cao nguyên ở Lào và Cambodia, mà còn hệ thống thương mại dọc theo các kênh rạch và vùng ngập nước bờ Tây sông Hậu. Giáo sĩ người Pháp Levavasseur đã đi qua các vùng ngập lụt này và thông báo rằng ông ta đã thấy hơn 50 thuyền mành đang trao đổi hàng hóa.

    Sức mạnh của một trung tâm giao thương không chỉ cho phép vùng đất này có khả năng đúc tiền riêng, mà còn được biết đến như một huyền thoại về sự thịnh vượng xung quanh biển Đông và vịnh Thailand. Một chỉ dấu chính là việc vùng đất này được biết đến bởi nhiều nhóm người với nhiều tên gọi. Đại Nam Nhất Thống chí gọi vùng đất này là Mang Khảm, Trúc Phiên Thành, Đồng trụ trấn. Người Hoa gọi vùng này là Phương Thành, Cảng Khẩu, Cảng Khẩu Quốc. Tên này có lẽ được phiên lại trong các ghi chép Phương Tây là Cancao, trong khi tên gọi khác là Ponthaimas có lẽ đến từ tiếng Khmer và Thái. Người Khmer gọi vùng đất này là Peam hay Bantay Mas  (Bức tường vàng), người Malay gọi là Pantai Mas (Bờ biển Vàng) hay Kuala (Cửa sông), người Thái gọi là Ponthaimas, Phutthaimas hay Ban-Thaay-Mas (Cánh cổng vàng).

    Giai đoạn phát triển đỉnh cao của Hà Tiên là giữa những năm 1740 và 1760 sau cuộc đàn áp người Hoa ở Java và tàn phá Ayutthaya của người Miến. Trong các thập kỷ này, Hà Tiên trở thành cảng quan trọng nhất trong vùng vịnh Thailand giao thương với Trung Quốc. Hàng hóa như thiếc, đồng, gạo, hạt tiêu, muối, và sản phẩm rừng là nguồn cung cấp quan trọng cho Quảng Châu.

    Sự gắn kết của Hà Tiên vào Việt Nam

    Hà Tiên sớm can dự, thậm chí là trở thành tâm điểm của các cuộc chiến tranh này và gia nhập vào không gian “Việt Nam”. Không chỉ chấp nhận danh hiệu Tổng Binh năm 1708 và Tổng Binh năm 1735, họ Mạc đã trở thành một đồng minh/ chư hầu quan trọng của Đàng Trong trong cuộc tranh chấp quyền lực khu vực. Thực tế là họ Mạc cần chúa Nguyễn để chống lại các cuộc xâm lược thường xuyên của người Thái và Khmer bởi vị thế cực kỳ dễ bị tập kích của Hà Tiên. Người Việt cũng cần kiểm soát vùng đất này như cửa ngõ bảo vệ cho dự án lãnh thổ ở hạ lưu Mekong của mình. Sự gia nhập của Hà Tiên vào Việt Nam vì thế là một quá trình tự nhiên.

    Họ Mạc đã tìm cách gắn kết với người Việt bằng nhiều cách thức khác nhau. Mạc Cửu kết hôn với người vợ Việt ở Biên Hòa là Bùi Thị Lẫm, trong khi em gái ông kết hôn với Trần Đại Định (con trai của Trần Thượng Xuyên ở Đồng Nai). Hà Tiên còn tìm kiếm sự kết nối với không gian Việt Nam thông qua góc độ văn hóa, tôn giáo. Sử gia người Singapore, Claudine Ang trong luận án về các dự án văn minh và nhà nước ở vùng biên của Việt Nam (Cornell University 2012) đã làm nổi  bật vai trò của những nhân vật như Nguyễn Cư Trinh, Mạc Thiên Tứ trong việc định hình nên cấu trúc mở rộng của lịch sử Đàng Trong. Đó cũng chính là đóng góp của họ đối với lịch sử hình thành nên hình thể Việt Nam hiện đại. Cũng chính từ những vùng đất trù phú như Hà Tiên, Phú Quốc, Gia Định… mà vương triều Nguyễn được thiết lập năm 1802, triều đại đầu tiên thống nhất lãnh thổ Việt Nam như chúng ta được thừa hưởng ngày nay.

    Vai trò của vùng đất này trong việc định hình nên cấu trúc lịch sử Việt Nam sẽ còn tiếp tục ở thế kỷ XIX. Thời kỳ Minh Mệnh, cùng với dự án chính trị thống nhất lãnh thổ là việc xóa bỏ chế độ thế tập cai trị tại các vùng biên và vùng núi sẽ lần đầu tiên biến vùng đất này thành đơn vị hành chính trực thuộc Huế. Trong khi các thủ lĩnh miền núi được thay thế bằng các quan lại miền xuôi do Huế cắt cử thì ở Hà Tiên, xóa bỏ chế độ thế tập của dòng họ Mạc. Từ đây tỉnh Hà Tiên ra đời, nơi ghi dấu ấn các chiến dịch quân sự trên kênh Vĩnh Tế ngăn chặn cuộc xâm lược của Bangkok, và là trung tâm của hệ thống phòng thủ quân sự vùng biên của Việt Nam cả trên bộ lẫn trong vùng Vịnh.

    Bản đồ tỉnh Hà Tiên thời Nguyễn. Các yếu tố thể hiện trên bản đồ bao gồm: trụ sở hành chính trong ô vuông: Tỉnh Hà Tiên và Phủ An Biên. Phía bắc tỉnh Hà Tiên giáp gianh địa giới tỉnh An Giang, phía tây giáp Cao Miên và phía nam là đảo Phú Quốc. Nguồn: Đại Nam Nhất Thống Dư Đồ, EFEO Microfilm, A.1600.

    Cuối cùng, Hà Tiên là mảnh ghép sống động và không thể tách rời trong bức tranh toàn cảnh về sự ra đời của lãnh thổ hình chữ S của nước Việt Nam hiện đại. Lịch sử vốn phức tạp với nhiều tầng bậc và các mối quan hệ đan xen. Hà Tiên là ví dụ đặc sắc cho một thực thể lịch sử như thế. Nổi lên giữa các luồng văn hóa, dòng di cư, thương mại, và xung đột khu vực; để tìm kiếm một phương thức tồn tại, Hà Tiên đã tìm kiếm sự gắn kết vào không gian lịch sử Việt Nam một cách chủ động. Sự tham gia của vùng đất này rõ ràng đã làm gia tăng sự đa dạng của cấu trúc không gian và các diễn trình lãnh thổ của dân tộc Việt Nam. Cuối cùng thì chúng ta tự hào rằng có nhiều cách thức khác nhau để trở thành Việt Nam hiện đại, và trong sự thống nhất, đa dạng đó, Hà Tiên góp phần tạo dựng nên diện mạo của lãnh thổ Việt Nam. Hà Tiên không chỉ là chặng cuối của quá trình Nam tiến, mà còn là cửa ngõ của Việt Nam mở ra vùng vịnh Thailand và phía Tây.

    ——–

    Tham khảo

    David Chandler. A History of Cambodia. Silkworm Books: Chiang Mai, 2000.

    Li Tana. Mạc Thiên Thứ (1700–1780): “King of Cambodia”, Southeast Asia: A Historical Encyclopedia, from Angkor Wat to East Timor, edited Ooi Keat Gin. ABC Clio, 2004.

    Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam Thực Lục. Nxb Giáo Dục: HN, 2010.

    Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam Liệt Truyện. Nxb Thuận Hóa: Huế 2005.

    Sakurai,Yumio, and Takako, Kitagawa. “Ha Tien, or Banteay Meas in the Time of the Fall of Ayutthaya.” Pp. 150–220 in From Japan to Arabia:Ayutthaya’s Maritime Relations with Asia. Edited by Kennon Breazeale. Bangkok: Foundation for the Promotion of Social Sciences and Humanities Textbooks Project. 1999.

    Sellers, Nicholas. The Princes of Hà-Tiên (1682–1867). Brussels: Éditions Thanh Long, 1983.

    Trần Kinh Hòa..“Mac Thien Tu and Phrayatakin, a Survey on Their Politics Stand, Conflicts and Background.” Pp. 1534–1575 in VII IAHA Conference Proceedings, vol. 2. Bangkok: Chulalongkorn University Press, 1979.

    Trịnh Hoài Đức. Gia Định thành thông chí. Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa: Sài Gòn, 1972

    Trương Minh Đạt. Nghiên cứu Hà Tiên. Nxb Trẻ: TP HCM, 2008

    Vũ Thế Dinh. Hà Tiên trấn hiệp trấn Mạc thị gia phả. Nguyễn Văn Nguyên dịch, Nxb Thế Giới, Hà Nội: 2006.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xứ Sở Dừa Việt Nam: Lý Do Tại Sao Gọi Là Bến Tre Mà Không Gọi Là Bến Dừa
  • Kỷ Niệm 1050 Năm Nhà Nước Đại Cồ Việt – Nhà Nước Của Ý Chí Độc Lập, Tự Chủ Và Khát Vọng Hòa Bình Của Dân Tộc
  • Ý Nghĩa Sự Ra Đời, Vị Trí Và Vai Trò Của Nhà Nước Đại Cồ Việt (Thời Đinh) Trong Tiến Trình Lịch Sử Dân Tộc
  • Sự Tích Tết Nguyên Tiêu – Rằm Tháng Giêng
  • Loài Hoa Của Tình Yêu Chung Thủy, Lâu Bền
  • Nhà Nước Đại Cồ Việt Trong Tiến Trình Lịch Sử Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Bảo Tàng Hồ Chí Minh
  • Ý Nghĩa Lịch Sử Ngày Bác Hồ Ra Đi Tìm Đường Cứu Nước
  • Website Bệnh Viện Nhi Đồng 2
  • Nguồn Gốc & Ý Nghĩa: Lễ Kính Các Tổng Lãnh Thiên Thần
  • Các Tổng Lãnh Thiên Thần
  • Khu di tích lịch sử Cố đô Hoa Lư – kinh đô của Nhà nước Đại Cồ Việt từ năm 968 đến 1009.  Ảnh: Internet

    Nhà nước Đại cồ Việt ra đời

    Sau chiến thắng đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào cuối năm 938, Ngô Quyền xưng Vương, đặt trăm quan, định ra triều nghi phâm phục, đóng đô ở Cổ Loa với ý nghĩa phục hồi lại quốc thống. Đây là một sự kiện có ý nghĩa bước ngoặt, chấm dứt hoàn toàn ách đô hộ của chính quyền phương Bắc kéo dài hơn mười thế kỷ, đồng thời mở ra một chương mới tươi sáng trong tiến trình lịch sử dân tộc – thời kỳ độc lập tự chủ. Năm 944, Ngô Quyền mất, triều đình rối ren. Các thô hào, tù trưởng nổi lên khắp nơi, cát cứ chống lại chính quyền trung ương. Đất nước rơi vào tình trạng chia cắt, hỗn loạn. Nổi lên 12 vùng đất biệt lập do 12 thủ lĩnh đứng đầu, lịch sử gọi là “Loạn 12 sứ quân”. Cùng thời gian xuất hiện “12 sứ quân”, năm 960, ở Trung Quốc, nhà Tống thành lập, chấm dứt thời kỳ “ngũ đại thập quốc” và bắt đầu mở thế lực xuống phía Nam. Nguy cơ ngoại xâm lại xuất hiện và đe dọa. Đất nước đứng trước một thử thách lớn. Từ đất Hoa Lư (Ninh Bình), người anh hùng Đinh Bộ Lĩnh đã phất cờ, tập hợp dân chúng, giải quyết vấn đề lịch sử đặt ra: “dẹp loạn 12 sứ quân”, thống nhất đất nước vào cuối năm 967.

    Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, đặt tên nước là Đại cồ Việt (tức Nước Việt to lớn), định đô ở Hoa Lư, xây dựng triều chính và quản lý đất nước. Kinh đô Hoa Lư do Vua Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh) tổ chức xây dựng là một công trình kiến trúc lớn nhất của đất nước sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc. Mùa xuân năm 970, Đinh Tiên Hoàng bỏ không dùng niên hiệu của nhà Tống, tự đặt niên hiệu Thái Bình. Với việc xưng đế, đặt quốc hiệu, dựng kinh đô, định niên hiệu, Đinh Tiên Hoàng đã khẳng định nền độc lập, tự chủ của quốc gia Đại cồ Việt và bắt tay vào xây dựng một mô hình nhà nước với thiết chế mới: Quân chủ Trung ương tập quyền.

    Quốc hiệu “Đại cồ Việt” tồn tại trong lịch sử dân tộc từ năm 968 đến năm 1054, trải qua 3 triều đại: Đinh (968-980), Tiền Lê (980-1009) và thời kỳ đầu của nhà Lý (1009-1054).

    Dưới thời nhà Đinh (968-980)

    Đinh Tiên Hoàng đã hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý đất nước từ hình thức “Vương quyền” chuyển sang hình thức “Đế quyền”, với 3 cấp: Triều đình Trung ương – Đạo (trung gian) – Giáp, Xã (cơ sở).

    Nhìn chung, bộ máy hành chính thời kỳ này là bộ máy chính quyền quân chủ thời kỳ mới độc lập, tự chủ, nên còn khá sơ sài, đơn giản, chưa thật hoàn bị, nhưng việc củng cố bộ máy chính quyền Nhà nước quân chủ của Đinh Tiên Hoàng đã được lịch sử ghi nhận là “… Vua mở nước dựng đô, đổi xưng Hoàng đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ…” . Ớ các địa phương, vua Đinh chia nước làm nhiều đạo, dưới đạo là giáp và xã. Về cơ bản Nhà nước Đại cồ Việt thời Đinh là một nhà nước võ trị; quân đội đông và tương đối mạnh. Quân thường trực thời Đinh bắt đầu được trang bị quân phục thống nhất. Quân đội được trang bị các loại bạch khí, kết hợp giữa giáo, kiếm, côn với cung, nỏ…

    Cùng với việc từng bước xây dựng và kiện toàn bộ máy quản lý từ Trung ương đến địa phương, xây dựng củng cố lực lượng quân sự, nền pháp chế thời kỳ này cũng bắt đầu được để ý đến. Đinh Tiên Hoàng đã đặt chức Đô hộ phủ sĩ sư coi việc hình án – một chức quan tư pháp và giao cho Lưu Cơ giữ chức này. Mặc dù vậy, dưới chế độ võ trị, luật pháp thời Đinh còn nghiêm khắc và tùy tiện, dựa theo ý muốn của nhà vua.

    Về kinh tế, nông nghiệp được quan tâm, một số ngành nghề thủ công nghiệp cũng được chú ý phát triển, trong dân gian, các nghề truyền thống như trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải lụa, làm giấy tiếp tục phát triển. Đồng tiền đầu tiên của đất nước: Đồng Thái Bình Hưng Bảo được phát hành vào khoảng năm 970 đã thúc đẩy việc trao đổi buôn bán hàng hóa.

    Cùng với việc xây dựng một chính quyền nhà nước có chủ quyền, vua Đinh Tiên Hoàng cũng chú ý đến phát triển văn hóa; những mầm mống đầu tiên của một nền văn hóa mang tính dân tộc được manh nha hình thành. Đạo Phật là chỗ dựa tinh thần và có vị trí lớn trong đời sống xã hội Đại cồ Việt, cũng như trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước thời Đinh. 

    Dưới thời Tiền Lê (980-1009) và thời kỳ đầu nhà Lý (1009-1054)

    Dưới thời Tiền Lê và thời kỳ đầu của nhà Lý (980-1054), Nhà nước Đại cồ Việt tiếp tục phát triển về mọi mặt; nền độc lập, tự chủ của dân tộc được củng cố vững chắc.

    Về tổ chức bộ máy nhà nước, chính quyền trung ương thời Tiền Lê được giữ nguyên như thời Đinh, vua nắm mọi quyền hành cả dân sự lẫn quân sự; dưới vua là các chức quan văn, võ, hầu hết là những người có công phò tá nhà vua lên ngôi. Vua Lê Hoàn (tức Lê Đại Hành) vẫn đóng đô ở Hoa Lư; năm 984, cho xây dựng nhiều cung điện với quy mô to lớn hơn. Năm 1006, Vua Lê Long Đĩnh cho sửa đổi quan chế và triều phục của các quan văn, võ và tăng đạo. Chế độ phong tước và cấp thái ấp dưới thời Tiền Lê được thực hiện quy củ hơn trước.

    Thời nhà Lý, các vua Lý tự xưng là Thiên tử, lập các ngôi Hoàng hậu và Thái tử, phong tước cho con cháu, người thân trong họ hàng cùng quan lại có công tôn phù. Hệ thống quan chức được chia làm 9 phẩm cấp; ngoài ra, còn có một số cơ quan chuyên trách, giúp việc cho vua.

    Năm 1042, Lý Thái Tông cho soạn bộ “Hình thư” gồm 3 quyển, xuống chiếu ban hành trong dân gian. Đây là bộ luật thành văn đầu tiên của Việt Nam, thể hiện một bước tiến quan trọng trong việc trị nước của nhà nước phong kiến độc lập, tự chủ. 

    Về kinh tế, nông nghiệp đóng vai trò chủ yếu. Các vua rất chú ý khuyến khích nông nghiệp. Vua Lê Đại Hành đã cho xây dựng nhiều công trình, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp để chấn hưng đất nước. Ông là vị vua mở đầu cho lễ tịch điền vào mùa xuân hằng năm, mở đầu cho một lễ nghi trọng đại mà các vương triều sau tiếp tục noi theo để khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp.

    Vị trí, vai trò của Nhà nước Đại cồ Việt trong tiến trình lịch sử dân tộc

    Nhà nước Đại cồ Việt ra đời, tồn tại và phát triển đã khẳng định sức mạnh của ý chí độc lập dân tộc, hòa bình, thống nhất đất nước của nhân dân ta sau nghìn năm Bắc thuộc. Đây là nhà nước quân chủ Trung ương tập quyền đầu tiên của Việt Nam trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc.

    Nhà nước Đại cồ Việt đã mở ra những trang sử vẻ vang của dân Việt Nam trong thời kỳ đầu xây dựng và bảo vệ đất nước – kỷ nguyên độc lập, tự chủ lâu dài xuyên suốt các triều đại Đinh, Lê, Lý và Trần, Hậu Lê sau này, cụ thể: Nhà nước Đại cồ Việt đã có công lao trong việc giữ gìn, củng cố nền độc lập dân tộc trong một thời gian gần một thế kỷ. Trong thời kỳ này, các vương triều phương Bắc mang quân sang xâm lược, nhưng đều bị chống trả quyết liệt. Các chủ trương, chính sách và những thành tựu, kết quả của Nhà nước Đại cồ Việt đã đặt nền móng cho sự ra đời, tồn tại và phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, tài chính, đối ngoại, giao thông… của nhà nước phong kiến Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc.

    QKM

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thầy Phong Thủy Tiết Lộ Điểm Tuyệt Mệnh Giống Nhau Giữa 2 Căn Nhà Trong 2 Vụ Thảm Sát
  • Ý Nghĩa Tên Gọi Của Các Loài Hoa Nổi Tiếng Nhất! ⋆ Topreview.vn
  • 10 Loài Hoa Đẹp Nhất Thế Giới Và Ý Nghĩa Của Từng Loài.
  • Tiểu Sử Anh Hùng Nguyễn Thái Bình
  • Soạn Bình Ngô Đại Cáo Phần 1 Đầy Đủ Nhất
  • Xem Ý Nghĩa Tên Đại, Đặt Tên Đại Có Ý Nghĩa Tốt Hay Xấu

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Gia Có Ý Nghĩa Gì? Tổng Hợp Bộ Tên Lót Chữ Gia Hay Nhất
  • Xem Ý Nghĩa Tên Hải, Tên Đệm Cho Tên Hải Hay Và Ý Nghĩa
  • Giải Mã Ý Nghĩa Tên Hải Là Gì, Trọn Bộ Tên Lót Hay Cho Tên Hải
  • Xem Ý Nghĩa Tên Hoa, Tên Đệm Cho Tên Hoa Hay Và Ý Nghĩa
  • Xem Ý Nghĩa Tên Kim, Đặt Tên Kim Cho Con Có Hợp Không
  • Ý nghĩa tên Đại, đặt tên Đại có ý nghĩa g

    Ý nghĩa: Quang minh chính đại, to lớn, bách đại, đại gia

    Xem ý nghĩa tên Anh Đại, đặt tên An Đại có ý nghĩa gì

    Theo nghĩa Hán – Việt, “Anh” là “người tài giỏi” với ý nghĩa bao hàm sự nổi trội, thông minh, giỏi giang trên nhiều phương diện, vì vậy tên “Anh” thể hiện mong muốn tốt đẹp của cha mẹ để con mình giỏi giang, xuất chúng khi được đặt tên này. “Đại” diễn tả sự to lớn, như bách đại, đại gia, có thể làm chỗ dựa vững chắc cho mọi người. “Đại” còn thể hiện tinh thần quảng đại, sự rộng rãi, quang minh chính đại. “Anh Đại” mong muốn con là người thông minh, giỏi giang trên nhiều phương diện và là người quang minh chính đại.

    Xem ý nghĩa tên Bảo Đại, đặt tên Bảo Đại có ý nghĩa gì

    Tên vị vua nhà Nguyễn, thể hiện sự uy nghiêm, quyền quý, cao sang, luôn mạnh mẽ, vững chắc

    Xem ý nghĩa tên Cao Đại, đặt tên Cao Đại có ý nghĩa gì

    Theo nghĩa Hán – Việt, “Cao” nghĩa là tài giỏi, cao thượng, đa tài. “Đại” diễn tả sự to lớn, như bách đại, đại gia, có thể làm chỗ dựa vững chắc cho mọi người. “Đại” còn thể hiện tinh thần quảng đại, sự rộng rãi, quang minh chính đại. “Cao Đại” mong muốn con là người tài giỏi, cao thượng và là người có nhiều thành công to lớn trong cuộc sống.

    Xem ý nghĩa tên Duy Đại, đặt tên Duy Đại có ý nghĩa gì

    Người có những tư duy triết lý to lớn vĩ đại. Mong con luôn làm được những việc lớn.

    Xem ý nghĩa tên Hoàng Đại, đặt tên Hoàng Đại có ý nghĩa gì

    Theo nghĩa Hán – Việt, “Hoàng” là màu vàng, ánh sắc của vàng. Tên “Hoàng” thường để chỉ những người vĩ đại, có cốt cách vương giả, với mong muốn tương lai phú quý, sang giàu. “Đại” diễn tả sự to lớn, như bách đại, đại gia, có thể làm chỗ dựa vững chắc cho mọi người. “Đại” còn thể hiện tinh thần quảng đại, sự rộng rãi, quang minh chính đại. “Hoàng Đại” ý mong muốn con là người có tương lai giàu sang phú quý, luôn là người quảng đại và thành công lớn trong cuộc sống.

    Xem ý nghĩa tên Hữu Đại, đặt tên Hữu Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Mong con luôn đi theo những điều đúng đắn và chân thực

    Xem ý nghĩa tên Huy Đại, đặt tên Huy Đại có ý nghĩa gì

    Huy trong tiếng Hán – Việt có nghĩa là ánh sáng rực rỡ, thể hiện sự chiếu rọi của vầng hào quang, cho thấy sự kỳ vọng vào tương lai vẻ vang của con cái. Tên Huy Đại mang ý nghĩa con là người tài sẽ có những thành công to lớn vĩ đại trong tương lai huy hoàng & rực rỡ

    Xem ý nghĩa tên Kim Đại, đặt tên Kim Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Kim là vàng. Kim Đài nghĩa là đài bằng vàng, chỉ người con gái phẩm hạnh quý giá, tư chất cao quý

    Xem ý nghĩa tên Minh Đại, đặt tên Minh Đại có ý nghĩa gì

    Minh Đại mang ý nghĩa con thông minh tài trí sẽ đỗ đạt thành danh

    Xem ý nghĩa tên Mộng Đại, đặt tên Mộng Đại có ý nghĩa gì

    Mộng là mơ mộng. Mộng Đài nghĩa là đài các trong mơ, thể hiện con người có tâm hồn nghệ sĩ, tư chất đẹp đẽ

    Xem ý nghĩa tên Ngọc Đại, đặt tên Ngọc Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Ngọc Đài là đài xây bằng ngọc, hàm ý người con gái quý báu, tuyệt luân

    Xem ý nghĩa tên Nhân Đại, đặt tên Nhân Đại có ý nghĩa gì

    Theo nghĩa Hán – Việt, “Nhân” có nghĩa là người, thiên chỉ về phần tính cách, vì Nhân còn có nghĩa là phần giá trị cốt lõi bên trong. “Đại” diễn tả sự to lớn, như bách đại, đại gia, có thể làm chỗ dựa vững chắc cho mọi ngườ. “Đại” còn thể hiện tinh thần quảng đại, sự rộng rãi, quang minh chính đại. “Nhân Đại” mong muốn con là người có sự nghiệp vững chắc và là người quảng đại, tinh anh, hiểu biết.

    Xem ý nghĩa tên Phước Đại, đặt tên Phước Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Thông minh, đa tài lại có thêm quý nhân phù trợ, suốt đời hưởng phước lộc, vinh hoa, phú quý.

    Xem ý nghĩa tên Phương Đại, đặt tên Phương Đại có ý nghĩa gì

    Nghĩa là đài cao xây bằng cỏ thơm, hàm nghĩa người con gái sang trọng, hoàn hảo, tốt đẹp

    Xem ý nghĩa tên Quang Đại, đặt tên Quang Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Những người đạt được những vinh quang lớn trong sự nghiệp. Thành công trong cuộc sống.

    Xem ý nghĩa tên Quảng Đại, đặt tên Quảng Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Quảng Đại nghĩa là rộng lớn, chỉ về con người tâm hồn phóng khoáng, trượng nghĩa bao dung

    Xem ý nghĩa tên Quốc Đại, đặt tên Quốc Đại có ý nghĩa gì

    Mong con sẽ khỏe mạnh, to cao nhất nhà

    Xem ý nghĩa tên Thanh Đại, đặt tên Thanh Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Con sẽ là người có khí phách hiên ngang, to lớn, minh bạch

    Xem ý nghĩa tên Thành Đại, đặt tên Thành Đại có ý nghĩa gì

    Con sẽ thành đạt giỏi giang bằng lòng chân thực

    Xem ý nghĩa tên Tiến Đại, đặt tên Tiến Đại có ý nghĩa gì

    Theo nghĩa Hán – Việt, “Tiến” là sự vươn tới, thể hiện ý chí, nỗ lực của con người. Tên Tiến còn hàm chứa ý nghĩa mong con luôn thành công, tiến bước trên đường đời. “Đại” diễn tả sự to lớn, như bách đại, đại gia, có thể làm chỗ dựa vững chắc cho mọi người. “Đại” còn thể hiện tinh thần quảng đại, sự rộng rãi, quang minh chính đại. “Tiến Đại” ý mong muốn con là người quang minh chính đại, có sự nghiệp vững chắc và có những bước tiến tốt đẹp trong tương lai.

    Xem ý nghĩa tên Trí Đại, đặt tên Trí Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Trí Đại mang ý nghĩa con là người có trí tuệ và đạt được những thành công lớn lao trong cuộc sống

    Xem ý nghĩa tên Vân Đại, đặt tên Vân Đại có ý nghĩa gì

    Vân là mây. Vân Đài là đài mây, chỉ người con gái cao quý kiêu sa, phẩm hạnh quý giá

    Xem ý nghĩa tên Vũ Đại, đặt tên Vũ Đại có ý nghĩa gì

    Theo nghĩa Hán – Việt, “Vũ” có nghĩa là mưa, là khúc nhạc, cũng bao hàm nghĩa về sức mạnh to lớn. “Đại” diễn tả sự to lớn, như bách đại, đại gia, có thể làm chỗ dựa vững chắc cho mọi người. “Đại” còn thể hiện tinh thần quảng đại, sự rộng rãi, quang minh chính đại. “Vũ Đại” mong muốn con là người mạnh mẽ, có sức khỏe tốt và là người có tinh thần quảng đại, quang minh chính trực.

    Xem ý nghĩa tên Xuân Đại, đặt tên Xuân Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Xuân Đại nghĩa là mùa xuân to lớn, hàm ý người có tâm hồn rộng mở, khí chất trẻ trung tích cực

    Xem ý nghĩa tên Yên Đại, đặt tên Yên Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Yên là mây khói. Yên Đài là đài cao tận khói mây, thể hiện người con gái cao quý đẹp đẽ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Tên Đạt, Đặt Tên Đạt Có Ý Nghĩa Gì
  • Giải Mã Ý Nghĩa Tên Đức, Đặt Tên Đức Có Ý Nghĩa Gì
  • Ý Nghĩa Tên Cát? Bật Mí List Tên Cát Hay Cho Bé Độc Đáo, Chất
  • Ý Nghĩa Tên Cát,đặt Tên Cát Có Ý Nghĩa Gì
  • Ý Nghĩa Tên Chi Và Cách Đặt Tên Đệm Cho Tên Chi Hay Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100