Ý Nghĩa Tên Gọi Hà Nội

--- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Của Tên Gọi Hà Nội
  • Tên Lại Minh Nhiên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lê Minh Nhiên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Hoàng Minh Nhiên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Ngọc Nhiên Có Ý Nghĩa Là Gì
  • au khi diệt triều Tây S ơn, vua Gia Long đã đổi phủ Phụng Thiên ( vốn là đất đai của kinh thành Thăng Long cũ ) thành phủ Hoài Đức và vẫn coi là một đơn vị trực thuộc ngang với ) vị vua này tiến hành một đợt cải cách hành chính lớn, xoá bỏ Bắc Thành ( gồm 11 trấn và 1 phủ trực thuộc ) ở miền Bắc, chia cả nước ra làm 29 ng. Tỉnh Hà Nội gồm thành Thăng Long, phủ Hoài Đức của trấn Tây Sơn, và ba phủ Ứng Hoà, Thường Tín, Lý Nhân của trấn Sơn Nam. trấn tức trực thuộc trung ương mà đại diện là Tổng trấn Bắc Thành. Đến năm Minh Mạng thứ 12 ( tỉnh trong đó có 15 tỉnh trực thuộc trung ươ

    – phủ Hoài Đức gồm 3 huyện : Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêmng Mỹ – Thanh Oai )

    – phủ Thường Tín gồm 3 huyện : Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên

    – phủ Ứng Hoà gồm 4 huyện : Sơn Minh ( nay là Ứng Hòa ), Hoài An ( nay là phía nam Ứng Hòa và một phần Mỹ Đức ), Chương Đức ( Nay là Chươ

    – phủ Lý Nhân gồm 5 huyện : Nam Xang ( nay là Lý Nhân ), Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục

    Hà Nội có nghĩa là phía trong các con sông, vì tỉnh mới Hà Nội được bao bọc bởi 2 con sông : sông Hồng và sông Đáy. Nh ư vậy tỉnh Hà Nội lúc đó gồm thành phố Hà Nội, nửa chính đông tỉnh Hà Tây ( chính là tỉnh Hà Tây thời Pháp thuộc ) và toàn bộ tỉnh Hà Nam. Như vậy rõ ràng tỉnh Hà Nội có đại bộ phận nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Đ

    ười cho rằng chữ Hà Nội là lấy từ câu trong sách Mạnh Tử ( Thiên Lương Huệ Vương ) : “Hà Nội hung tắc di kỳ dân ư Hà Đông, chuyển kỳ tức ư Hà Nội” ( nghĩa là : Hà Nội bị tai hoạ thì đưa dân về Hà Đông, đưa thóc từ Hà Đông về Hà Nội ). Nguyên ở Trung Quốc thời Mạnh Tử ( thế kỷ III chúng tôi ) phía bắc sông Hoàng gọi là đất Hà Nội, phía Nam là Hà Ngoại. Vùng đất Hà Nội ấy nay ứng với tỉnh Hà Bắc. Lại do sông Hoàng khi tới địa đầu tỉnh Sơn Tây ngày nay thì chạy theo hướng Bắc – Nam, trở thành ranh giới giữa hai tỉnh Thiểm Tây và Sơn Tây. Sơn Tây ở phía đông sông Hoàng nên thời cổ có tên là đất Hà Đông, còn Thiểm Tây là Hà Tây. Thực sự cũng có việc dùng câu sách Mạnh Tử nói trên, nhưng đó là trường hợp năm 1904 khi muốn đổi tên tỉnh Cầu Đơ cho khỏi nôm na, người ta mới dùng tên Hà Đông ( dựa vào tên Hà Nội đã có từ trư

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Nguyễn Diễm Quỳnh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lê Diễm Quỳnh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Nguyên Anh Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Nguyễn Thành Vinh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Thành Vinh Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Lê Hà Tiên Có Ý Nghĩa Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Võ Hạ Trâm Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Thái Hà Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lê Thái Hà Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Phạm Thái Hà Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Thúy Hà Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Luận giải tên Lê Hà Tiên tốt hay xấu ?

    Về thiên cách tên Lê Hà Tiên

    Thiên Cách là đại diện cho mối quan hệ giữa mình và cha mẹ, ông bà và người trên. Thiên cách là cách ám chỉ khí chất của người đó đối với người khác và đại diện cho vận thời niên thiếu trong đời.

    Thiên cách tên Lê Hà Tiên là , tổng số nét là 12 và thuộc hành Âm Mộc. Do đó Thiên cách tên bạn sẽ thuộc vào quẻ Bạc nhược tỏa chiết là quẻ HUNG. Đây là quẻ người ngoài phản bội, người thân ly rời, lục thân duyên bạc, vật nuôi sinh sâu bọ, bất túc bất mãn, một mình tác chiến, trầm luân khổ nạn, vãn niên tối kỵ.

    Xét về địa cách tên Lê Hà Tiên

    Ngược với thiên cách thì địa cách đại diện cho mối quan hệ giữa mình với vợ con, người nhỏ tuổi hơn mình và người bề dưới. Ngoài ra địa cách còn gọi là “Tiền Vận” ( tức trước 30 tuổi), địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận tuổi mình.

    Địa cách tên Lê Hà Tiên là Hà Tiên, tổng số nét là 12 thuộc hành Âm Mộc. Do đó địa cách sẽ thuộc vào quẻ Bạc nhược tỏa chiết là quẻ HUNG. Đây là quẻ người ngoài phản bội, người thân ly rời, lục thân duyên bạc, vật nuôi sinh sâu bọ, bất túc bất mãn, một mình tác chiến, trầm luân khổ nạn, vãn niên tối kỵ.

    Luận về nhân cách tên Lê Hà Tiên

    Nhân cách là chủ vận ảnh hưởng chính đến vận mệnh của cả đời người. Nhân cách chi phối, đại diện cho nhận thức, quan niệm nhân sinh. Nhân cách là nguồn gốc tạo vận mệnh, tích cách, thể chất, năng lực, sức khỏe, hôn nhân của gia chủ, là trung tâm của họ và tên. Muốn tính được Nhân cách thì ta lấy số nét chữ cuối cùng của họ cộng với số nét chữ đầu tiên của tên.

    Nhân cách tên Lê Hà Tiên là Lê Hà do đó có số nét là 18 thuộc hành Âm Kim. Như vậy nhân cách sẽ thuộc vào quẻ Chưởng quyền lợi đạt là quẻ CÁT. Đây là quẻ người ngoài phản bội, người thân ly rời, lục thân duyên bạc, vật nuôi sinh sâu bọ, bất túc bất mãn, một mình tác chiến, trầm luân khổ nạn, vãn niên tối kỵ.

    Về ngoại cách tên Lê Hà Tiên

    Ngoại cách là đại diện mối quan hệ giữa mình với thế giới bên ngoài như bạn bè, người ngoài, người bằng vai phải lứa và quan hệ xã giao với người khác. Ngoại cách ám chỉ phúc phận của thân chủ hòa hợp hay lạc lõng với mối quan hệ thế giới bên ngoài. Ngoại cách được xác định bằng cách lấy tổng số nét của tổng cách trừ đi số nét của Nhân cách.

    Tên Lê Hà Tiên có ngoại cách là Tiên nên tổng số nét hán tự là 6 thuộc hành Âm Thổ. Do đó ngoại cách theo tên bạn thuộc quẻ Phú dụ bình an là quẻ CÁT. Đây là quẻ người ngoài phản bội, người thân ly rời, lục thân duyên bạc, vật nuôi sinh sâu bọ, bất túc bất mãn, một mình tác chiến, trầm luân khổ nạn, vãn niên tối kỵ.

    Luận về tổng cách tên Lê Hà Tiên

    Tổng cách là chủ vận mệnh từ trung niên về sau từ 40 tuổi trở về sau, còn được gọi là “Hậu vận”. Tổng cách được xác định bằng cách cộng tất cả các nét của họ và tên lại với nhau.

    Do đó tổng cách tên Lê Hà Tiên có tổng số nét là 23 sẽ thuộc vào hành Dương Hỏa. Do đó tổng cách sẽ thuộc quẻ Tráng lệ quả cảm là quẻ CÁT. Đây là quẻ khí khái vĩ nhân, vận thế xung thiên, thành tựu đại nghiệp. Vì quá cương quá cường nên nữ giới dùng sẽ bất lợi cho nhân duyên, nếu dùng cần phối hợp với bát tự, ngũ hành.

    Quan hệ giữa các cách tên Lê Hà Tiên

    Số lý họ tên Lê Hà Tiên của nhân cách biểu thị tính cách phẩm chất con người thuộc “Âm Kim” Quẻ này là quẻ Tính cứng rắn, ngang ngạnh, cố chấp, bảo thủ, sức chịu đựng cao, ưa tranh đấu, nếu tu tâm dưỡng tính tốt ắt thành người quang minh lỗi lạc. Cách này không hợp với phái nữ.

    Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số) Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tai “Âm MộcÂm Kim – Âm Mộc” Quẻ này là quẻ Mộc Kim Mộc: Khả năng thành công ít, cuộc đời gặp nhiều gian khổ, gặp nhiều bất trắc, gia đình bất hạnh, vất vả, cơ thể lao lực, tổn hại đến não và thần kinh (hung).

    Kết quả đánh giá tên Lê Hà Tiên tốt hay xấu

    Như vậy bạn đã biêt tên Lê Hà Tiên bạn đặt là tốt hay xấu. Từ đó bạn có thể xem xét đặt tên cho con mình để con được bình an may mắn, cuộc đời được tươi sáng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Hà Tiên Hiên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Đặt Tên Cho Con Trần Phú Hào 70/100 Điểm Tốt
  • Tên Hoàng Phú Hào Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Dương Phú Hào Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Nguyễn Trí Hào Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Huyền Bí Thạch Động Hà Tiên

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Gọi Vĩnh Long Có Nghĩa Gì?
  • Nguồn Gốc Tên Gọi Đà Nẵng
  • Tên Gọi Đà Nẵng Thực Chất Có Nghĩa Là Gì?
  • Ý Nghĩa Tên Gọi Samsung Đã Được Hiện Thực Hóa
  • Ý Nghĩa Các Dòng Smartphone Của Samsung
  • Thạch Động Hà Tiên hay còn gọi là Thạch Động thôn vân là điểm du lịch nổi tiếng của Hà Tiên, nằm trong 10 cảnh đẹp Hà Tiên xưa được nhắc tới nhiều trong thơ ca. Đây cũng là nơi phát tích Thạch Sanh giết đại bàng để cứu công chúa Quỳnh Nga trong truyện cổ tích Thạch Sanh xưa.

    Thạch Động thuộc địa phận xã Mỹ Đức, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang là một khối núi đá vôi khổng lồ, dựng đứng tựa như một ngọn tháp với chiều cao khoảng 90m.

    Còn được biết đến với cái tên Thạch Động thôn vân, có nghĩa động đá nuốt mây bởi mỗi sáng sớm những đám mây trắng là là bay qua đỉnh núi thì bị giữ lại trước cửa động rồi từ từ bay vào tựa như hang động đang nuốt mây vậy.

    Để lên đến cửa động, bạn sẽ leo khoảng 50 bậc đá từ dưới chân núi. Tại đây, du khách có thể phóng tầm mắt nhìn toàn cảnh thị xã Hà Tiên xinh đẹp cũng như nhìn sang bên đất bạn Campuchia với các phum sóc (xóm làng của vùng đồng bào dân tộc Khmer).

    Thạch Động có hai cửa chính, một cửa hướng về phía thị xã Hà Tiên, một cửa hướng ra cánh đồng Mỹ Đức.

    Bước vào bên trong lòng Thạch Động là một hệ thống hang động vô cùng kỳ ảo với nhiều thạch nhũ đá có hình thù kỳ thú, thu hút rất đông du khách tham quan, chụp hình. Đây cũng là nơi tọa lạc chùa Tiên Sơn cổ kính được xây dựng vào năm 1790, thờ Phật Thích Ca và Bồ Tát Quan Thế Âm.

    Đến với Thạch Động, du khách sẽ được nghe kể rất nhiều những câu chuyện bí ẩn về những vách đá có hình thù kỳ lạ, là nơi phát tích truyện Thạch Sanh – Lý Thông. Phía Đông của động có một cửa hang thông thiên nên khi ánh sáng rọi xuống người xưa gọi là đường lên trời. Theo truyền thuyết xưa, Thạch Sanh đã theo cửa miệng hang này để vào bên trong lòng động giết đại bàng, cứu công chúa Quỳnh Nga.

    Trong động có một ngách nhỏ, nhìn vào chỉ thấy thăm thẳm. Người ta kể lại rằng, có rất nhiều người vì hiếu kỳ đã đi xuống đó tìm hiểu nhưng không thấy trở lên. Có người đã dùng trái dừa khô khắc chữ cho lăn xuống ngách thì phát hiện ra trái dừa đó trôi trên mặt biển Mũi Nai, chứng tỏ ngách này thông ra đến tận biển. Đây cũng là con đường mà Thạch Sanh đi gặp vua Thủy Tề trong cổ tích. Ngày nay, cửa miệng hang này đã được chắn lại để đảm bảo an toàn cho du khách.

    Thạch Động Hà Tiên là một điểm đến thú vị khi bạn có dịp về du lịch miền Tây. Thạch Động là một trong mười cảnh đẹp của xứ Hà Tiên, chứa đựng những câu chuyện huyền bí, kì lạ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khám Phá Ý Nghĩa Tên Gọi Các Mẫu Xe Hyundai
  • Vì Sao Có Cái Tên “sài Gòn”?
  • Chữ Cồ Trong Quốc Hiệu Đại Cồ Việt
  • Tên Gọi Việt Nam Có Từ Khi Nào?
  • Ý Nghĩa Sự Ra Đời Vị Trí Và Vai Trò Của Nhà Nước Đại Cồ Việt Thời Đinh Trong Tiến Trình Lịch Sử Dân Tộc
  • Ý Nghĩa Của Tên Gọi Hà Nội

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Lại Minh Nhiên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lê Minh Nhiên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Hoàng Minh Nhiên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Ngọc Nhiên Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Nguyễn Ngọc Nhiên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Ý nghĩa của tên gọi Hà Nội

    Sau khi diệt triều Tây Sơn, vua Gia Long đã đổi phủ Phụng Thiên ( vốn là đất đai của kinh thành Thăng Long cũ ) thành phủ Hoài Đức và vẫn coi là một đơn vị trực thuộc ngang với trấn tức trực thuộc trung ương mà đại diện là Tổng trấn Bắc Thành. Đến năm Minh Mạng thứ 12 ( 1831 ) vị vua này tiến hành một đợt cải cách hành chính lớn, xoá bỏ Bắc Thành ( gồm 11 trấn và 1 phủ trực thuộc ) ở miền Bắc, chia cả nước ra làm 29 tỉnh trong đó có 15 tỉnh trực thuộc trung ương. Tỉnh Hà Nội gồm thành Thăng Long, phủ Hoài Đức của trấn Tây Sơn, và ba phủ Ứng Hoà, Thường Tín, Lý Nhân của trấn Sơn Nam.

    – phủ Hoài Đức gồm 3 huyện : Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm

    – phủ Thường Tín gồm 3 huyện : Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên

    – phủ Ứng Hoà gồm 4 huyện : Sơn Minh ( nay là Ứng Hòa ), Hoài An ( nay là phía nam Ứng Hòa và một phần Mỹ Đức ), Chương Đức ( Nay là Chương Mỹ – Thanh Oai )

    – phủ Lý Nhân gồm 5 huyện : Nam Xang ( nay là Lý Nhân ), Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục Danh từ Hà Nội bắt đầu có từ bấy giờ ( 1831 ).

    Hà Nội có nghĩa là phía trong các con sông, vì tỉnh mới Hà Nội được bao bọc bởi 2 con sông : sông Hồng và sông Đáy. Như vậy tỉnh Hà Nội lúc đó gồm thành phố Hà Nội, nửa chính đông tỉnh Hà Tây ( chính là tỉnh Hà Tây thời Pháp thuộc ) và toàn bộ tỉnh Hà Nam. Như vậy rõ ràng tỉnh Hà Nội có đại bộ phận nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Đáy.

    Có người cho rằng chữ Hà Nội là lấy từ câu trong sách Mạnh Tử ( Thiên Lương Huệ Vương ) : “Hà Nội hung tắc di kỳ dân ư Hà Đông, chuyển kỳ tức ư Hà Nội” ( nghĩa là : Hà Nội bị tai hoạ thì đưa dân về Hà Đông, đưa thóc từ Hà Đông về Hà Nội ). Nguyên ở Trung Quốc thời Mạnh Tử ( thế kỷ III chúng tôi ) phía bắc sông Hoàng gọi là đất Hà Nội, phía Nam là Hà Ngoại. Vùng đất Hà Nội ấy nay ứng với tỉnh Hà Bắc. Lại do sông Hoàng khi tới địa đầu tỉnh Sơn Tây ngày nay thì chạy theo hướng Bắc – Nam, trở thành ranh giới giữa hai tỉnh Thiểm Tây và Sơn Tây. Sơn Tây ở phía đông sông Hoàng nên thời cổ có tên là đất Hà Đông, còn Thiểm Tây là Hà Tây. Thực sự cũng có việc dùng câu sách Mạnh Tử nói trên, nhưng đó là trường hợp năm 1904 khi muốn đổi tên tỉnh Cầu Đơ cho khỏi nôm na, người ta mới dùng tên Hà Đông ( dựa vào tên Hà Nội đã có từ trước )

    NHỮNG TÊN GỌI CỦA HÀ NỘI QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ

    THĂNG LONG – HÀ NỘI là kinh đô lâu đời nhất trong lịch sử Việt Nam. Mảnh đất địa linh nhân kiệt này từ trước khi trở thành kinh đô của nước Ðại Việt dưới triều Lý (1010) đã là đất đặt cơ sở trấn trị của quan lại thời kỳ nhà Tuỳ (581 – 618), Ðường (618 – 907) của phong kiến phương Bắc. Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long – Hà Nội có nhiều tên gọi, được chia thành hai loại: chính quy và không chính quy, theo thứ tự thời gian như sau:

    Tên chính quy: Là những tên được chép trong sử sách do các triều đại phong kiến, Nhà nước Việt Nam chính thức đặt ra:

    Long Ðỗ: Truyền thuyết kể rằng, lúc Cao Biền nhà Ðường, vào năm 866 mới đắp thành Ðại La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là thần Long Ðỗ. Do đó trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Ðỗ. Thí dụ vào năm Quang Thái thứ 10 (1397) đời Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly có ý định cướp ngôi nhà Trần nên muốn dời kinh đô về đất An Tôn, phủ Thanh Hoá. Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói: “Ngày xưa, nhà Chu, nhà Nguỵ dời kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Long Ðỗ có núi Tản Viên, có sông Lô Nhị (tức sông Hồng ngày nay), núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi”. Ðiều đó cho thấy, Long Ðỗ đã từng là tên gọi đất Hà Nội thời cổ.

    Tống Bình: Tống Bình là tên trị sở của bọn đô hộ phương Bắc thời Tuỳ (581-618), Ðường (618 – 907). Trước đây, trị sở của chúng là ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay). Tới đời Tuỳ chúng mới chuyển đến Tống Bình.

    Ðại La: Ðại La hay Ðại La thành nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao bọc lấy Kinh Ðô. Theo kiến trúc xưa, Kinh Ðô thường có “Tam trùng thành quách”: Trong cùng là Tử Cấm thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng là Ðại La thành. Năm 866 Cao Biền bồi đắp thêm Ðại La thành rộng hơn và vững chãi hơn trước. Từ đó, thành này được gọi là thành Ðại La. Thí dụ trong Chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ viết năm 1010 có viết: “… Huống chi thành Ðại La, đô cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời đất…” (Toàn thư, Tập I, H, 1993, tr 241).

    (Rồng bay lên). Ðây là cái tên có tính văn chương nhất, gợi cảm nhất trong số các tên của Hà Nội. Sách Ðại Việt sử ký toàn thư cho biết lý do hình thành tên gọi này như sau: “Mùa thu, tháng 7 năm Canh Tuất (1010) vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra Kinh phủ thành Ðại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long” (Toàn thư, Tập I, H, tr 241).

    Ðông Ðô: Sách Ðại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Mùa hạ tháng 4 năm Ðinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Lê Hán Thương (tức Hồ Hán Thương – TM) coi phủ đô hộ là Ðông Ðô” (Toàn thư Sđd – tr 192). Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sử thần nhà Nguyễn chú thích: “Ðông Ðô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hoá là Tây Ðô, Thăng Long là Ðông Ðô” (Cương mục – Tập 2, H 1998, tr 700).

    Ðông Quan: Ðây là tên gọi Thăng Long do quan quân nhà Minh đặt ra với hàm nghĩa kỳ thị Kinh đô của Việt Nam, chỉ được ví là “cửa quan phía Ðông” của Nhà nước phong kiến Trung Hoa. Sử cũ cho biết, năm 1408, quân Minh đánh bại cha con Hồ Quý Ly đóng đô ở thành Ðông Ðô, đổi tên thành Ðông Quan. Sách Ðại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 12 năm Mậu Tý (1408), Giản Ðịnh đế bảo các quân “Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch như sét đánh không kịp bưng tai, tiến đánh thành Ðông Quan thì chắc phá được chúng” (Toàn thư Sđd – Tập 2, tr224).

    Sách Ðại Việt sử ký toàn thư cho biết sự ra đời của cái tên này như sau: “Mùa hạ, tháng 4 năm Ðinh Mùi (1427), Vua (tức Lê Lợi – TM) từ điện tranh ở Bồ Ðề, vào đóng ở thành Ðông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Ðại Việt đóng đô ở Ðông Kinh. Ngày 15 vua lên ngôi ở Ðông Kinh, tức là thành Thăng Long. Vì Thanh Hoá có Tây Ðô, cho nên gọi thành Thăng Long là Ðông Kinh” (Toàn thư – Sđd. Tập 2, tr 293).

    Bắc Thành: Ðời Tây Sơn (Nguyễn Huệ – Quang Trung 1787 – 1802 – TM). Vì kinh đô đóng ở Phú Xuân (tức Huế – TM) nên gọi Thăng Long là Bắc thành”(Nguyễn Vinh Phúc – Trần Huy Bá – Ðường phố Hà Nội – H. 1979, tr 12).

    Thăng Long: (Thịnh vượng lên). Sách Lịch sử thủ đô Hà Nội cho biết: “Năm 1802, Gia Long quyết định đóng đô ở tại nơi cũ là Phú Xuân (tức Huế – TM), không ra Thăng Long, cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn miền Bắc và đổi kinh thành Thăng Long làm trấn thành miền Bắc. Kinh thành đã chuyến làm trấn thành thì tên Thăng Long cũng cần phải đổi. Nhưng vì tên Thăng Long đã có từ lâu đời, quen dùng trong nhân dân toàn quốc, nên Gia Long thấy không tiện bỏ đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long, nhưng đổi chữ “Long” là Rồng thành chữ “Long” là Thịnh vượng, lấy cớ rằng rồng là tượng trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây thì không được dùng chữ “Long” là “rồng” (Trần Huy Liệu (chủ biên). Lịch sử thủ đô Hà Nội, H. 1960, tr 81).

    Việc thay đổi nói trên xảy ra năm 1805, sau đó vua Gia Long còn hạ lệnh phá bỏ hoàng thành cũ, vì vua không đóng đô ở Thăng Long, mà hoàng thành Thăng Long lại lớn rộng quá.

    Hà Nội: Sách Lịch sử thủ đô Hà Nội cho biết: “Năm 1831, vua Minh Mạng đem kinh thành Thăng Long cũ hợp với mấy phủ huyện xung quanh như huyện Từ Liêm, phủ Ứng Hoà, phủ Lý Nhân VÀ phủ Thường Tín lập thành tỉnh Hà Nội, lấy khu vực kinh thành Thăng Long cũ làm tỉnh lỵ của Hà Nội”. (Trần Huy Liệu (chủ biên). Lịch sử thủ đô Hà NỘI. H. 1960, TR 82).

    Tên không chính quy: Là những tên trong văn thơ, ca dao, khẩu ngữ… dùng để chỉ thành Thăng Long – Hà Nội:

    Trường An (Tràng An): Vốn là tên Kinh đô của hai triều đại phong kiến thịnh trị vào bậc nhất của nước Trung Quốc: Tiền Hán (206 tr CN – 8 sau CN) và Ðường (618 – 907). Do đó, được các nhà nho Việt Nam xưa sử dụng như một danh từ chung chỉ kinh đô. Từ đó cũng được người bình dân sử dụng nhiều trong ca dao, tục ngữ chỉ kinh đô Thăng Long.

    Thí dụ: Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

    Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An

    Rõ ràng chữ Tràng An ở đây là để chỉ kinh đô Thăng Long. Phượng Thành (Phụng Thành):

    Vào đầu thế kỷ XVI, ông Trạng Nguyễn Giản Thanh người Bắc Ninh có bài phú nôm rất nổi tiếng:

    Phượng Thành xuân sắc phú

    (Tả cảnh sắc mùa xuân ở thành Phượng).

    Nội dung của bài phú trên là tả cảnh mùa xuân của Thăng Long đời Lê. Phụng thành hay Phượng thành được dùng trong văn học Việt Nam để chỉ thành Thăng Long.

    Long Biên: Vốn là nơi quan lại nhà Hán, Nguỵ, Tấn, Nam Bắc triều (thế kỷ III, IV, V và VI) đóng trị sở của Giao Châu (tên nước Việt Nam thời đó). Sau đó, đôi khi cũng được dùng trong thơ văn để chỉ Thăng Long – Hà Nội. Sách Quốc triều đăng khoa lục có đoạn chép về tiểu sử Tam nguyên Trần Bích San (1838 – 1877); ghi lại bài thơ của vua Tự Ðức viếng ông, có hai câu đầu như sau:

    Long Biên tài hướng Phượng thành hồi

    Triệu đối do hi, vĩnh biệt thôi!

    Dịch nghĩa: Nhớ người vừa từ thành Long Biên về tới Phượng Thành.

    Trẫm còn đang hy vọng triệu ngươi và triều bàn đối, bỗng vĩnh biệt ngay.

    Thành Long Biên ở đây, vua Tự Ðức dùng để chỉ Hà Nội, bởi vì bấy giờ Trần Bích San đang lĩnh chức Tuần phủ Hà Nội. Năm 1877 vua Tự Ðức triệu ông về kinh đô Huế để sung chức sứ thần qua nước Pháp, chưa kịp đi thì mất.

    Là tên viết tắt của Kinh thành Thăng Long. Nhà thơ thời Tây Sơn Ngô Ngọc Du, quê ở Hải Dương, từ nhỏ theo ông nội lên Thăng Long mở trường dạy học và làm thuốc. Ngô Ngọc Du là người được chứng kiến trận đại thắng quân Thanh ở Ðống Ða – Ngọc Hồi của vua Quang Trung. Sau chiến thắng xuân Kỷ Dậu (1789), Ngô Ngọc Du có viết bài Long thành quang phục kỷ thực (Ghi chép việc khôi phục Long thành).

    Là tên viết tắt của thành phố Hà Nội được dùng nhiều trong thơ ca để chỉ Hà Nội. Thí dụ như bài Hà Thành chính khí ca của Nguyễn Văn Giai, bài Hà Thành thất thủ, tổng vịnh (khuyết danh), Hà Thành hiểu vọng của Ba Giai?…

    : Ngay sau Cách mạng tháng Tám – 1945, đôi khi trong các báo chí của Việt Nam sử dụng tên này để chỉ Hà Nội.

    Ngoài ra, trong cách nói dân gian, còn nhiều từ được dùng để chỉ Thăng Long – Hà Nội như: Kẻ Chợ (Khéo tay hay nghề đất lề Kẻ Chợ – Khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ), Thượng Kinh, tên này để nói đất kinh đô ở trên mọi nơi khác trong nước, dùng để chỉ kinh đô Thăng Long (Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh). Kinh Kỳ, tên này nói đất có kinh đô đóng (Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến).

    Và đôi khi chỉ dùng một từ kinh như ” ¡n Bắc, mặc Kinh”. Bắc đây chỉ vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh), Kinh chỉ kinh đô Thăng Long.

    Loại tên “không chính quy” của Thăng Long – Hà Nội còn nhiều được sử dụng khá linh hoạt trong văn học, ca dao… kể ra đây không hết được

    Trên đất Thăng Long đã từng toạ lạc một toà Hoàng thành hoa lệ, trải suốt các triều Lý – Trần – Lê và được xây dựng lại thành toà trấn thành thời Nguyễn. Mùa thu năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Ðại La và đổi tên là Thăng Long. Trải qua 8 thế kỷ, toà thành đã trở thành trung tâm chính trị và đô thị phồn thịnh nhất Ðại Việt. Cuối triều Lý, hoàng cung Thăng Long bị đốt cháy. Tới triều Trần, thành Thăng Long được xây dựng lại nhưng rồi lại bị lũ xâm lược Nguyên – Mông dày xéo, tàn phá. Sau khi đánh đuổi giặc Minh năm 1428, Lê Thái Tổ cho xây dựng lại Thăng Long và đổi tên là Ðông Ðô rồi Ðông Kinh… Vậy là, qua bao cuộc chiến tranh và cuối cùng là sự phá hoại của thực dân Pháp, toà thành cổ kính mang tên Thăng Long – Hà Nội gần như mất hết dấu vết, chỉ còn tồn tại trong hoài niệm của bao thế hệ người Hà Nội.

    Năm 1998, Bộ Quốc phòng đã bắt đầu trao lại 3 khu vực Cửa Bắc, Hậu Lâu và Ðoan Môn cho Sở Văn hoá – Thông tin Hà Nội quản lý và tôn tạo nhằm phục vụ kỷ niệm Thăng Long – Hà Nội 990 và 1000 năm. Công tác khai quật khảo cổ học đã được khẩn trương tiến hành tại cả 3 nơi và đã cho nhiều kết quả bất ngờ, trả lời được nhiều vấn đề sau bao năm tranh luận nghiên cứu. Bắc Môn được xác định chính là Cửa Bắc của thành Hà Nội thời Nguyễn. Nơi đây được xem xét từng lớp dấu vết để phá dỡ những gì được vá víu từ thời Pháp thuộc, sửa sang tu bổ lại những gì vốn có của toà thành thời Nguyễn, xây lại vọng lâu trên cửa thành.

    Lầu Tĩnh Bắc (Tĩnh Bắc Lâu) là một toà lầu xây phía sau cụm kiến trúc chính là Hành cung của Thành cổ Hà Nội. Tuy ở sau Hành cung nhưng lại là phía Bắc, xây với ý đồ phong thuỷ giữ yên bình phía Bắc Hành cung nên mới có tên là Tĩnh Bắc Lâu. Nơi đây còn có tên là Hậu Lâu (lầu phía sau), hoặc là Lầu Công chúa, bởi tương truyền xưa kia đây là lầu xây để công chúa ở mỗi khi theo vua đi tuần du. Tại Tĩnh Bắc Lâu, các nhà khảo cổ học đã khai quật một diện tích gần 200m2. Vách hố khai quật cho phép nhìn rõ một dòng nước vốn chảy qua đây, dưới lòng lạch có những hòn tảng kê chân cột, bên bờ có xếp 3 bậc đá mang vết cánh hoa sen. Di vật tìm thấy trong hố khai quật rất nhiều. Có gạch ngói của nhiều đời từ trước thời Lý cho đến thời Lê: Cạnh có chữ, ngói bò hình lá đề, hình rồng phượng, đồ gốm đủ loại, đủ thời…

    Thế là sau gần 2 thế kỷ, nay một phần thành cổ Hà Nội lại được “hồi sinh”, mở cửa đón nhân dân thủ đô và cả nước vào thăm, đưa họ tìm lại về cội nguồn mảnh đất rồng bay qua bóng dáng của kinh thành cổ. Thành cổ là một trong mười công trình đầu tiên gắn biển Công trình trọng điểm kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội

    Thành Ðại La là một kiến trúc vĩ đại, có đầu tiên ở trên đất này. La thành không phải là một tên riêng, chỉ có nghĩa là một bức thành lớn bao quanh một bức thành nhỏ ở bên trong. La thành có từ đời nhà Ðường bên Trung Quốc, những căn cứ của những đất đã chiếm được đều đắp hai lần thành, thành ngoài gọi là La thành.

    Suốt cả thời kỳ Bắc thuộc (111 trước Công lịch đến 939 sau Công lịch), bọn vua quan phong kiến Trung Quốc sang xâm lược nước ta, đều đóng căn cứ địa ở mấy nơi bên tả ngạn sông Hồng, như Liên Lâu (Tiên Du, Bắc Ninh), rồi đến Long Biên (phía Bắc sông Ðuống). Ðến đời Ðường, thường có quân Chà Và ở ngoài bể tràn vào và quân Nam Chiếu ở mạn Vân Nam tràn xuống, kéo đến vây đánh phủ Ðô hộ; hơn nữa nhân dân không chịu nổi sự áp bức bóc lột của bọn xâm lược, cũng thường nổi lên chống đánh. Năm 824, Ðô hộ là Lý Nguyên Gia, tin theo thuyết phong thuỷ, cho rằng trước cửa thành Long Biên có dòng nước chảy ngược, nên nhân dân hay nổi lên “làm phản”. Lý Nguyên Gia bèn rời phủ trị sang địa phận huyện Tống Bình, gần sông Tô Lịch. Lúc đầu chỉ xây một toà thành nhỏ, sau đó nhận thấy nơi ấy có địa thế hiểm yếu, liền lập phủ trị vĩnh viễn ở đó, đắp rộng cao thêm thành, làm cho dân ta hồi đó phải phục dịch rất khổ sở.

    Ðến năm 866, nhà Ðường đổi An Nam đô hộ phủ làm Tĩnh Hải quân, sai Cao Biền sang làm Tiết độ sứ. Cao Biền là một tướng có nhiều tài lược và mưu trí, đã dùng nhiều thủ đoạn để loè nạt dân chúng, như việc phá những thác ngầm ở dọc sông: đêm đến, hắn cho đục đá đặt thuốc nổ, làm nổ tung những thác ấy, rồi nói phao lên là vì trời giúp vua Ðường sai thiên lôi xuống phá thác, làm cho nhân dân sợ hãi. Muốn củng cố thêm căn cứ thống trị, Cao Biền cho đắp lại thành Ðại La, bốn mặt dài hơn 1.982 trượng linh 5 thước, cao 2 trượng linh 6 thước. Muốn ngăn ngừa không cho nước sông Tô, sông Hồng tràn vào phủ trị, Cao Biền lại cho đắp một đường đê bao bọc ở ngoại thành, dài hơn 2.125 trượng linh 8 thước, cao 1 trượng, dày 2 trượng, trong thành cho nhân dân làm nhà ở hơn bốn chục vạn nóc. Ðường đê bao ngoài thành gọi là Ðại La thành, cũng gọi là Ngoại La thành.

    Với Cao Biền, ngày nay ở dân gian ta vẫn còn những truyền thuyết hoang đường, như nói Cao Biền thấy ở đất Giao Châu ta có nhiều kiểu đất đế vương, nên thường cưỡi diều giấy bay đi xem xét, rồi dùng phép thuật phá những nơi có hình thế sơn thuỷ đẹp, và chặn những đất có long mạch bằng cách đào những giếng khơi rất sâu. Vì vậy, ở nông thôn, làng nào có nhiều giếng khơi, người ta vẫn nói đó là giếng do Cao Biền đào ra. Lại như, mỗi khi thấy người nào yếu sức, tay chân cử động run rẩy, thường vẫn nói câu đã gần thành tục ngữ: “Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non”. Người ta giải thích là Cao Biền có phép thuật “tản đậu thành binh” nghĩa là mỗi khi cần có quân lính đi đánh dẹp, không cần mộ người chỉ cần rắc đậu vào một bãi đất, rồi ủ kín, đọc một trăm lần thần chú rồi mở ra, mỗi hạt đậu hoá thành một người lính. Có lần Cao Biền đọc thần chú còn thiếu, khi mở ra những hạt đậu đã thành lính nhưng đều còn non chưa đủ sức, đứng lên không vững. Lại còn chuyện nói Cao Biền đắp La thành, mấy lần bắt đầu đều bị sụt lở; một đêm Biền đứng trên vọng lâu nhìn ra, thấy một vị thần cưỡi ngựa trắng chạy đi, chạy lại như bay, rồi bảo cho Biền cứ theo vết chân ngựa chạy mà đắp thành. Vì vậy, sau khi đắp thành xong, Biền cho lập đền thờ vị thần ấy ở ngay nơi hiển hiện, gọi là đền Bạch Mã. Ðền thờ ngày nay vẫn còn ở phố Hàng Buồm.

    Từ năm 939, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc, nước ta bắt đầu độc lập tự chủ, nhưng đời Ngô Vương Quyền lại đóng đô ở Cổ Loa, hai đời Ðinh, Lê thì đóng đô ở Hoa Lư, thành Ðại La trở nên hoang phế. Mãi đến năm 1010, Lý Thái Tổ mới dời kinh đô đến đó, nhưng lại đắp một thành khác nhỏ hẹp hơn gọi là thành Thăng Long. Nền cũ của thành Ðại La, phần lớn không còn lại dấu vết, chỉ còn nhận thấy những khoảng từ Thanh Nhàn (giáp Thanh Trì) đi lên cửa ô Cầu Dền sang ô Chợ Dưà, rồi thẳng đến ô Cầu Giấy, ngược lên đến làng Bưởi. Năm kia, ta đã cho theo dấu cũ ấy, sửa chữa lại nhiều nơi, đắp cao lên làm thành thân đê, đề phòng nạn lụt. Còn phần đê La Thành về phía sông Hồng, từ đời Lý đã nhập vào với đê Cơ Xá, và từ đời Trần đã nhập vào với đê Quai Vạc, chuyên ngăn nước sông Hồng.

    Ðê Ðại La thành này khi còn độc lực giữ việc chống nước lụt cho nội thành, thường bị sạt lở. Năm 1243, đời vua Thái Tôn nhà Trần, nước sông Hồng lên to quá, phá vỡ một đoạn thân thành, làm cho nội thành bị ngập lụt. Cũng từ đó, các đời vua Trần mới nghĩ đến việc đắp đê quai vạc suốt từ đầu nguồn trở xuống cho đến miền bể, dọc hai bên bờ sông Hồng.

    Bài thơ ” Ðiếu cổ La thành” của nhà thơ Tế Xuyên, đời cuối Lê đã mai mỉa dã tâm xâm lược của Cao Biền, tốn công, nhọc lòng đắp nên thành ấy, kết cục bọn phong kién thống trị Trung Quốc đều phải diệt vong. Sau chiến công trên sông Bạch Ðằng năm 939, nước ta hoàn toàn tự chủ. Bài thơ đại ý như sau:

    “Ðại La thành tốn công xây,

    Cao Biền tưởng chiếm đất này dài lâu.

    Nào ngờ mấy chục năm sau,

    Vùi quân xâm lược dòng sâu Bạch Ðằng”

    (sưu tầm)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Tên Gọi Hà Nội
  • Tên Nguyễn Diễm Quỳnh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lê Diễm Quỳnh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Nguyên Anh Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Nguyễn Thành Vinh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Hà Thảo Tiên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Nguyễn Thảo Tiên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Thảo Ngọc Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Lê Thảo Hiền Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Nguyễn Bích Thảo Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Phạm Bích Thảo Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Gợi ý một số tên gần giống đẹp nhất:

    Luận giải tên Hà Thảo Tiên tốt hay xấu ?

    Thiên Cách là đại diện cho cha mẹ, bề trên, sự nghiệp, danh dự. Nếu không tính sự phối hợp với các cách khác thì còn ám chỉ khí chất của người đó. Ngoài ra, Thiên cách còn đại diện cho vận thời niên thiếu.

    Thiên cách tên của bạn là có tổng số nét là 8 thuộc hành Âm Kim. Thiên cách tên bạn sẽ thuộc vào quẻ BÁN CÁT BÁN HUNG (Quẻ Kiên nghị khắc kỷ): Nhẫn nại khắc kỷ, tiến thủ tu thân thành đại nghiệp, ngoài cương trong cũng cương, sợ rằng đã thực hiện thì không thể dừng lại. Ý chí kiên cường, chỉ e sợ hiểm họa của trời

    Địa cách còn gọi là “Tiền Vận” (trước 30 tuổi) đại diện cho bề dưới, vợ con, và thuộc hạ, người nhỏ hơn mình, nền móng của người mang tên đó. Về mặt thời gian trong cuộc đời, Địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận.

    Địa cách tên bạn là Thảo Tiên có tổng số nét là 9 thuộc hành Dương Thủy. Địa cách theo tên sẽ thuộc quẻ HUNG (Quẻ Bần khổ nghịch ác): Danh lợi đều không, cô độc khốn cùng, bất lợi cho gia vận, bất lợi cho quan hệ quyến thuộc, thậm chí bệnh nạn, kiện tụng, đoản mệnh. Nếu tam tài phối hợp tốt, có thể sinh ra cao tăng, triệu phú hoặc quái kiệt.

    Nhân cách: Còn gọi là “Chủ Vận” là trung tâm của họ và tên, vận mệnh của cả đời người do Nhân Cách chi phối, đại diện cho nhận thức, quan niệm nhân sinh. Giống như mệnh chủ trong mệnh lý, Nhân cách còn là hạt nhân biểu thị cát hung trong tên họ. Nếu đứng đơn độc, Nhân cách còn ám chỉ tính cách của người đó. Trong Tính Danh học, Nhân cách đóng vai trò là chủ vận.

    Nhân cách tên bạn là Hà Thảo có số nét là 11 thuộc hành Dương Mộc. Nhân cách thuộc vào quẻ ĐẠI CÁT (Quẻ Vạn tượng canh tân): Dị quân đột khởi, âm dương điều hòa, tái hưng gia tộc, phồn vinh phú quý, tử tôn đẹp đẽ. Là điềm tốt toàn lực tiến công, phát triển thành công.

    Ngoại cách chỉ thế giới bên ngoài, bạn bè, người ngoài xã hội, những người bằng vai phải lứa, quan hệ xã giao. Vì mức độ quan trọng của quan hệ giao tiếp ngoài xã hội nên Ngoại cách được coi là “Phó vận” nó có thể xem phúc đức dày hay mỏng.

    Ngoại cách tên của bạn là họ Tiên có tổng số nét hán tự là 6 thuộc hành Âm Thổ. Ngoại cách theo tên bạn thuộc quẻ CÁT (Quẻ Phú dụ bình an): Nhân tài đỉnh thịnh, gia vận hưng long, số này quá thịnh, thịnh quá thì sẽ suy, bề ngoài tốt đẹp, trong có ưu hoạn, cần ở yên nghĩ nguy, bình đạm hưởng thụ, vinh hoa nghĩ về lỗi lầm.

    Tổng cách (tên đầy đủ)

    Tổng cách thu nạp ý nghĩa của Thiên cách, Nhân cách, Địa cách nên đại diện tổng hợp chung cả cuộc đời của người đó đồng thời qua đó cũng có thể hiểu được hậu vận tốt xấu của bạn từ trung niên trở về sau.

    Tên đầy đủ (tổng cách) gia chủ là Hà Thảo Tiên có tổng số nét là 16 thuộc hành Dương Mộc. Tổng cách tên đầy đủ làquẻ CÁT (Quẻ Trạch tâm nhân hậu): Là quẻ thủ lĩnh, ba đức tài, thọ, phúc đều đủ, tâm địa nhân hậu, có danh vọng, được quần chúng mến phục, thành tựu đại nghiệp. Hợp dùng cho cả nam nữ.

    Mối quan hệ giữa các cách

    Số lý của nhân cách biểu thị tính cách phẩm chất con người thuộc “Dương Mộc” Quẻ này là quẻ Người này tính tình an tịnh, giàu lý trí , ôn hậu, hoà nhã. Có tinh thần kiên cường bất khuất. Bề ngoài chậm chạp mà bên trong ẩn chứa năng lực hoạt động rất lớn.Sự thành công trong cuộc đời thuộc mô hình tiệm tiến, nhưng vững chắc, lâu bền.

    Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số) Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tai “Âm KimDương Mộc – Dương Thủy” Quẻ này là quẻ : Kim Mộc Thủy.

    Đánh giá tên Hà Thảo Tiên bạn đặt

    Bạn vừa xem xong kết quả đánh giá tên Hà Thảo Tiên. Từ đó bạn biết được tên này tốt hay xấu, có nên đặt hay không. Nếu tên không được đẹp, không mang lại may mắn cho con thì có thể đặt một cái tên khác. Để xem tên khác vui lòng nhập họ, tên ở phần đầu bài viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Con Nguyễn Thảo Tiên Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Lê Vĩnh Thụy Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Trần Vĩnh Thụy Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Vĩnh Thụy Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Đặt Tên Cho Con Thùy Trâm 25/100 Điểm Tạm Được
  • Tên Hà Tiên Hiên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Con Lê Hà Tiên Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Võ Hạ Trâm Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Thái Hà Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lê Thái Hà Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Phạm Thái Hà Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Gợi ý một số tên gần giống đẹp nhất:

    Luận giải tên Hà Tiên Hiên tốt hay xấu ?

    Thiên Cách là đại diện cho cha mẹ, bề trên, sự nghiệp, danh dự. Nếu không tính sự phối hợp với các cách khác thì còn ám chỉ khí chất của người đó. Ngoài ra, Thiên cách còn đại diện cho vận thời niên thiếu.

    Thiên cách tên của bạn là có tổng số nét là 8 thuộc hành Âm Kim. Thiên cách tên bạn sẽ thuộc vào quẻ BÁN CÁT BÁN HUNG (Quẻ Kiên nghị khắc kỷ): Nhẫn nại khắc kỷ, tiến thủ tu thân thành đại nghiệp, ngoài cương trong cũng cương, sợ rằng đã thực hiện thì không thể dừng lại. Ý chí kiên cường, chỉ e sợ hiểm họa của trời

    Địa cách còn gọi là “Tiền Vận” (trước 30 tuổi) đại diện cho bề dưới, vợ con, và thuộc hạ, người nhỏ hơn mình, nền móng của người mang tên đó. Về mặt thời gian trong cuộc đời, Địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận.

    Địa cách tên bạn là Tiên Hiên có tổng số nét là 12 thuộc hành Âm Mộc. Địa cách theo tên sẽ thuộc quẻ HUNG (Quẻ Bạc nhược tỏa chiết): Người ngoài phản bội, người thân ly rời, lục thân duyên bạc, vật nuôi sinh sâu bọ, bất túc bất mãn, một mình tác chiến, trầm luân khổ nạn, vãn niên tối kỵ.

    Nhân cách: Còn gọi là “Chủ Vận” là trung tâm của họ và tên, vận mệnh của cả đời người do Nhân Cách chi phối, đại diện cho nhận thức, quan niệm nhân sinh. Giống như mệnh chủ trong mệnh lý, Nhân cách còn là hạt nhân biểu thị cát hung trong tên họ. Nếu đứng đơn độc, Nhân cách còn ám chỉ tính cách của người đó. Trong Tính Danh học, Nhân cách đóng vai trò là chủ vận.

    Nhân cách tên bạn là Hà Tiên có số nét là 12 thuộc hành Âm Mộc. Nhân cách thuộc vào quẻ HUNG (Quẻ Bạc nhược tỏa chiết): Người ngoài phản bội, người thân ly rời, lục thân duyên bạc, vật nuôi sinh sâu bọ, bất túc bất mãn, một mình tác chiến, trầm luân khổ nạn, vãn niên tối kỵ.

    Ngoại cách chỉ thế giới bên ngoài, bạn bè, người ngoài xã hội, những người bằng vai phải lứa, quan hệ xã giao. Vì mức độ quan trọng của quan hệ giao tiếp ngoài xã hội nên Ngoại cách được coi là “Phó vận” nó có thể xem phúc đức dày hay mỏng.

    Ngoại cách tên của bạn là họ Hiên có tổng số nét hán tự là 8 thuộc hành Âm Kim. Ngoại cách theo tên bạn thuộc quẻ BÁN CÁT BÁN HUNG (Quẻ Kiên nghị khắc kỷ): Nhẫn nại khắc kỷ, tiến thủ tu thân thành đại nghiệp, ngoài cương trong cũng cương, sợ rằng đã thực hiện thì không thể dừng lại. Ý chí kiên cường, chỉ e sợ hiểm họa của trời.

    Tổng cách (tên đầy đủ)

    Tổng cách thu nạp ý nghĩa của Thiên cách, Nhân cách, Địa cách nên đại diện tổng hợp chung cả cuộc đời của người đó đồng thời qua đó cũng có thể hiểu được hậu vận tốt xấu của bạn từ trung niên trở về sau.

    Tên đầy đủ (tổng cách) gia chủ là Hà Tiên Hiên có tổng số nét là 19 thuộc hành Âm Hỏa. Tổng cách tên đầy đủ làquẻ HUNG (Quẻ Tỏa bại bất lợi): Quẻ đoản mệnh, bất lợi cho gia vận, tuy có trí tuệ, nhưng thường hay gặp hiểm nguy, rơi vào bệnh yếu, bị tàn phế, cô độc và đoản mệnh. Số này có thể sinh ra quái kiệt, triệu phú hoặc dị nhân.

    Mối quan hệ giữa các cách

    Số lý của nhân cách biểu thị tính cách phẩm chất con người thuộc “Âm Mộc” Quẻ này là quẻ Tính ẩn nhẫn, trầm lặng, ý chí mạnh, có nghị lực vượt khó khăn gian khổ. Bề ngoài ôn hoà, mà trong nóng nảy, có tính cố chấp, bảo thủ. Tính cao ngạo đa nghi, có lòng đố kỵ ghen ghét lớn.

    Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số) Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tai “Âm KimÂm Mộc – Âm Mộc” Quẻ này là quẻ : Kim Mộc Mộc.

    Đánh giá tên Hà Tiên Hiên bạn đặt

    Bạn vừa xem xong kết quả đánh giá tên Hà Tiên Hiên. Từ đó bạn biết được tên này tốt hay xấu, có nên đặt hay không. Nếu tên không được đẹp, không mang lại may mắn cho con thì có thể đặt một cái tên khác. Để xem tên khác vui lòng nhập họ, tên ở phần đầu bài viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặt Tên Cho Con Trần Phú Hào 70/100 Điểm Tốt
  • Tên Hoàng Phú Hào Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Dương Phú Hào Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Nguyễn Trí Hào Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Hà Nhật Minh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Cội Nguồn Tên Gọi “hà Nội

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Nhân Vật Trong One Piece
  • Phân Tích Ý Nghĩa Nhan Đề Truyện Ngắn “những Ngôi Sao Xa Xôi” Của Lê Minh Khuê
  • Danh Sách Các Hội Và Biểu Tượng Trong Fairy Tail
  • Ý Nghĩa Của Những Cái Tên Trong Dragon Ball (Phần 2)
  • You’re The Apple Of My Eye
  • Trong hội thảo “Hà Nội- Điện Biên Phủ trên không – tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam” do bộ Quốc phòng tổ chức ngày 28/11 vừa qua, chúng tôi may mắn có cơ hội được tiếp xúc với ông Hà Đăng bên lề cuộc hội thảo. Ông Đăng nguyên là người phát ngôn của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Hội nghị 4 bên tại Paris, nguyên UVTƯ Đảng, trưởng ban Tư tưởng Văn hóa TƯ. Khi được hỏi về những ngày tháng lịch sử không thể quên của dân tộc cuối năm 1972, ông Đăng không khỏi xúc động. Qua câu chuyện, tình cờ chúng tôi mới biết thêm những điều mà trước nay, ngay chính cả người Việt cũng vẫn còn ngộ nhận về tên gọi của trận chiến.

    Khẩu đội pháo cao xạ bảo vệ bầu trời Hà Nội.

    “Khi đang tham gia đoàn đàm phán tại Hội nghị Paris những ngày cuối cùng của năm 1972, chúng tôi từng nghe thấy trên báo chí và trong lời nói của bạn bè thế giới cụm từ “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” và “Hà Nội, lương tri và phẩm giá con người”. Chúng tôi rất thích thú, tự hào và còn tưởng rằng các nhà báo nước ngoài đã sáng tạo ra tên gọi đã đi vào lịch sử này. Nhưng sau này tôi mới được biết chính người Việt Nam đã sáng tạo ra tên gọi nổi tiếng khắp năm châu này”, ông Đăng nói.

    Không chỉ ông Hà Đăng, những người đã sống và chiến đấu trực tiếp chỉ huy trong trận chiến 12 ngày đêm liên tục ở Thủ đô như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhạc sĩ Phạm Tuyên, nhà báo Hữu Thọ… cũng không ngờ chính mình lại là những người đầu tiên đã đặt ra một cái tên đi vào lịch sử.

    Chia sẻ câu chuyện thú vị rằng ai là tác giả của tên gọi “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không” đã được nhắc đến trên các sách, báo, các đài phát thanh, đài truyền hình của nhiều nước trên thế giới suốt 40 năm qua, nhạc sĩ Phạm Tuyên, tác giả của ca khúc nổi tiếng viết về trận chiến 12 ngày đêm lịch sử có tên gọi Hà Nội- Điện Biên Phủ kể lại:

    “Tháng 12/1972, Đế quốc Mỹ chủ trương đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá, khởi đầu bằng việc sử dụng một lực lượng không quân dữ dội buộc Hà Nội đầu hàng. 4h sáng ngày 19/12, Đài phát sóng lớn nhất của ta ở Mễ Trì, Hà Nội bị địch đánh sập. Ngày 20/12, địch tiếp tục ném bom Đài phát sóng ở Bạch Mai. Bộ đội phòng không ta đánh trả quyết liệt. Đêm 26/12, bộ đội ta bắn rơi 8 chiếc B52. Trong không khí hồ hởi, ngay sáng hôm sau (27/12), tại phòng Giao ban của Đài Tiếng nói Việt Nam, tổng giám đốc Trần Lâm thông báo: Đêm qua bộ đội ta bắn rơi 8 máy bay B52, riêng Hà Nội đã hạ 5 pháo đài bay. Từ Sở chỉ huy tối cao, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra lời kêu gọi: “Kẻ địch thua đau và nhất định sẽ thất bại hoàn toàn. Nhưng, chúng vẫn ngoan cố kéo dài cuộc tập kích. Các đơn vị hãy bắn rơi nhiều B52 hơn nữa, hãy giáng cho không quân Mỹ một đòn Điện Biên Phủ ngay trên bầu trời Hà Nội, thủ đô thân yêu của chúng ta””.

    Chính lời nói của Đại tướng đã truyền cho nhạc sĩ Phạm Tuyên niềm xúc động sâu sắc. Vậy là ngay đêm hôm đó, trong căn hầm của Đài Tiếng nói Việt Nam giữa lòng thủ đô rực lửa chiến đấu, những nốt nhạc, những lời ca hùng tráng tuôn chảy trên trang giấy dưới ngòi bút của người nhạc sĩ trẻ. Bài hát Hà Nội – Điện Biên Phủ đã ra đời giữa mùi khói bom của trận chiến oanh liệt.

    “Khi nghe chữ Điện Biên Phủ, tôi có cảm giác rất khác và ngay đêm hôm ấy, ngồi trong hầm tôi viết bài Hà Nội – Điện Biên Phủ. Âm điệu trong bài hát không du dương mà quyết liệt bởi tôi muốn tỏ cho đế quốc Mỹ biết Hà Nội quyết liệt như thế nào” – nhạc sĩ Phạm Tuyên xúc động kể lại.

    “Sáng hôm sau, Trần Lâm hỏi tôi sao đêm hôm qua làm gì mà hí hoáy mãi thế, thì tôi có đưa anh xem bài hát tôi vừa viết. Anh bảo: “Bài này quyết liệt đấy. Đúng là Điện Biên Phủ trên không. Anh còn nói phải đưa bài này đến báo Nhân dân để in. Thế là sáng ấy, vừa dứt đợt báo động, đường phố còn vắng teo, tôi đạp xe đến tòa soạn báo Nhân dân ở phố Hàng Trống nhưng lúc đó báo Nhân dân cũng đã đi sơ tán.

    Tôi thấy anh Thép Mới lúc đó là phó tổng biên tập và anh Hữu Thọ đang ngồi dưới gốc cây đa chỗ Hàng Trống, các anh yêu cầu tôi hát cho các anh nghe bài hát đó. Nghe tôi hát xong các anh cùng đồng thanh nói báo Đảng nhất định phải đăng bài hát này. Nhưng bài này tôi viết tay nên các anh động viên tôi nhờ người chép lại cho sạch sẽ để báo lên khuôn, in ngay trong ngày hôm sau, cùng với chuyên mục mới Hà Nội – Điện Biên Phủ. Tôi nhờ người trực cùng hôm đó là anh Phan Nhân, vốn chép nhạc rất đẹp chép lại. Thế là bản nhạc được gửi gấp sang báo Nhân dân và sáng 29/12, tôi rất cảm động khi thấy bản nhạc đã được in trang trọng trên báo, giữa lúc địch còn chưa chấm dứt cuộc leo thang đánh phá”.

    Dẫu bom địch ném vào khu nhà nhạc sĩ ở, chiếc dương cầm của ông bị hỏng, tủ sách ông yêu quý bị cháy nhưng ngay sáng ngày 28/12, trên ghế đá, dưới gốc cây đa ở trụ sở báo Nhân dân phố Hàng Trống, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã hát vang Hà Nội – Điện Biên Phủ cho nhà báo Hữu Thọ và phó tổng biên tập báo Nhân dân lúc bấy giờ là Thép Mới nghe để rồi bài hát được đăng trên báo Nhân dân ngay sáng hôm sau. Cũng chính trong tối ngày 29/12 ấy, mặc cho tiếng còi báo động rền vang, bài hát đã được nhạc sĩ Phạm Tuyên cùng các nhạc sĩ Trần Thụ, Mạnh Hà thể hiện trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam trong chương trình Tiếng hát gửi về Nam. Để rồi những ngày sau đó nó được tung đi muôn phương, đến với bạn bè năm châu, bốn biển.

    Qua lời kể của nhạc sĩ Phạm Tuyên, có thể đi đến một giả thiết, phải chăng chính lời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Hãy giáng cho không quân Mỹ một đòn Điện Biên Phủ ngay trên bầu trời Hà Nội và tên bài hát Hà Nội – Điện Biên Phủ cũng như lời trong bài hát này: “Một Điện Biên Phủ nay vùi mộng xâm lăng, Hà Nội ơi là gợi ý đầu tiên cho sự ra đời của cụm từ đặc biệt Điện Biên Phủ trên không nổi tiếng khắp trong nước và quốc tế suốt 40 năm qua”.

    Nhạc sĩ Phạm Tuyên trò chuyện với PV trong cuộc gặp mặt báo chí cuối tháng 10 tại Hội nhạc sĩ Việt Nam.

    Đi tìm câu trả lời cho câu hỏi cụm từ đặc biệt này xuất hiện lần đầu tiên trên báo nào, đài nào, nhạc sĩ Phạm Tuyên cho biết, các cán bộ của Bảo tàng Quân chủng Phòng không Không quân đã phải lật từng trang báo Nhân dân, Quân đội Nhân dân, Hà Nội Mới phát hành trong những ngày tháng hào hùng cuối năm 1972, đầu năm 1973 ấy để tìm ra đáp số. Chính là báo Nhân dân đã là tờ báo đầu tiên dùng cụm từ này.

    Trong số ra ngày 29/12/1972, bên cạnh bài hát “Hà Nội – Điện Biên Phủ” của nhạc sĩ Phạm Tuyên, ở trang 2 có một dòng chữ “Hà Nội đang thắng một trận Điện Biên Phủ trên không”. Cũng chính từ lần xuất hiện đầu tiên này trên tờ báo Nhân dân, tên gọi đặc biệt, đầy hình ảnh và ý nghĩa này đã lập tức được làng báo trong nước và phương Tây hưởng ứng để từ đó đến nay, 40 năm đã trôi qua nó vẫn được nhắc tới trên các phương tiện truyền thông của nhiều nước trên thế giới như một chiến thắng oanh liệt của nhân dân Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung.

    Câu chuyện thú vị về nguồn gốc của cụm từ đặc biệt này, ông Hà Đăng cũng cho rằng chính báo Nhân dân là tờ báo đầu tiên sử dụng cụm từ trên. Ông Hà Đăng khẳng định: “Thật ra, tại Hà Nội, ngay dưới căn hầm trú ẩn của báo Nhân dân tại số 71 Hàng Trống, phó tổng Biên tập Thép Mới đã sáng tạo ra cụm từ này. Ông Hà Đăng cho biết, điều này đã được khẳng định trong Hồi ký của Thép Mới: “Đặc biệt sau đêm chiến thắng rực rỡ 26/12/1972, báo ra sáng 28/12, chúng ta ra lời kêu gọi bạn đọc viết cho mục Hà Nội – Điện Biên Phủ, sáng tạo ra thành ngữ Điện Biên Phủ trên không”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Của Tên Gọi “điện Biên Phủ Trên Không”
  • Âm Dương Sư: Những Nhân Vật Nào Trong Inuyasha Mà Netease Có Thể Sẽ Bổ Sung Vào ?
  • Ý Nghĩa Và Giá Trị Truyện Ngắn Ông Già Và Biển Cả Của Hê
  • Phân Tích Tác Phẩm “ông Già Và Biển Cả” Của Nhà Văn Hemingway
  • Lời Dịch Bài Hát My Heart Will Go On
  • Vì Sao Gọi Là Chiến Thắng “Hà Nội

    --- Bài mới hơn ---

  • Lịch Sử & Ý Nghĩa Ngày Thành Lập Quân Đội Nhân Việt Nam 22
  • Trang Tin Thư Viện Tỉnh Đồng Tháp
  • Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh: Nơi Thế Giới Trẻ Con Luôn Phức Tạp
  • Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh Review ✅
  • Tôi Thấy Hoa Vàng Trên Cỏ Xanh – Nguyễn Nhật Ánh
  • (Ảnh tư liệu tại Bảo tàng Phòng không Không quân).

    Năm 1954, với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ đã làm sụp đổ chế độ thực dân kiểu cũ, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào đàm phán với Việt Nam, ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (tháng 7/1954), chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam và rút hết quân đội về nước.

    Còn chiến thắng 12 ngày đêm cuối năm 1972 đã khởi nguồn cho sự sụp đổ chế độ thực dân kiểu mới, buộc đế quốc Mỹ phải ngồi lại đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri và ký “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” (ngày 27/1/1973).

    Hai sự kiện giống nhau về tầm vóc và ý nghĩa, đều giành thắng lợi và buộc kẻ thù phải ngồi đàm phán, ký kết hiệp định công nhận độc lập chủ quyền của dân tộc ta; đều là đỉnh cao của khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

    Chiến thắng 12 ngày đêm cuối năm 1972 của quân dân miền Bắc và Thủ đô Hà Nội có giá trị lịch sử, ý nghĩa sâu sắc trên nhiều lĩnh vực quân sự, chính trị, ngoại giao,… như trận toàn thắng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 đã “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” nên gọi đó là chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không”.

    B.T

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ông Già Và Biển Cả – Tác Phẩm Tiêu Biểu Của Nguyên Lý Tảng Băng Trôi
  • Một Kiệt Tác Văn Học Của Thế Giới
  • Nội Dung, Ý Nghĩa Nhan Đề Truyện Ông Già Và Biển Cả Lớp 12
  • Lời Bài Hát Ý Nghĩa – My Heart Will Go On
  • Lịch Sử Tên Gọi Các Hãng Thời Trang Nổi Tiếng
  • Hà Tiên Và Sự Hình Thành Nước Việt Nam Hiện Đại

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Thú Vị Về Tên Gọi Của Đà Nẵng
  • Nguồn Gốc Điền Danh Tên Gọi Đà Nẵng
  • Cây Giáng Hương – Cây Công Trình Tuyệt Vời Trong Thành Phố
  • Hương Tràm Chia Sẻ Ý Nghĩa Đặc Biệt Của Tên Mình, Nhân Dịp Sinh Nhật Tại Mỹ
  • Ý Nghĩa Hoa Mẫu Đơn
  • Khoa học và Công nghệ

    -

    Vũ Đức Liêm

    Hà Tiên ngày nay là thị xã vùng biên nhỏ nhắn, bình yên, thơ mộng nép mình bên bờ vịnh Thailand. Hà Tiên của hai trăm năm trước là một trong những trung tâm kinh tế sôi động nhất ở Đông Nam Á, nơi diễn ra các tranh chấp chính trị và quân sự không ngừng giữa người Việt, người Thái, người Khmer và các cộng đồng người Hoa. Lịch sử của vùng đất này là minh chứng sống động cho sự đa dạng trong thống nhất của quá trình hình thành nên lãnh thổ và dân tộc Việt Nam.

    Một phần biển Mũi Nai, Hà Tiên, Kiên Giang ngày nay.

    Vùng đất này nằm giữa các diễn ngôn lịch sử rất khác biệt, nhiều khi bị trùm phủ dưới các huyền thoại tạo ra bởi chủ nghĩa dân tộc. Bài viết này chỉ ra những nhân tố cốt lõi làm nên sự thịnh vượng của Hà Tiên và tìm kiếm sự gắn kết của nó đối với lịch sử Việt Nam, như một phần của công cuộc định hình nên không gian của nước Việt Nam hiện đại.

    Tại sao việc khôi phục quá khứ huy hoàng của vùng đất này là vấn đề quan trọng? Vì nó góp phần làm sáng rõ nhiều vấn đề nhận thức về quá trình hình thành lãnh thổ, biên giới và các đơn vị hành chính của Việt Nam. Đặc biệt đây là khu vực có vị trí chiến lược về an ninh-quốc phòng và tiềm năng kinh tế trong tương lai, gắn liền với Phú Quốc và hành lang phát triển kinh tế dọc theo bờ vịnh Thailand. Lịch sử truyền thống Việt Nam ít chú ý đến tính đa dạng địa phương và quá trình sáp nhập lãnh thổ. Điều này không những không giúp độc giả hiểu được công lao khai phá, quá trình khai thác lãnh thổ, mở rộng đất đai, sáp nhập đất đai của thế hệ đi trước, mà còn gây trở ngại cho sự mở rộng tri thức về quá trình phát triển lãnh thổ Việt Nam và những cách thức đa dạng để trở thành Việt Nam. Đó là cách chúng ta tôn trọng sự thống nhất trong đa dạng, và trân trọng công lao của tiền nhân, dù là họ Mạc Hà Tiên, các di dân Hoa kiều, cộng đồng người Khmer trên lãnh thổ Việt Nam hay chúa Nguyễn, và vương triều Nguyễn. Nhận thức lịch sử đa chiều cũng là cách củng cố lập luận về quá trình xác lập chủ quyền, lãnh thổ của Việt Nam đối với vùng đất này. Những diễn biến phức tạp và sự năng động của Hà Tiên cho thấy lịch sử không đơn thuần như mô tả của người Campuchia rằng khu vực này vốn là “lãnh thổ”của họ.

    Cốt lõi của vấn đề ở chỗ Hà Tiên là vùng đất có lịch sử đa dạng, nằm giữa các dự án chính trị, tranh chấp quyền lực và lãnh thổ ở Đông Nam Á lục địa thời sơ kỳ hiện đại, gắn kết nhiều nhóm cư dân khác nhau. Liên hệ chính trị, lãnh thổ của nó với người Việt-Khmer-Thái là phức tạp. Điều quan trọng là Hà Tiên không chỉ hành động với tư cách là một chư hầu lệ thuộc mà tính năng động và tự chủ của nó giúp định hình khuynh hướng chính trị-lãnh thổ mà nó gia nhập. Sự sáp nhập của Hà Tiên vào lãnh thổ Việt Nam vì thế không chỉ đơn thuần là sự mở rộng không gian của người Việt mà còn là sự chủ động gia nhập của Hà Tiên vào không gian chính trị này. Sự lựa chọn này giúp định hình một con đường để trở thành Việt Nam hiện đại: con đường của Hà Tiên.

    Hà Tiên ở thế kỷ XVIII. Nguồn: Nicholas Sellers, The Princes of Hà Tiên, 1682-1867. Brussels: Thanhlong, 1983.

    Các huyền thoại về vùng đất Hà Tiên

    Trong khi các sách lịch sử của Việt Nam thường bắt đầu bằng sự kiện năm 1708 khi Mạc Cửu phái người đến Phú Xuân (Huế) xin được bổ nhiệm cai quản Hà Tiên, và sau đó được chúa Nguyễn phong chức Tổng binh (theo Đại Nam Thực Lục). Sự kiện được cho là đánh dấu vùng đất này trở thành một phần của lãnh thổ Đàng Trong. Lịch sử Campuchia mô tả một diễn trình hoàn toàn khác. Một thương nhân người Quảng Đông rời Trung Hoa năm 1671 đi qua Phillipines và Java. Cuối cùng ông ta đến triều đình Chân Lạp ở Udong và giành được sự tin tưởng của nhà vua Chey Chettha IV (Ang Sor). Sự ghen tị của các quan chức cấp cao người Khmer cuối cùng buộc ông phải xin nhà vua cho ra cai quản vùng đất Banday Mas. Nhà vua Khmer sau đó chấp thuận và ban cho ông danh hiệu Okya (Trần 1979:1537).

    Một phần phiên bản của câu chuyện này được kể lại bởi Vũ Thế Dinh, một gia thần của dòng họ Mạc viết năm 1818 trong Hà Tiên trấn Hiệp trấn Mạc thị gia phả (Gia phả dòng họ Mạc của quan Hiệp trấn Hà Tiên). Tuy nhiên nó cũng cung cấp thêm nhiều góc nhìn thú vị về cách thức dòng họ này xây dựng một chính thể tự trị đứng giữa các nhà nước của người Việt, người Khmer và người Thái. Diễn ngôn lịch sử này chú ý nhiều hơn đến tính năng động của họ Mạc và sự chủ động lựa chọn của họ trong mối liên minh/ phiên thuộc với người Việt. Dù được phong Okya, danh hiệu dành cho quan chức cao cấp Khmer (David Chandler 2000: 108-111), Mạc Cửu thấy rõ địa vị bấp bênh của mình trong một vương triều xa lạ. Khi dừng chân ở vùng đất Banday Mas, ông nhận thấy nơi đây là một cảng thị tấp nập với thương nhân người Hoa, Việt, Khmer, Malay tụ hội, nên tìm cách để được sự cho phép của vua Chân Lạp mở các sòng bạc nhằm thu thuế. Như nhận định của sử gia Li Tana, đây chính là các sòng bạc đầu tiên ở Đông Nam Á được mở bởi thương nhân Hoa kiều. Chính sự thịnh vượng này cho phép họ Mạc dần kiểm soát khu vực duyên hải và cảng biển Hà Tiên để xây dựng một trung tâm kinh tế-chính trị riêng (Li Tana 2004:806). Cũng vì nhận thấy sự đe dọa của Chân Lạp ở phía Bắc và Siam ở phía Tây mà Mạc Cửu lại tìm cách tìm đến Phú Xuân.

    Những người phương Tây cũng có một phiên bản cho riêng mình về câu chuyện Hà Tiên, vương quốc có tên gọi Ponthaimas. Alexander Hamilton đến vùng đất này năm 1718, gọi đây là cảng thứ hai của Campuchia. Thương nhân người Pháp Pierre Poirve mô tả đó là vương quốc được tạo ra bởi một thương nhân người Hoa, nhưng nằm dưới sự ảnh hưởng của Siam. Trong tham luận năm 1768 trình bày trước Viện Hàn Lâm Lyon, ông mô tả họ Mạc như những thương nhân khôn khéo, chăm chỉ, biết cách khai phá vùng đất trù phú để trở nên thịnh vượng, lại biết sử dụng chính sách ngoại giao khéo léo để được các nước láng giềng hùng mạnh che chở. Hà Tiên vì thế không chỉ là một cảng thị thương mại sầm uất mà còn là “kho lúa dồi dào nhất của phần đất miền Đông châu Á”, nơi người Malay, Nam Hà (Đàng Trong), Siam đều trông vào để bảo đảm cho những nạn đói.

    Hà Tiên cũng xuất hiện trong mô tả của người Trung Quốc. Một quan chức nhà Thanh đã ghé qua đây những năm 1740, và ghi chép về vương quốc có tên Cảng Khẩu/ Cảng Khẩu Quốc, nằm dưới sự ảnh hưởng của An Nam (Đàng Trong) và Siam. Tuy vùng đất được xây dựng bởi những cư dân rời bỏ Trung Hoa vào cuối Minh-đầu Thanh, quan chức nhà Thanh ngạc nhiên về sự thịnh vượng, thấm nhuần văn hóa Hán của họ, những người thậm chí còn xây cả Văn Miếu (Hoàng triều Văn hiến thông khảo, 1747). Chính vì điều này mà Hà Tiên cũng được biết đến ở Đàng Ngoài của chính quyền Lê-Trịnh. Lê Quý Đôn dành mối quan tâm đặc biệt đối với những thành tựu văn hóa của vùng đất này, đặc biệt là ngợi ca “Không thể bảo ở hải ngoại xa xôi không có văn chương”.

    Lời tựa của văn bản Hà Tiên Thập Vịnh. Nguồn: EFEO Microfilm, A.441.

    Bản thân Hà Tiên cũng tạo ra các huyền thoại cho riêng mình. Các huyền thoại sẽ giúp vùng đất này trở nên hấp dẫn, có khả năng thu hút di dân, thương nhân, tìm kiếm tính chính thống cho sự cai trị của dòng họ, và tìm kiếm các mối quan hệ quốc tế. Từ chuyện các nàng tiên xuất hiện trên sông Giang Thành, đào được hũ bạc, đến bức tượng Phật và ánh sáng huyền bí ở Lũng Kỳ báo hiệu sự ra đời của Mạc Thiên Tứ. Tất cả tạo nên diễn ngôn chính trị, tôn giáo, và dung hợp xã hội mà họ Mạc muốn gửi bức thông điệp đến các nhóm cư dân ven vùng vịnh. Trong một bức thư năm 1742 viết bằng chữ Khmer gửi đến chính quyền Mạc Phủ Tokugawa, Mạc Thiên Tứ tự xưng mình là Neak Somdec Preah Sotoat và tự phong danh hiệu “vua của Campuchia”.  

    Trong lúc các huyền thoại này có cốt lõi của các diễn ngôn lịch sử gắn Hà Tiên với dòng di cư của người Hoa vào cuối thời Minh đầu thời Thanh xuống Đông Nam Á. Họ can dự vào một loạt các sự kiện kinh tế, chính trị, và quân sự khắp khu vực, từ chiến tranh ở Thailand, xung đột ở đảo Java, Manila, cho đến việc điều hành các khu khai mỏ thiếc dọc theo bán đảo Malay và quần đảo Indonesia làm xáo trộn bức tranh chính trị Đông Nam Á, và khỏa lấp những khoảng trống vắng nhà nước tập quyền ở khu vực. Để rồi sau đó, đến lượt các vùng đất này trở thành nơi tranh chấp của những vương quốc tập quyền khu vực.

    Khung cảnh cho sự thịnh vượng của Hà Tiên

    Sự thịnh vượng của Hà Tiên đến từ nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm vị trí địa lý, khung cảnh thương mại khu vực và toàn cầu, và sự gia tăng tương tác quân sự dọc theo hạ lưu Mekong. Vùng đất này nằm giữa tuyến giao lưu của các luồng thương mại, các nguồn hàng, các dự án chính trị, di dân, và các nền văn hóa từ các vùng núi của Lào và Campuchia xuống, người Malay từ bán đảo Malay-quần đảo Indonesia, người Thái từ phía Tây, và các nhóm người Hoa xung quanh vùng vịnh, và nam tiến của người Việt. Hà Tiên nằm ngay trên đầu mối của một trong những tuyến thương mại cổ xưa nhất ở Đông Nam Á, kết nối Ấn Độ Dương với biển Đông qua eo Kra từ các thế kỷ gần CN. Óc Eo, cảng thị quan trọng nhất của vương quốc cổ Phù Nam cũng năm trên trục giao thương này.

    Sự phát triển của Hà Tiên diễn ra trong một khung cảnh quan trọng của lịch sử hạ lưu sông Mekong vào thời sơ kỳ hiện đại. Sự mở rộng của các dự án nhà nước tập quyền của người Việt, Khmer, và Thái đến vùng đông nam của bán đảo Đông Dương. Các sử gia về Đông Nam Á gọi đây là những vùng đất tự trị cuối cùng ở châu Á trước khi chúng bị sáp nhập thành lãnh thổ của các nhà nước tập quyền (“the Last Stand of Asian Autonomies”: Anthony Reid 1997). Các học giả khác thì gọi vùng đất này là “đường biên nước” (water frontier), nơi chứng kiến khoảng trống quyền lực nhà nước cuối cùng ở Đông Nam Á với sự dịch chuyển tự do của dòng di cư, thương mại, và xung đột chính trị (Li Tana-Nola Cooke 2004).  

    Khung cảnh thương mại khu vực trở thành môi trường nuôi dưỡng cho sự thịnh vượng của Hà Tiên, trong một thế kỷ huy hoàng và cực kỳ sôi động trên vùng vịnh Thailand. Trước hết là sự mở rộng của người Thái xuống phía nam, tiến ra biển và bắt đầu nhòm ngó vùng duyên hải từ Chanthaburi, Trat đến Hà Tiên, nơi tập trung các trung tâm sản xuất gỗ, lúa gạo, hải sản, đóng thuyền, lâm sản như đậu khấu, da hươu, gỗ đàn hương, ngà voi… Khi Ayutthaya bị người Miến đốt cháy vào năm 1767, người Thái đã từ bỏ kinh đô phía Bắc và bắt đầu chuyển xuống Thonburi-Bangkok, chỉ cách vùng vịnh Thailand chưa đầy 20 km. Cùng lúc đó, người Malay bắt đầu gia tăng các hoạt động thương mại lên phía Bắc của vùng vịnh, dùng thiếc và vũ khí phương Tây đổi lấy gạo.

    Bảng 1. Nhập khẩu thiếc của Quảng Châu từ Đông Nam Á, 1758-1774. Đơn vị: piculs: 60.479 kg. Nguồn: Li Tana và Paul A. Van Dyke 2007.

     Phần mô tả về Hà Tiên trong bản đồ Châu Á của Pierre M. Lapie. Nguồn: Atlas Universel De Geographie Ancienne Et Moderne, Paris : Eymery Fruger et Cie, [1833].

    Nguồn thiếc này, theo gợi ý của sử gia Barbara W. Andaya (ĐH Hawaii) trong công trình nghiên cứu về lịch sử đảo Sumatra thế kỷ XVIII, là đến từ Palembang và Bangka – các trung tâm sản xuất thiếc lớn nhất ở Đông Nam Á sơ kỳ hiện đại (Andaya 1993, Reid 2004). Không chỉ là điểm trung chuyển như ghi chép của các thuyền Hà Lan thường xuyên ghé qua Hà Tiên, lấy hạt tiêu đổi muối và gạo, Hà Tiên còn là đầu mối thông thương của hạ lưu Mekong ở thế kỷ XVIII. Không chỉ kết nối với vùng núi Đậu Khấu, cao nguyên ở Lào và Cambodia, mà còn hệ thống thương mại dọc theo các kênh rạch và vùng ngập nước bờ Tây sông Hậu. Giáo sĩ người Pháp Levavasseur đã đi qua các vùng ngập lụt này và thông báo rằng ông ta đã thấy hơn 50 thuyền mành đang trao đổi hàng hóa.

    Sức mạnh của một trung tâm giao thương không chỉ cho phép vùng đất này có khả năng đúc tiền riêng, mà còn được biết đến như một huyền thoại về sự thịnh vượng xung quanh biển Đông và vịnh Thailand. Một chỉ dấu chính là việc vùng đất này được biết đến bởi nhiều nhóm người với nhiều tên gọi. Đại Nam Nhất Thống chí gọi vùng đất này là Mang Khảm, Trúc Phiên Thành, Đồng trụ trấn. Người Hoa gọi vùng này là Phương Thành, Cảng Khẩu, Cảng Khẩu Quốc. Tên này có lẽ được phiên lại trong các ghi chép Phương Tây là Cancao, trong khi tên gọi khác là Ponthaimas có lẽ đến từ tiếng Khmer và Thái. Người Khmer gọi vùng đất này là Peam hay Bantay Mas  (Bức tường vàng), người Malay gọi là Pantai Mas (Bờ biển Vàng) hay Kuala (Cửa sông), người Thái gọi là Ponthaimas, Phutthaimas hay Ban-Thaay-Mas (Cánh cổng vàng).

    Giai đoạn phát triển đỉnh cao của Hà Tiên là giữa những năm 1740 và 1760 sau cuộc đàn áp người Hoa ở Java và tàn phá Ayutthaya của người Miến. Trong các thập kỷ này, Hà Tiên trở thành cảng quan trọng nhất trong vùng vịnh Thailand giao thương với Trung Quốc. Hàng hóa như thiếc, đồng, gạo, hạt tiêu, muối, và sản phẩm rừng là nguồn cung cấp quan trọng cho Quảng Châu.

    Sự gắn kết của Hà Tiên vào Việt Nam

    Hà Tiên sớm can dự, thậm chí là trở thành tâm điểm của các cuộc chiến tranh này và gia nhập vào không gian “Việt Nam”. Không chỉ chấp nhận danh hiệu Tổng Binh năm 1708 và Tổng Binh năm 1735, họ Mạc đã trở thành một đồng minh/ chư hầu quan trọng của Đàng Trong trong cuộc tranh chấp quyền lực khu vực. Thực tế là họ Mạc cần chúa Nguyễn để chống lại các cuộc xâm lược thường xuyên của người Thái và Khmer bởi vị thế cực kỳ dễ bị tập kích của Hà Tiên. Người Việt cũng cần kiểm soát vùng đất này như cửa ngõ bảo vệ cho dự án lãnh thổ ở hạ lưu Mekong của mình. Sự gia nhập của Hà Tiên vào Việt Nam vì thế là một quá trình tự nhiên.

    Họ Mạc đã tìm cách gắn kết với người Việt bằng nhiều cách thức khác nhau. Mạc Cửu kết hôn với người vợ Việt ở Biên Hòa là Bùi Thị Lẫm, trong khi em gái ông kết hôn với Trần Đại Định (con trai của Trần Thượng Xuyên ở Đồng Nai). Hà Tiên còn tìm kiếm sự kết nối với không gian Việt Nam thông qua góc độ văn hóa, tôn giáo. Sử gia người Singapore, Claudine Ang trong luận án về các dự án văn minh và nhà nước ở vùng biên của Việt Nam (Cornell University 2012) đã làm nổi  bật vai trò của những nhân vật như Nguyễn Cư Trinh, Mạc Thiên Tứ trong việc định hình nên cấu trúc mở rộng của lịch sử Đàng Trong. Đó cũng chính là đóng góp của họ đối với lịch sử hình thành nên hình thể Việt Nam hiện đại. Cũng chính từ những vùng đất trù phú như Hà Tiên, Phú Quốc, Gia Định… mà vương triều Nguyễn được thiết lập năm 1802, triều đại đầu tiên thống nhất lãnh thổ Việt Nam như chúng ta được thừa hưởng ngày nay.

    Vai trò của vùng đất này trong việc định hình nên cấu trúc lịch sử Việt Nam sẽ còn tiếp tục ở thế kỷ XIX. Thời kỳ Minh Mệnh, cùng với dự án chính trị thống nhất lãnh thổ là việc xóa bỏ chế độ thế tập cai trị tại các vùng biên và vùng núi sẽ lần đầu tiên biến vùng đất này thành đơn vị hành chính trực thuộc Huế. Trong khi các thủ lĩnh miền núi được thay thế bằng các quan lại miền xuôi do Huế cắt cử thì ở Hà Tiên, xóa bỏ chế độ thế tập của dòng họ Mạc. Từ đây tỉnh Hà Tiên ra đời, nơi ghi dấu ấn các chiến dịch quân sự trên kênh Vĩnh Tế ngăn chặn cuộc xâm lược của Bangkok, và là trung tâm của hệ thống phòng thủ quân sự vùng biên của Việt Nam cả trên bộ lẫn trong vùng Vịnh.

    Bản đồ tỉnh Hà Tiên thời Nguyễn. Các yếu tố thể hiện trên bản đồ bao gồm: trụ sở hành chính trong ô vuông: Tỉnh Hà Tiên và Phủ An Biên. Phía bắc tỉnh Hà Tiên giáp gianh địa giới tỉnh An Giang, phía tây giáp Cao Miên và phía nam là đảo Phú Quốc. Nguồn: Đại Nam Nhất Thống Dư Đồ, EFEO Microfilm, A.1600.

    Cuối cùng, Hà Tiên là mảnh ghép sống động và không thể tách rời trong bức tranh toàn cảnh về sự ra đời của lãnh thổ hình chữ S của nước Việt Nam hiện đại. Lịch sử vốn phức tạp với nhiều tầng bậc và các mối quan hệ đan xen. Hà Tiên là ví dụ đặc sắc cho một thực thể lịch sử như thế. Nổi lên giữa các luồng văn hóa, dòng di cư, thương mại, và xung đột khu vực; để tìm kiếm một phương thức tồn tại, Hà Tiên đã tìm kiếm sự gắn kết vào không gian lịch sử Việt Nam một cách chủ động. Sự tham gia của vùng đất này rõ ràng đã làm gia tăng sự đa dạng của cấu trúc không gian và các diễn trình lãnh thổ của dân tộc Việt Nam. Cuối cùng thì chúng ta tự hào rằng có nhiều cách thức khác nhau để trở thành Việt Nam hiện đại, và trong sự thống nhất, đa dạng đó, Hà Tiên góp phần tạo dựng nên diện mạo của lãnh thổ Việt Nam. Hà Tiên không chỉ là chặng cuối của quá trình Nam tiến, mà còn là cửa ngõ của Việt Nam mở ra vùng vịnh Thailand và phía Tây.

    ——–

    Tham khảo

    David Chandler. A History of Cambodia. Silkworm Books: Chiang Mai, 2000.

    Li Tana. Mạc Thiên Thứ (1700–1780): “King of Cambodia”, Southeast Asia: A Historical Encyclopedia, from Angkor Wat to East Timor, edited Ooi Keat Gin. ABC Clio, 2004.

    Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam Thực Lục. Nxb Giáo Dục: HN, 2010.

    Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam Liệt Truyện. Nxb Thuận Hóa: Huế 2005.

    Sakurai,Yumio, and Takako, Kitagawa. “Ha Tien, or Banteay Meas in the Time of the Fall of Ayutthaya.” Pp. 150–220 in From Japan to Arabia:Ayutthaya’s Maritime Relations with Asia. Edited by Kennon Breazeale. Bangkok: Foundation for the Promotion of Social Sciences and Humanities Textbooks Project. 1999.

    Sellers, Nicholas. The Princes of Hà-Tiên (1682–1867). Brussels: Éditions Thanh Long, 1983.

    Trần Kinh Hòa..“Mac Thien Tu and Phrayatakin, a Survey on Their Politics Stand, Conflicts and Background.” Pp. 1534–1575 in VII IAHA Conference Proceedings, vol. 2. Bangkok: Chulalongkorn University Press, 1979.

    Trịnh Hoài Đức. Gia Định thành thông chí. Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa: Sài Gòn, 1972

    Trương Minh Đạt. Nghiên cứu Hà Tiên. Nxb Trẻ: TP HCM, 2008

    Vũ Thế Dinh. Hà Tiên trấn hiệp trấn Mạc thị gia phả. Nguyễn Văn Nguyên dịch, Nxb Thế Giới, Hà Nội: 2006.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xứ Sở Dừa Việt Nam: Lý Do Tại Sao Gọi Là Bến Tre Mà Không Gọi Là Bến Dừa
  • Kỷ Niệm 1050 Năm Nhà Nước Đại Cồ Việt – Nhà Nước Của Ý Chí Độc Lập, Tự Chủ Và Khát Vọng Hòa Bình Của Dân Tộc
  • Ý Nghĩa Sự Ra Đời, Vị Trí Và Vai Trò Của Nhà Nước Đại Cồ Việt (Thời Đinh) Trong Tiến Trình Lịch Sử Dân Tộc
  • Sự Tích Tết Nguyên Tiêu – Rằm Tháng Giêng
  • Loài Hoa Của Tình Yêu Chung Thủy, Lâu Bền
  • Tại Sao Gọi Người Hà Nội Là Người Tràng An?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thảo Mai Nghĩa Là Gì?
  • Thảo Mai Là Gì? Người Như Thế Nào Được Coi Là Thảo Mai – Biabop.com
  • Phân Biệt Tên Thương Mại Và Nhãn Hiệu
  • Minh Khôi Là Gì? Ý Nghĩa Tên Minh Khôi Như Thế Nào?
  • Sự Thú Vị Của Tên Minh Khôi.
  • Câu ca dao cổ tự ngàn xưa gợi nhắc cho ta về nét đẹp người Hà Thành, nhưng ý nghĩa của nó chưa mấy ai đã hiểu rõ. Tại sao lại là “Tràng An”? Trong lịch sử, Hà Nội chưa bao giờ được gọi là Tràng An cả, mặc dù đã từng qua rất nhiều lần thay đổi tên gọi như: Thăng Long, Đại La, Đông Đô… hay nôm na là Kẻ Chợ. Tuy nhiên, trong câu ca trên thì Tràng An đích thị là chỉ Hà Nội – Thủ đô ngàn năm văn hiến của người Việt – chứ không chỉ bất cứ một nơi nào khác. “Tràng An” là một mĩ từ có nguồn gốc xuất phát từ Trung Quốc. Đây vốn là kinh đô của Trung Hoa thời Đường, kéo dài suốt bốn thế kỷ (năm 608 – 907), cũng là bốn thế kỷ thịnh vượng, mang dấu ấn văn hóa Hán nhất. Người Trung Hoa sau này ấn tượng về sự phồn thịnh của kinh đô ấy tới mức đã cấp cho địa danh này một nghĩa mới: Cứ nói đến “Tràng An” tức là nói tới kinh đô. Hơn nữa, với nghĩa danh từ “Tràng An” là một cụm từ ghép cố định, chỉ một địa danh. Còn với nghĩa tính từ thì “Tràng An” còn chỉ sự lâu bền, bình yên, an lành. Như thế, đây là một cách sử dụng điển tích thể hiện niềm tự hào hoài cổ, nhưng ngày nay chúng ta đã Việt hóa làm cho ý nghĩa của hai chữ “Tràng An” trở nên sâu xa hơn (đất Tràng An, phong tục Tràng An…). Câu ca dao trên được xây dựng trên cấu trúc song hành: “Chẳng… cũng thể…”, đặt “người Tràng An” bên cạnh “hoa nhài”, “thơm” sánh với “thanh lịch”. Đây quả là một sự liên tưởng độc đáo! “Nhài” là một loại cây nhỡ, lá hình bầu dục, hoa trắng mọc thành cụm, nở về đêm, có mùi thơm dịu nhẹ, thoang thoảng và quyến rũ. Có lẽ, chính từ phẩm chất này mà dân gian đã chuyển sang để so sánh với nét đẹp của người Hà Nội. “Thanh lịch”, thanh nhã và lịch sự, là một phẩm chất đáng quý. Người thanh lịch không chỉ có cử chỉ tao nhã, lịch sự mà phải là một người có hiểu biết sâu sắc, có cách ứng xử đúng mực, duyên dáng, đáng yêu, tức là người đó phải hội đủ các yếu tố về nội dung và hình thức. Tóm lại, câu ca dao muốn ngợi ca sự thanh lịch của người Tràng An, ắt là điều tất yếu không thể phủ nhận được giống như hương thơm của hoa nhài vậy.

    Tuy nhiên, “người Tràng An” là bao gồm những ai và tại sao người Hà Nội – Tràng An lại được đề cao đến vậy? Thật khó mà xác định được điểm mốc nào để gọi là người Hà Nội gốc. Sinh ra ở Hà Nội, hay trưởng thành ở Hà Nội, hay có ông bà cha mẹ ở Hà Nội Người Hà Nội là những người đã sống ở đây từ trước năm 1945 hay trước 1954, 1975? Theo tôi, điều đó không quan trọng. Tất cả những người đang sống và làm việc trên đất Hà Nội, đang cống hiến cho Hà Nội, và kể cả những người đang yêu thương Hà Nội dù chỉ là trong suy tưởng đều có thể coi là “người Hà Nội”. Chúng ta không thể phủ nhận sự thanh lịch của Hà Nội, bởi đó là thực tế. Tính cách thanh lịch đó thể hiện ở cách ứng xử văn hóa mà cụ thể là trong cách nói năng, ăn mặc, giao tiếp… Tiếng nói Hà Nội phát âm đúng, từ ngữ chuẩn xác, có thể làm mẫu mực cho cả nước. Người Hà Nội biết tiếp thu có sàng lọc tiếng nói của mọi miền đất nước, giữ lại những gì tinh túy nhất nên lời nói lưu loát, nhã nhặn lại ý nhị, tôn trọng người đối thoại. Mặt khác, người Hà Nội rất sành ăn uống, họ đã nâng việc nấu ăn lên thành nghệ thuật ẩm thực. Món ăn Hà Nội ngon từ cách chế biến, từ chút gia vị, nước chấm cho đến cách bày biện đẹp mắt, gợi cảm mà không phàm tục, và khi ăn cảm thấy thích thú. Chẳng thế mà bao nhà văn tên tuổi đã dành cả cuốn sách để viết về đề tài này như Thạch Lam với “Quà Hà Nội” hay Vũ Bằng với “Miếng ngon Hà Nội”. Trong trang phục, người Hà Nội ưa sự gọn gàng, tề chỉnh, trang nhã. Đẹp nhưng kín đáo, không hề cầu kỳ lòe loẹt, phô trương lố lăng, họ đã tôn vinh phong cách dân tộc trong trang phục. Đã có không ít người nước ngoài ấn tượng đến sững sờ trước một tà áo dài Hà Nội duyên dáng như mây thu mơ hồ, mặc dù phụ nữ nước họ cũng có những bộ váy dân tộc rực rỡ với nhiều vẻ đẹp. Tính thanh lịch ấy còn được thể hiện trong cách làm ăn, giao tiếp. Sự thanh lịch mà Thăng Long – Hà Nội có được là do cả một quá trình lịch sử lâu dài. Và cũng không thể nào hun đúc, bảo tồn được nền văn hiến thanh lịch ấy nếu không có sự bồi đắp của những tinh hoa khắp mọi miền dành cho Thủ đô. Chẳng hạn như những bài hát hay nhất cho Hà Nội cũng không phải người Hà Nội viết. Hay Bùi Xuân Phái, tác giả của rất nhiều bức tranh đẹp về Phố cổ Hà Nội, cũng là người xuất thân từ tỉnh Hà Đông chứ không phải từ 36 phố phường. Ngày nay, Hà Nội cũng như mọi miền trên cả nước đang mở rộng trên con đường giao lưu và hội nhập quốc tế. Hà Nội đổi mới từng ngày, từng giờ nhưng bản sắc Hà Nội từ ngàn xưa vẫn còn giữ mãi. Với sức sống dẻo dai, với lòng yêu cái đẹp đã được hun đúc từ nhiều đời, người Hà Nội hôm nay đã và đang đẩy lùi những gì không phải là của mình. Từng người, từng gia đình vẫn giữ “nếp nhà” như thể người Hà Nội muôn đời thanh lịch.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Về Địa Danh Tràng An
  • Ý Nghĩa Nguyên Thủy Của Hình Ảnh “Thái Sơn”
  • 42 Hình Xăm Chữ Đẹp Nhất 2022 (Dành Riêng Cho Bạn)
  • Ý Nghĩa 55+ Hình Xăm Mũi Tên Mà Bạn Chưa Biết
  • Ý Nghĩa Hình Xăm Mũi Tên
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100