Top 14 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Tên Tỉnh Thanh Hóa / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Welovelevis.com

Lịch Sử Thanh Hóa Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Thanh Hóa / 2023

Vào đầu thời đại đồng thau, ở đồng bằng Bắc Bộ, văn hoá Phùng Nguyên đã phân bố trên một vùng rộng lớn từ các tỉnh Vĩnh Yên, Phú Thọ, Hà Tây, Hải Phòng, Hà Giang, Bắc Ninh, Hà Nội. Ở Thanh Hoá, các bộ lạc nguyên thuỷ cũng có mặt trên địa bàn rất rộng: từ miền núi đến đồng bằng, ven biển.

Người thời đại đồng thau đã để lại dấu vết trong các hang động Thẩm Hai và Thẩm Tiên (thuộc huyện Thường Xuân). Trong tầng văn hoá dày từ 20 – 30cm, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều rìu, đục bằng đá được mài nhẵn. Đồ gốm thu được ở đây không nhiều nhưng đã thể hiện trình độ chế tác rất độc đáo: gốm thường có miệng loe dày, vai xuôi, có loại có chân đế. Hoa văn trang trí rất đa dạng nhưng chủ yếu bằng kĩ thuật khắc vạch với những đường song song hoặc cắt nhau chạy thành từng băng quanh thân. Trong tầng văn hoá cũng tìm thấy cả vỏ ốc suối. Với sự phát triển của kĩ thuật chế tác đồ gốm, lại cư trú trên địa bàn xung quanh các thung lũng bằng phẳng, những cư dân thuộc nhóm di tích Thường Xuân đã là những người làm nông nghiệp.

Trong khi các bộ lạc miền núi Thường Xuân sản xuất nông nghiệp và phát triển nghề làm gốm, thì ở vùng biển, một nhóm các bộ lạc khác đã biết đến kim loại. Di chỉ tiêu biểu là Hoa Lộc (xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc) đã được khai quật lớn vào năm 1974 và 1975. Vì vậy nền văn hoá khảo cổ ở đây được đặt tên là văn hoá Hoa Lộc. Cư dân văn hoá Hoa Lộc sống gần bờ biển. Tại các di chỉ thuộc văn hoá này đã phát hiện được nhiều chì lưới bên cạnh xương răng các loài cá biển, cá nước ngọt, chứng tỏ đánh cá là một nghề quan trọng của họ. Cũng tìm thấy ở đây xương răng các loài động vật đã được thuần dưỡng như trâu, bò, chó, lợn, và thú rừng như hươu, nai, hoẵng, lợn rừng, tê giác v.v… Rõ ràng chủ nhân văn hoá Hoa Lộc còn là những người chăn nuôi và săn bắn giỏi. Nhưng không nghi ngờ gì nữa, các bộ lạc văn hoá Hoa Lộc đã có một nền nông nghiệp dùng cuốc phát triển.

Tại di chỉ Hoa Lộc (hay còn gọi là Cồn sau chợ), đã tìm thấy số lượng rất lớn cuốc đá có vai hoặc hình tứ giác (61 chiếc). Ở di chỉ Phú Lộc (còn có tên là Cồn Nghè) tìm thấy tới 80 cái. Rìu và bôn có vai được mài nhẵn toàn thân, có hình dáng cân đối, cũng là loại nông cụ được tìm thấy khá nhiều ở văn hoá Hoa Lộc. Nhưng rõ ràng nhất là tại di tích Bái Cù, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều vết tích của vỏ trấu. Đây là trấu của giống lúa nước.

Chủ nhân văn hoá Hoa Lộc là những người làm gốm giỏi, đồ gốm của họ rất độc đáo cả về hình dáng lẫn hoa văn trang trí. Họ đã tạo được những cái bình có vai gãy, miệng gâp vào trong. Có cả loại có miệng hình nhiều cạnh mà các nơi khác rất hiếm gặp. Hoa văn trên đồ gốm Hoa Lộc cũng rất đẹp và phong phú: người ta đã thống kê được 18 đồ án hoa văn khác nhau trên đồ gốm Hoa Lộc, trong đó, đặc trưng và độc đáo nhất là hoa văn hình bọ gậy được tạo bằng cách ẩn miệng vỏ sò biển lên thân gốm khi còn ướt.

Một đặc điểm quan trọng khác của văn hoá Hoa Lộc là sự xuất hiện rất nhiều những con dấu bằng đất nung. Các con dấu này có hình chữ nhật hoặc gần tròn, thường được người thợ gốm khắc những chữ “S” hoặc những hoa văn nối tiếp nhau với nét khắc rất sâu. Các nhà nghiên cứu cho rằng, công dụng của những con dấu này có lẽ được dùng để in hoa văn lên vải hơn là để tạo hoa văn trên đồ gốm. Cũng tại Hoa Lộc, còn tìm thấy những hộp đất nung hình chữ nhật, có hai ngăn, mà công dụng cho đến ngày nay vẫn còn tranh cãi. Điều quan trọng là đã phát hiện được dấu vết của đồng trong văn hoá Hoa Lộc, đó có thể là những mẩu dây hoặc dùi đồng đã bị rỉ nát. Trong tương quan với các nền văn hoá cùng thời, các nhà nghiên cứu nhận thấy đã xuất hiện sự giao lưu giữa các bộ lạc văn hoá Hoa Lộc với chủ nhân các nền văn hoá khác. Ở phía Bắc, hoa văn in mép vỏ sò đặc trưng của văn hoá Hoa Lộc đã tìm thấy ở Sập Việt, Bản Gièm (Sơn La). Nhiều mảnh gốm kiểu Hoa Lộc được tìm thấy ở Gò Mả Đống (Ba Vì – Hà Nội), núi Lê (Ninh Bình), đồi Ghệ, đồi Giạ (Vĩnh Phú cũ). Ở phía Nam, phong cách trang trí và đồ án hoa văn hình chữ S in bằng miệng vỏ sò đã thấy xuất hiện ở Pò Cung (Quỳ Hợp – Nghệ An).

Căn cứ vào những thành tựu trong kĩ thuật chế tác các loại công cụ, trong các ngành kinh tế sản xuất và sự phân bố các di chỉ trên một vùng rộng lớn, có thể nhận thấy rằng mật độ cư dân trong văn hoá Hoa Lộc đã khá cao. Chủ nhân văn hoá Hoa Lộc hẳn đã có cuộc sống tinh thần khá phong phú: chỉ có những bộ óc phóng khoáng với những bàn tay khéo léo mới có thể tạo nên những kiểu dáng và hoa văn trên đồ gốm phong phú đến vậy. Sự phát triển mạnh mẽ của nghề đánh cá biển và kĩ thuật chế tác kim loại ra đời có thể đã góp phần quan trọng xác lập chế độ công xã thị tộc phụ quyền trong đời sống xã hội văn hoá Hoa Lộc.

Ở vùng đồng bằng sông Mã: Khi các bộ lạc ở miền núi, miền biển Thanh Hoá bước vào thời đại đồng thau cách đây khoảng 4.000 năm thì vùng đồng bằng ven đôi bờ sông Mã, cư dân các bộ lạc ở di chỉ Cồn Chân Tiên cũng bước vào sơ kì thời đại đồng thau. Cùng thời với di chỉ này, ven đôi bờ sông Mã còn phát hiện được các di chỉ núi Chàn (ở sườn tây núi Đọ), khe Tiên Nông (sườn Tây Bắc núi Nuông). Kết quả khai quật và nghiên cứu các di chỉ này đã được nhiều nhà nghiên cứu xác định là giai đoạn sớm nhất của thời đại đồng thau ven sông Mã, là cốt lõi mở đầu trong quá trình hình thành bộ Cửu Chân trong nước Văn Lang.

Những công cụ bằng đá ở Cồn Chân Tiên cho thấy cư dân giai đoạn này đã đạt tới trình độ kĩ thuật chế tác đá rất cao. Họ sử dụng đá bazan khai thác ở núi Đọ. Họ sử dụng kĩ thuật ghè để tạo phác vật, sau đó ghè tu chỉnh và tiến hành mài đá. Họ đã dùng hai loại bàn mài để mài phá và mài trau (loại đá có kết cấu hạt to dùng mài phá, loại mài trau có kết cấu hạt mịn). Bàn mài của họ đôi khi được dùng cả bốn mặt, có loại có rãnh chắc được dùng để mài đồ trang sức. Rìu đá ở Cồn Chân Tiên chủ yếu là rìu lưỡi cân, cạnh đó còn có loại lưỡi mài vát một bên có tiết diện hình chữ V lệch (thường được gọi là bôn). Đặc biệt ở đây đã tìm thấy những chiếc rìu và bôn có hình dáng nhỏ nhắn và rất xinh bằng đá ngọc, lưỡi rất sắc bén. Cũng tìm thấy nhiều vòng trang sức bằng đá, cư dân Cồn Chân Tiên chế tác công cụ ngay tại nơi cư trú.

Di chỉ Cồn Chân Tiên có tầng văn hoá tương đối dày, chứng tỏ con người đã định cư ở đây khá lâu dài. Đồng bằng ven sông Mã là địa bàn khai thác nghề trồng lúa nước của họ. Địa bàn cư trú ấy với điều kiện trình độ chế tác công cụ phát triển đã đưa sản xuất nông nghiệp lên vị trí hàng đầu trong nền kinh tế của cư dân Cồn Chân Tiên. Cũng như cư dân văn hoá Phùng Nguyên, Hoa Lộc, các bộ lạc nguyên thuỷ đôi bờ sông Mã đang dần dần chuyển sang chế độ công xã thị tộc phụ quyền và điều quan trọng hơn cả, khi đối chiếu, so sánh với kết quả nghiên cứu các giai đoạn phát triển sau này ở các di chỉ khảo cổ học khu vực đồng bằng sông Mã, sông Chu, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng cư dân các bộ lạc Cồn Chân Tiên là nhóm đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành bộ Cửu Chân trong nước Văn Lang của các vua Hùng.

Di chỉ khảo cổ học Đông Khối thuộc làng Đông Khối, xã Đông Cương (Đông Sơn), được khai quật năm 1960. Gần đây, nhờ kết quả khai quật và nghiên cứu các di chỉ khảo cổ thời đại đồng thau ven đôi bờ sông Mã, các nhà nghiên cứu đã xác định Đông Khối là di chỉ tiêu biểu cho giai đoạn phát triển tiếp theo giai đoạn Cồn Chân Tiên ở lưu vực sông Mã, có niên đại trung kì thời đại đồng thau tương đương với giai đoạn Đồng Đậu ở đồng bằng Bắc Bộ. Thuộc giai đoạn này còn có di chỉ Bái Man, lớp dưới di chỉ Cồn Cấu (xã Đông Lĩnh) và lớp dưới di chỉ Đồng Ngầm (xã Đông Tiến) huyện Đông Sơn.

Điểm đáng chú ý đầu tiên là kĩ thuật chế tác công cụ đá của cư dân các bộ lạc giai đoạn này đã không chỉ kế thừa trực tiếp kĩ thuật của cư dân Cồn Chân Tiên, mà họ còn đưa nghề chế tác đá phát triển thành kĩ nghệ, đạt tới đỉnh điểm trong thời tiền sử và sơ sử xứ Thanh. Tại di chỉ Đông Khối, ngày nay vẫn còn rất nhiều những phác vật, phế vật, mảnh tước v.v…, có chỗ chất đầy, ken dày trên những bờ ruộng, cánh đồng sát chân núi Voi, rộng hàng chục héc ta. Điều này cho thấy hẳn xưa kia, khoảng 3.000 năm trước đây, Đông Khối là một trung tâm chế tác công cụ đá rất phong phú và nhộn nhịp. Trong bộ sưu tập công cụ bằng đá ở Đông Khối, rìu và bôn tứ giác có tiết diện hình chữ nhật hoặc vuông chiếm ưu thế tuyệt đối. Hình dáng của chúng khá phong phú: rìu có loại hình thang vuông, hình chữ nhật; bôn cũng có hai loại: loại lưỡi mỏng (chỉ độ 1 cm) và loại lưỡi rất dày, có mặt cắt hình gần vuông, vì vậy có người gọi là búa rìu (loại này chiếm tỉ lệ 22 – 33% ở các di chỉ).

Nghiên cứu những dấu vết vật chất và bộ di vật, các nhà khảo cổ học cho rằng cư dân các bộ lạc thuộc giai đoạn Đông Khối có trình độ phát triển tương đương giai đoạn Đồng Đậu ở lưu vực sông Hồng. Nền kinh tế sản xuất nông nghiệp của người Đông Khối đã có bước phát triển mới: bên cạnh việc trồng trọt các loại cây cho củ, quả, lúa đã được trồng nhiều hơn, đặc biệt là lúa nếp. Tại Đồng Ngầm, Bái Man đã phát hiện được nhiều mẫu trấu của lúa dạng hạt tròn. Sự phát triển mạnh mẽ của các nghề thủ công làm gốm, chế tác công cụ đá, những dấu tích của lúa, gạo v.v… cho thấy người Đông Khối đã đạt tới trình độ khá cao trong đời sống kinh tế, xã hội.

Năm 111 TCN, nhà Hán chinh phục Nam Việt và chia thành 9 quận, trong đó nước Âu Lạc cũ trở thành 2 quận là Giao Chỉ và Cửu Chân, vùng đất Thanh Hóa nằm gọn trong quận Cửu Chân.

Trải qua hơn 10 thế kỷ Bắc thuộc, qua các triều đại Hán – Tam Quốc, Lưỡng Tấn – Tiền Tống – Tề – Lương – Tùy – Đường, địa danh của miền đất này cũng bao lần thay đổi theo sự thăng trầm của lịch sử. Cùng với số phận chung của cả nước, nhân dân Cửu Chân chịu cảnh sống lầm than cơ cực dưới ách đô hộ của ngoại bang.

Các dấu vết của người nguyên thuỷ – người vượn sớm nhất ở Việt Nam, lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1960 tại núi Ðọ, Thanh Hoá. Do đặc trưng điển hình của hệ thống di tích này, các nhà khảo cổ học cho rằng đã tồn tại một nền văn hoá sơ kì thời đại đồ đá cũ: Văn hoá núi Ðọ. Văn hoá núi Ðọ bao gồm một hệ thống các di tích sơ kì thời đại đồ đá cũ được phát hiện ở Thanh Hoá: Núi Ðọ, núi Nuông, Quan Yên I, núi Nổ.

Nằm trong địa phận hai xã Thiệu Tân và Thiệu Khánh huyện Thiệu Hoá (nay thuộc thành phố Thanh Hóa). Ðây là một hòn núi cao 160m, nằm bên hữu ngạn sông Chu. Người vượn nguyên thuỷ đã sinh sống ở đây, ghè vỡ đá núi để chế tác công cụ. Những công cụ bằng đá mang dấu ấn chế tác bởi bàn tay của họ như mảnh tước, hạch đá, rìu tay… đã được phát hiện ở núi Ðọ khá nhiều. Ngày nay, trên sườn núi Ðọ, hàng vạn mảnh tước (mảnh ghè khi người nguyên thuỷ chế tác công cụ) vẫn còn nằm rải rác, nhất là sườn phía Ðông và phía Tây Nam.

Trên núi Quan Yên, tại địa điểm Quan Yên I (bên sườn Ðông – Ðông Nam), thuộc xã Ðịnh Công, huyện Yên Ðịnh, năm 1978 các nhà khảo cổ cũng đã phát hiện được những vết tích của con người sơ kì thời đại đồ đá cũ. So với núi Ðọ, núi Nuông, mật độ và số lượng hiện vật thu được có ít hơn, nhưng kĩ thuật chế tác các loại hình công cụ ở đây cao hơn, gọi là kĩ thuật của loài vượn sơ kì thời đại đồ đá cũ, đồng thời đây cũng là một loại hình di chỉ – xưởng. Căn cứ vào trình độ kĩ thuật chế tác công cụ, địa hình cư trú và dựa vào những thành tựu mới nhất của các ngành khoa học, các nhà khoa học cho rằng, người vượn nguyên thuỷ văn hoá núi Ðọ là những người vượn đứng thẳng phát triển. Họ sống thành từng bầy, có thủ lĩnh bầy, mỗi bầy bao gồm từ 5-7 gia đình, có khoảng 20 – 30 người. Họ kiếm thức ăn chủ yếu bằng phương thức săn bắn và hái lượm theo bầy đàn người vượn và phân phối sản phẩm công bằng. Ðời sống tinh thần của họ đã khá phong phú: ngoài thì giờ kiếm ăn, có thể họ đã có những trò giải trí trong lúc rỗi rãi.

Tại Thanh Hoá, các bộ lạc chủ nhân văn hoá Sơn Vi, theo tình hình hiểu biết hiện nay đã sinh sống trên địa bàn rộng lớn ở vùng núi phía Tây và Tây Bắc của tỉnh. Dấu vết của họ đã được tìm thấy ở các huyện Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Hà Trung, Bá Thước và nhất là cụm di tích ở xã Hạ Trung (Bá Thước).

– Hang Con Moong: Ðáng chú ý nhất là hang Con Moong – một di tích nằm trong khu vực Vườn Quốc gia Cúc Phương – thuộc xã Thành Yên, huyện Thạch Thành. Di tích này được khai quật năm 1976. Tại đây, người vượn nguyên thuỷ Thanh Hoá đã sinh sống từ hậu kì thời đại đồ đá cũ đến thời đại đồ đá mới. Tầng văn hoá ở Con Moong dầy tới 3,5m với sự tiếp diễn liên tục, không hề có sự ngắt quãng. Tại lớp văn hoá sớm nhất (dưới cùng) ở Con Moong (đã được xác định niên đại bằng phương pháp cacbon phóng xạ C14 cách ngày nay hơn 12.000 năm) các nhà khảo cổ học đã thu được nhiều hiện vật. Ðó là những công cụ bằng đá có hình múi cam, công cụ có rìa lưỡi một đầu, công cụ 1/4 viên cuội, được tạo bằng thủ pháp đập vỡ cuội. Ðó là những chày nghiền, bàn nghiền – những hòn đá không có dấu vết chế tác, chỉ có dấu vết sử dụng bởi một mặt lõm xuống hình lòng máng, được dùng để chà vỏ, nghiền thức ăn thực vật; là những công cụ bằng xương có hình mũi nhọn được chế tạo từ những đoạn xương ống của các loài thú lớn. Xương, răng động vật cũng phát hiện được khá nhiều, gồm xương cốt các loài lửng, tê giác, voi, hươu, nai, hoẵng, baba, rùa vàng… Cũng giống như ở mái đá Ðiều, tầng văn hoá ở Con Moong chứa khá nhiều vỏ trai, ốc núi, ốc suối. Trong lớp văn hoá Sơn Vi ở Con Moong, đã tìm thấy dấu vết của bếp lửa có hình gần tròn, đường kính tới 4m, bên cạnh mùn thực vật và hạt trám. Trong lớp văn hoá Sơn Vi ở Con Moong, đã phát hiện được 3 mộ táng gồm 5 cá thể (có 2 mộ song táng) đã xác định được 1 nam, 1 nữ (khoảng 50 – 60 tuổi), hai trẻ em và 1 người không xác định được giới tính. Tất cả các hài cốt được chôn theo tư thế nằm nghiêng co bó gối, được bôi thổ hoàng, có một mộ chôn theo công cụ nạo. Như vậy, vào hậu kỳ thời đại đồ đá cũ, cùng với văn hoá Sơn Vi ở phía Bắc, chủ nhân của văn hoá Sơn Vi Thanh Hoá đã cư trú trên một vùng rộng lớn phía Bắc, Tây bắc của tỉnh và tương đối tập trung. Theo những phát hiện mới nhất của khảo cổ học, vùng Bá Thước, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành trong hậu kì thời đại đồ đá cũ có thể được coi là trung tâm của xứ Thanh ngày nay. Trong thời đại đồ đá cũ, cư dân nguyên thuỷ đã sinh sống trên địa bàn Thanh Hoá. Trong hàng chục vạn năm ấy, do điều kiện địa lí, do quá trình kiến tạo địa chất, nhiều đợt biển tiến, biển lùi đã đẩy người vượn nguyên thuỷ văn hoá núi Ðọ tiến lên chiếm lĩnh vùng phía Tây – Tây bắc, những chủ nhân văn hoá Sơn Vi ở Thanh Hoá đã cùng các bộ lạc khác trên đất nước Việt Nam, trong quá trình đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên để sinh tồn, đã tạo nên một nền văn hoá mới, làm phong phú thêm thời đại đồ đá mới ở Việt Nam. Ðó là quá trình phát triển của xã hội người nguyên thuỷ trên đất Thanh Hoá.

Nối tiếp văn hoá Sơn Vi là văn hoá Hoà Bình (lấy tên tỉnh Hoà Bình – nơi phát hiện những di tích đầu tiên của nền văn hoá này). Về niên đại, văn hoá Hoà Bình cách ngày nay 11.000 năm; trên đất Thanh Hoá, trung tâm dân cư lúc này vẫn tập trung ở địa bàn vùng núi phía Tây, thuộc các huyện Cẩm Thuỷ, Bá Thước, Thạch Thành, Ngọc Lặc… Họ thường sống trong các hang động, các núi đá vôi rộng, thoáng đãng và gần sông, suối lớn. Các nhà khảo cổ học đã xác định họ chính là hậu duệ trực tiếp của chủ nhân văn hoá Sơn Vi ở Thanh Hoá và chính họ – cư dân văn hoá Hoà Bình ở Thanh Hoá, đã tiếp tục phát triển, làm nên văn hoá Bắc Sơn sau này.

– Hang Con Moong (xã Thành Yên – huyện Thạch Thành): Ðây là một hang rộng, nền hang cao hơn 40m so với chân núi hiện tại và rộng hơn 300 m2. Người nguyên thuỷ cư trú trên khoảng diện tích 100 m2 tại cửa hướng Tây Nam, liên tục từ thời văn hoá Sơn Vi đến văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn. Các nhà khảo cổ đã thu được rất nhiều hiện vật nằm lẫn trong đống vỏ nhuyễn thể và mùn thực vật mà người nguyên thuỷ đã thải ra trong quá trình sinh hoạt. Về công cụ bằng đá: cư dân văn hoá Hoà Bình ở Con Moong vẫn giữ truyền thống văn hoá Sơn Vi: dùng đá cuội để chế tác công cụ, nhưng kỹ thuật chế tác công cụ của họ rất phát triển, kể cả loại hình lẫn phương pháp chế tác. Công cụ kiểu Xumatơra(3) (Sumatralithe) có hình bầu dục hay hình hạnh nhân, lưỡi được tạo xung quanh rìa hòn cuội bằng cả thủ pháp ghè tỉa, để có độ sắc bén hơn; có chức năng sử dụng rất đa dạng: có thể dùng cắt, chặt, nạo….từ thịt, xương thú đến tre, nứa, gỗ. Rìu ngắn chiếm tỉ lệ rất lớn trong bộ sưu tập công cụ của họ ở Thanh Hoá; người ta thường chặt cuội hoặc chặt đôi những công cụ hình bầu dục để tạo rìu ngắn; chức năng của rìu ngắn cũng rất đa dạng. Rìu dài hình hạnh nhân hay hình bầu dục của cư dân văn hoá Hoà Bình có nhiều khả năng được sử dụng như những chiếc cuốc đá. Mảnh tước ở Con Moong có số lượng không nhiều, nhưng phần lớn đã được gia công để tạo thành công cụ nạo, dao đá, với rìa đá rất sắc. Chày nghiền, bàn nghiền cũng là những công cụ được tìm thấy khá nhiều. Chủ nhân Con Moong cũng chế tác và sử dụng công cụ bằng xương thú với kỹ thuật chọn nguyên liệu và chế tác phát triển khá cao: người ta chỉ lựa chọn xương ống của động vật có vú – loại xương có cấu tạo sợi nhiều hơn cấu tạo xốp – để chế tác công cụ và đã mài nhẵn đầu. Thức ăn rất phong phú, đa dạng: trong tầng văn hoá, các nhà khảo cổ học đã thu được 83 2 vỏ nhuyễn thể như trùng trục, trai, ốc… và các loại xương thú rất phong phú. Chôn người chết theo tư thế nằm nghiêng chân co như cư dân văn hoá Sơn Vi giai đoạn trước, nhưng họ đã chèn đá hộc, rải đá dăm quanh mộ để bảo vệ và đều chôn theo công cụ.

– Di chỉ mái đá Ðiều và các di chỉ khác: Cũng như ở Con Moong, mái đá Ðiều là một di chỉ chứa đựng nhiều lớp văn hoá thuộc các thời đại đồ đá khác nhau. Niên đại lớp văn hóa Hoà Bình của Mái đá Ðiều là 8.200 ± 70 năm, cách ngày nay. Các nhà khảo cổ học đã thu được rất nhiều công cụ bằng đá đặc trưng kiểu Hoà Bình. Ðáng chú ý là rìu ngắn chiếm tỉ lệ rất lớn. Chày nghiền, bàn nghiền cũng chiếm tỉ lệ đáng kể. Riêng công cụ bằng mảnh tước, ở một số địa điểm đã xuất hiện kĩ thuật mài đá. Ở các di chỉ mái đá Bát Mọt, hang Mộc Trạch, hang To đã tìm được nhiều mảnh vỏ trai xà cừ lớn mà công dụng có thể được chủ nhân văn hoá Hoà Bình sử dụng như những lưỡi dao, nạo để vót tre nứa và nạo thịt thú. Một đặc điểm chung nữa là tại các di chỉ văn hoá này, tầng văn hoá đều rất dày, chứng tỏ sự cư trú lâu dài của con người như Con Moong: 3,5m, mái đá Ðiều: gần 4m, mái đá Làng Bon: 3,7m, hang Ðiền Hạ III: 3,8m, mái đá chòm Ðồng Ðông: 3,5m; chứa đựng một khối lượng vỏ nhuyễn thể rất lớn lẫn trong lớp đất màu nâu hoặc đen chứa mùn thực vật. Cư trú trong các hang động, mái đá tương đối cao, có nơi rất cao (như Con Moong), cư dân Hoà Bình ở Thanh Hoá chắc rằng, ngoài những công cụ bằng đá, đã sử dụng một số lượng không ít các công cụ và đồ dùng được chế tác từ các loại cây cối, nhất là tre, nứa, song, mây… Ðể đựng các loại nhuyễn thể lượm nhặt từ sông, suối đem về nơi cư trú. Các nhà khảo học đã phát hiện được nhiều mộ táng của người Hoà Bình ở Thanh Hoá. Ðã tìm thấy ở hang Lộc Thịnh, mái đá Làng Bon, mái đá làng chòm Ðồng Ðông… các di cốt, xương, răng bị vỡ, mủn. Ðáng chú ý nhất là các di tích Con Moong (2 mộ), mái đá Ðiều (13 mộ), mái đá Mộc Long (5 mộ), hang Chùa (3 mộ). Phần lớn những mộ này còn nguyên vẹn và cho thấy tư thế chôn nằm nghiêng co bó gối, bôi thổ hoàng, kè đá giữa mộ và chôn theo hiện vật làm đồ tuỳ táng, là cách thức mai táng phổ biến trong tập tục của người Hoà Bình. Chủ nhân của văn hoá Hoà Bình ở Thanh Hoá đã tiến tới tổ chức công xã thị tộc mẫu hệ. Các công xã thị tộc thường cư trú trong một vùng đất nhất định. Trong mỗi hang động là một thị tộc cư trú bao gồm nhiều gia đình nhỏ với vợ chồng, con cái. Dấu tích bếp lửa ở giai đoạn được tìm thấy có quy mô nhỏ hơn giai đoạn trước và số lượng cũng tăng hơn. Kinh tế hái lượm ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong đời sống, bởi vậy, vai trò và vị trí của người phụ nữ ngày càng được nâng cao. Với môi trường sinh sống gần sông, suối, khai thác thức ăn đa nguồn, định cư lâu dài, cư dân văn hoá Hoà Bình ở Thanh Hoá đã chuyển từ cuộc sống hái lượm – săn bắt sang thu hoạch định kỳ theo mùa. Ðó là mầm mống sơ khai của nền kinh tế sản xuất nông nghiệp: người ta bắt đầu chăm sóc và trồng trọt một số loài cây có củ, quả như rau, đậu, bầu bí… và thuần dưỡng chó. Những quan niệm tôn giáo sơ khai, mầm nghệ thuật – sự tìm kiếm cái đẹp cũng nảy sinh trong quá trình lao động kiếm sống và vui chơi giải trí. Ðó là những thành quả sáng tạo trong đời sống kinh tế, xã hội của cư dân văn hoá Hoà Bình xứ Thanh và với thành quả ấy, họ đã thực sự góp phần vào cách mạng đá mới. Sau hơn 70 năm phát hiện và nghiên cứu văn hoá Hoà Bình ở Việt Nam cũng như ở Thanh Hoá đã cho thấy một cái nhìn tổng quan về lịch sử Thanh Hoá thời đại đồ đá mới: đó là sự phát triển liên tục, nội tại từ cư dân văn hoá núi Ðọ đến Sơn Vi và văn hoá Hoà Bình.

Tại Thanh Hoá, dấu vết văn hoá Bắc Sơn đã được phát hiện trong các lớp văn hoá muộn của các di chỉ mái đá Thạch Sơn, mái đá chòm Ðồng Ðông, hang Lộc Thịnh, mái đá Ðiều, hang Mỹ Tế, mái đá làng Bon, làng Ðiền Hạ III… và đặc biệt rõ ở hang Con Moong- thuộc lớp trên cùng, có niên đại khoảng 7.000 năm cách ngày nay. Chủ nhân văn hoá Bắc Sơn ở Thanh Hoá cũng như ở nơi khác, đã đưa kỹ thuật chế tác công cụ bằng đá đến trình độ cao: họ đã biết và phổ biến kỹ thuật mài đá. Ðã tìm thấy trong các di chỉ Bắc Sơn ở Thanh Hoá những bàn mài bằng sa thạch bên cạnh rất nhiều chày nghiền, bàn nghiền. Những chiếc rìu mài lưỡi Bắc Sơn ra đời đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nghề nông đã thai nghén từ văn hoá Hoà Bình. Nhưng thành tựu kĩ thuật lớn nhất của cư dân văn hoá Bắc Sơn là phát minh ra đồ gốm. Mặc dù còn rất thô sơ về chất liệu, hình dáng, hoa văn, độ nung còn thấp, nhưng cũng đã tạo cho nền kinh tế sản xuất sơ khai của chủ nhân văn hoá Bắc Sơn ở Thanh Hoá phát triển hơn hẳn nền kinh tế sản xuất nông nghiệp của văn hoá Hòa Bình. Tuy nhiên kinh tế sản xuất chưa thể chiếm vai trò chủ đạo trong đời sống của người Bắc Sơn. Hái lượm và săn bắn vẫn đóng vai trò chính trong đời sống của họ: trong các hang động nơi họ cư trú, tầng văn hoá vẫn chất đầy vỏ nhuyễn thể và xương cốt động vật (lớp văn hoá Bắc Sơn ở Con Moong – lớp trên cùng- có độ dày từ mặt đất từ 0,2m – 1,2m, đã thu được tới 60m 3 vỏ nhuyễn thể). Xã hội người nguyên thuỷ văn hoá Bắc Sơn ở Thanh Hoá đã phát triển chế độ thị tộc mẫu hệ.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế sản xuất, người nguyên thuỷ văn hoá Bắc Sơn ngày càng lệ thuộc vào thành quả của hoạt động hái lượm và chăm sóc cây trồng. Ðó là những công việc chủ yếu do phụ nữ đảm nhận và ngày càng nắm vị trí chủ đạo trong kinh tế; vai trò người phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được đề cao.

Vào hậu kì thời đại đồ đá mới, cách ngày nay khoảng 6.000 – 7.000 năm, sau nhiều đợt biển tiến, biển lùi, sang kỷ Hôlôxen, đồng bằng sông Mã đã hình thành tương đối ổn định với tài nguyên phong phú, đầy hấp dẫn, đã lôi cuốn chủ nhân văn hoá Hoà Bình – Bắc Sơn ở vùng núi rời khỏi các hang động – nơi cư trú hàng ngàn năm, tiến xuống khai phá miền đồng bằng trước chân núi. Nền nông nghiệp trồng lúa nước ra đời. Cùng với dân cư văn hoá Hạ Long ở phía Bắc, văn hoá Quỳnh Văn ở phía Nam, người nguyên thuỷ ở Thanh Hoá làm nên một nền văn hoá Ða Bút độc đáo, làm phong phú thêm diện mạo văn hoá của các bộ lạc nguyên thuỷ sinh sống trên toàn cõi Bắc Việt Nam.

Văn hoá Ða Bút: Theo hiểu biết hiện nay, văn hoá Ða Bút gồm hệ thống các di chỉ Ða Bút (xã Vĩnh Tân), Bản Thuỷ (xã Vĩnh Thịnh), làng Còng (xã Vĩnh Hưng) thuộc huyện Vĩnh Lộc, cồn Cổ Ngựa (xã Hà Lĩnh, huyện Hà Trung) và gò Trũng (xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc). Khai quật và nghiên cứu hệ thống di chỉ này, các nhà khảo cổ học đã chứng minh rằng chủ nhân của văn hoá Ða Bút theo quá trình lùi dần của biển, ngày càng chiếm lĩnh vùng đồng bằng ven biển Thanh Hoá. Kết quả khai quật và nghiên cứu các di chỉ văn hoá Ða Bút cho thấy cư dân nguyên thuỷ giai đoạn này đã bước vào thời kỳ công xã thị tộc mẫu hệ phát triển. Nhờ nông nghiệp lúa nước được đẩy mạnh, đời sống đã ổn định, dân số tăng nhanh, đồng thời các nghề thủ công phục vụ sản xuất nông nghiệp và đánh cá được mở rộng.

Năm 156, Chu Ðạt, người huyện Cự Phong (nay là thôn Phú Hào, xã Thọ Phú, huyện Triệu Sơn) chiêu mộ dân binh vây đánh huyện sở Cự Phong (vùng đất các huyện Nông Cống, Quảng Xương, Tĩnh Gia và Như Xuân, Như Thanh ngày nay) giết chết huyện lệnh rồi tiến công Tư Phố, giết chết thái thú nhà Ðông Hán, lực lượng có đến 5.000 người, quản trị Cửu Chân được 4 năm từ năm 156 đến năm 160.

Từ năm 220, Cửu Chân thuộc quyền cai trị của Ðông Ngô (một trong 3 nước thời Tam Quốc), trong xứ không kể Nghệ An, Hà Tĩnh, có chừng 3 vạn hộ. Bà Triệu tức Triệu Thị Trinh, người Quân Yên (huyện Yên Ðịnh), 20 tuổi; lập căn cứ ở Núi Nưa (Triệu Sơn), hội quân với 3 anh em họ Lý ở Bồ Ðiền (tức Phú Ðiền, huyện Hậu Lộc) cùng tiến đánh quận sở Tư Phố đại thắng. Hầu hết các huyện lỵ, thành ấp ở Cửu Chân, Cửu Ðức, Nhật Nam (2 quận nay là vùng Nghệ Tĩnh – Quảng Bình) bị nghĩa quân đánh hạ, các thái thú, huyện lệnh và huyện trưởng bị giết… nền đô hộ của nhà Hán ở Giao Châu hơn 330 năm bị lật đổ.

Mùa xuân 542, Lý Bí – mẹ đẻ là người Cửu Chân, khởi nghĩa thắng lợi, lập ra nước Vạn Xuân xưng là Lý Nam Ðế. Nhà Lương đàn áp, Lý Thiên Bảo là anh ruột Lý Bí rút về Dã Năng (huyện Bá Thước ngày nay) xưng là Ðào Lang Vương tiếp tục kháng chiến. Sau đó Thiên Bảo mất, Lý Phật Tử lên thay tức là Hậu Lý Nam Ðế. Năm 556, Lý Phật Tử đánh nhau với Triệu Việt Vương – Triệu Quang Phục – người tiếm ngôi của Lý Bí và là người đánh bại quân đội nhà Lương ở đầm Dạ Trạch (tỉnh Hưng Yên ngày nay).

Lê Ngọc (còn gọi là Lê Cốc) cùng với 4 người con lật đổ quan cai trị của nhà Tuỳ (Trung Quốc) đóng ở Ðông Phố (tức Ðồng Pho, xã Ðông Hoà, huyện Ðông Sơn ngày nay), gọi là kinh đô Trường Xuân, tự quản Cửu Chân chống lại nhà Ðường cho đến đầu thế kỷ VI. Ðến thế kỷ VII, Cửu Chân gồm 6 huyện có 16.100 hộ (quận Giao Chỉ có 30.000 hộ) khoảng 84.000 nhân khẩu, thuộc xứ An Nam (tên An Nam thay cho Giao Châu bắt đầu từ đây). Quận sở là Ðông Phố (tức là Ðồng Pho). Năm 759, quân Mã Lai cướp phá Châu Ái (tên gọi Cửu Chân từ năm 523) bị quan cai trị là Trương Bá Nghi tiêu diệt. Năm 797, quân Mã Lai lại cướp phá Châu Ái nữa, xây cả thành, lập nước, nhưng bị quan cai trị là Trương Châu đánh đuổi, san phẳng thành trì thu hồi mọi của cải. Thế kỷ IX, Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo đã rất phát đạt ở Châu Ái. Ðạo Nho có anh em Khương Công Phụ, đỗ Tiến sỹ làm quan đến Tể tướng triều đình nhà Ðường, đạo Lão biến các hang động đẹp nhất ở khắp Vĩnh Lộc, Hà Trung, Nga Sơn làm nơi tu tiên và đạo Phật có các Ðại hoà thượng như Trí Hành và Ðại Thăng Ðăng sang tận Trung Quốc để hành đạo.

Dương Ðình Nghệ, chính khách quan trọng nhất thế kỷ X của lịch sử Việt Nam, thu hút hơn 3.000 người làm vây cánh ở làng Giàng, Tư Phố (nay là đất các xã Thiệu Dương, Thiệu Khánh, thành phố Thanh Hóa), trong đó có Ngô Quyền, Ðinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Phạm Cự Lạng… Tháng 3 năm 931, Dương Ðình Nghệ đánh đuổi thứ sử Lý Tiến của nhà Nam Hán (Trung Quốc), tiêu diệt viện binh Nam Hán, tự lập làm tiết độ sứ, chấm dứt vĩnh viễn nền đô hộ hơn 1.000 năm của người Trung Quốc ở Việt Nam. Từ Dương Ðình Nghệ, Việt Nam xác định lại được quốc thống của một đất nước độc lập hoàn toàn.

Mùa đông năm 938, Ngô Quyền đem quân đội Cửu Chân tiến ra Bắc tiêu diệt Kiều Công Tiễn – kẻ phản bội họ Dương ở Ðại La (Hà Nội ngày nay), rồi cản phá quân Nam Hán là Lưu Hoàng Thao trên sông Bạch Ðằng, lên ngôi vua tức Ngô Vương Quyền. Thời 12 sứ quân, Cửu Chân nằm trong vòng kiểm soát của Ðinh Bộ Lĩnh ở miền Ðông và của Ngô Xương Xí – cháu nội Ngô Quyền, ở Bình Kiều (đất vùng Triệu Sơn ngày nay) tức miền Tây lãnh thổ.

Năm 979 – 980, Lê Hoàn trấn áp xong quân chống đối của Nguyễn Bặc và Ðinh Ðiền ở vùng sông Tống (vùng đất huyện Hà Trung ngày nay) lên ngôi vua. Năm 981, ông đánh tan quân xâm lược nhà Tống, và năm 982 đánh thắng quân Chiêm Thành. Năm 982, nhà vua cho nạo vét các sông ngòi, đào kênh nối liền hệ thống sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Bạng cho đến vùng đất tỉnh Nghệ An ngày nay, thành một đường giao thông thuận tiện đầu tiên ở Cửu Chân và ở cả đất nước Ðại Cồ Việt. Người chỉ huy đào các kênh này là Ðào Lang, làng Bùi Ðỉnh (xã Yên Trung huyện Yên Ðịnh ngày nay). Từ năm 999 đến năm 1005, các vua thời Tiền Lê phải trực tiếp điều quân bình định miền viễn Tây Thanh Hoá nhưng chưa ổn.

Từ đầu triều đại nhà Lý 1009 đến 1028, lúc đầu Lý Thái tổ đặt tên gọi Trại Ái Châu. Đến năm 1029, dưới triều vua Lý Thái Tông, năm Thiên Thành thứ hai đặt tên Phủ Thanh Hóa. Từ đó các triều đại tiếp theo lúc gọi phủ, lúc gọi lộ, lúc gọi trấn và gọi là tỉnh Thanh Hóa vào thời nhà Nguyễn.

Tên Hóa có lúc lại đổi thành Hoa, rồi lại trở lại Hóa; đến đời vua Thiệu Trị, triều đại nhà Nguyễn (1841), nhà vua có một chỉ dụ đại ý nói: Thanh Hóa là một tên cổ, do các triều đại trước đã định danh, vì vậy không có lý do gì đổi tên này, mà phải giữ nguyên tên gọi tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 12/7/2017, tại kỳ họp thứ ba, HĐND tỉnh khóa XVII đã quyết nghị lấy năm 1029 là năm ra đời Danh xưng Thanh Hóa với tư cách đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương. Sự kiện lịch sử này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo sự phấn khởi, lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

Tháng giêng năm Thiệu Long thứ 15 nhà Trần (năm 1272), Lê Văn Hưu, người làng Bồi Lý (xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá ngày nay) dòng dõi Lê Lương, soạn xong Ðại Việt sử ký toàn thư – bộ sử hoàn chỉnh đầu tiên của nước ta.

Lê Văn Hưu được tôn là ông tổ ngành sử học của Việt Nam. Ðầu năm 1285, kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2, ở Thanh Hoá, quân đội nhà Trần do Trần Kiên, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải chỉ huy chống giữ cầm chân giặc, ở các điểm Yên Duyên (xã Quảng Hùng), núi Ðá Chẹt (Quảng Lĩnh), Văn Trinh (Quảng Hợp), Bố Vệ (thành phố Thanh Hoá), Phú Tân (Hà Toại), Nga Lĩnh, Quang Lộc, Liên Lộc, chiến sự rất dữ dội. Sau khi tướng Nguyên: Toa Ðô tiến được ra sông Hồng thì Hưng Ðạo Vương lại đem 2 vua Trần rút vào Thanh Hoá (ở các vùng Nga Sơn, Hà Trung, Thạch Thành ngày nay) để bảo toàn đầu não. Ðến tháng 5 năm 1285, từ Thanh Hoá, Hưng Ðạo Vương tiến quân ra Bắc quét sạch quân Nguyên Mông khỏi bờ cõi Ðại Việt. Năm 1370, dòng họ Lê ở Ðại Lại (Ðò Lèn, Hà Ngọc huyện Hà Trung) do Lê Liêm dẫn đầu hội quân Thanh Hoá tiến ra Thăng Long phế bỏ người tiếm ngôi Dương Nhật Lễ, lập lại nhà Trần bằng vua Trần Phủ – tức Trần Nghệ Tôn – nhà Trần từ đây thiên vào Thanh Hoá. Năm 1378, quân Chiêm Thành vào cướp Thanh Hoá bị quan quân nhà Trần trấn giữ đánh bại. Năm 1380, quân Chiêm Thành do đích thân vua Chế Bồng Nga chỉ huy lại vào cướp Thanh Hoá bị Hồ Quý Ly đánh bại ở cửa sông Ngu (tức Lạch Trường, Hoằng Trường ngày nay). Năm 1382, quân Chiêm Thành lại vào cướp phá Thanh Hoá, bị Nguyễn Ða Phương đánh bại ở cửa Thần Ðầu (tức Thần Phù, huyện Nga Sơn ngày nay). Năm 1389, quân Chiêm Thành lại vào cướp phá Thanh Hoá, Hồ Quý Ly chống không nổi phải bỏ chạy. Quân Chiêm Thành tiến ra Bắc. Năm 1390, tướng chỉ huy nhà Trần ở Thanh Hoá là Trần Khát Chân cản phá được quân Chiêm Thành, giết chết Chế Bồng Nga, chấm dứt vĩnh viễn sự quấy rối của các vua Chiêm Thành.

Mùa xuân năm 1397, xây dựng xong thành đá Tây Giai ở động Thiên Tôn (nay là đất xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc). Tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly lên ngôi vua ở thành này, thay nhà Trần, đổi tên nước là Ðại Ngu (nghĩa là rất an vui và cùng lo việc nước), bỏ kinh đô Thăng Long, lấy thành đá mới làm quốc đô gọi là Tây Ðô. Nhà Hồ phát hành tiền giấy thay cho tiền đồng đúc từ năm 1396, đến năm 1400 định lại giá kim ngạch cho thêm chặt chẽ. Năm 1402, nhà Hồ hoàn thành việc xây dựng con đường Thiên Lý từ Tây Ðô ra Ðông Quan (tức Thăng Long cũ) và từ Tây Ðô vào Hoá Châu (vùng Quảng Bình ngày nay) dọc đường đặt nhà trạm, phố xá và bưu dịch có hệ thống. Sau một năm chiến đấu ngoan cường nhưng thất bại, năm 1407, nhà Hồ và nước Ðại Ngu mất vào tay quân xâm lược nhà Minh.

Mùa xuân, tháng Giêng ngày mồng 2 năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi cùng với những người tài giỏi trong cả nước khởi nghĩa ở Mường Chính (nay là huyện lỵ Lang Chánh) tiến về Khả Lam (tức Lam Sơn) bắt đầu cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh (Trung Quốc) giải phóng đất nước. Lê Lợi xưng là Bình Ðịnh Vương, người hương Lam Sơn, huyện Lương Giang (nay là xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân). Bình Ðịnh Vương chiến đấu ở Thanh Hoá 6 năm, các trận đánh lớn diễn ra ở Lam Sơn, Mường Một (vùng Bát Mọt, huyện Thường Xuân ngày nay), Mường Chính, Bến Bổng (vùng thượng du sông Âm), Ba Lẫm (vùng Chiềng Lẫm, huyện Bá Thước ngày nay), Kình Lộng (vùng Cổ Lũng, huyện Bá Thước), Úng Ải (vùng đèo Thiết Ống, huyện Bá Thước), Sách Khôi (ở khoảng giữa huyện Bá Thước và huyện Hoàng Long – Ninh Bình và huyện Thạch Thành – Thanh Hoá), Ða Căng (vùng Thọ Nguyên, Thọ Xuân), có trận phía địch có tới 10 vạn quân như ở Kình Lộng. Mùa đông năm 1424, Bình Ðịnh Vương tiến quân vào Nghệ An theo kế sách của Nguyễn Chích. Mùa thu năm 1426, quân khởi nghĩa tiến ra Bắc bao vây Ðông Quan. Ngày 17 tháng 9 năm Bính Ngọ (1426), Bình Ðịnh Vương đến Lỗi Giang (vùng đất các huyện Thạch Thành, Vĩnh Lộc ngày nay) chỉ huy bao vây Tây Ðô. Cuối năm 1426, Bình Ðịnh Vương ra Bắc chỉ huy giải phóng các miền đất Giao Chỉ (Bắc Bộ ngày nay), và vây hãm thành Ðông Quan. Ngày 22 tháng 01 năm Ðinh Mùi (1427), giặc Minh đầu hàng. Mùa xuân năm sau – giặc rút về, đất nước sạch bóng quân thù, thành Tây Ðô lại về Ðại Việt. Ngày 15 tháng giêng năm Mậu Thân (1428), Bình Ðịnh Vương lên ngôi hoàng đế nước Ðại Việt, thủ đô là Ðông Kinh (tức Ðông Quan, thủ đô Hà Nội ngày nay). Cả nước chia làm 3 đạo hành chính lớn, Thanh Hoá thuộc đạo Hải Tây trong số các trấn ven biển Tây Ðô.

Tháng 11 – Kỷ Dậu (1429), vua Lê Thái Tổ về bái yết Sơn Lăng, Lam Sơn, sau 10 năm chiến đấu giành độc lập cho đất nước thắng lợi. Mùa Hè năm Canh Tuất (1430) đổi Tây Ðô làm Tây Kinh và Ðông Ðô (Hà Nội) làm Ðông Kinh. Ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu (1433), Lê Thái Tổ mất, một tháng sau đem về an táng ở Lam Sơn, gọi nơi an táng là Vĩnh Lăng. Tháng 12 năm Quí Sửu (1433) xây dựng điện Lam Sơn (gọi là Lam Kinh). Ngày 7 tháng 01 Giáp Dần (1434), điện Lam Kinh bị cháy (cháy lần thứ nhất). Tháng 9 Mậu Thìn (1448): xây dựng lại Lam Kinh do Thái uý Trịnh Khả chỉ huy. Từ Mậu Ngọ (1438) đến Mậu Tý (1468), 3 lần khơi đào các kênh trong xứ Thanh Hoá. Năm Bính Tý, tháng 4 (1516), Trịnh Duy Sản giết vua Lê Tương Dực, lập vua Lê Chiêu Tông rước về Tây Kinh.

Họ Mạc cướp ngôi vua Lê ở Thăng Long. Quan Ðiện tiền tướng quân là Nguyễn Kim – người Hà Trung lập căn cứ ở Thanh Hoá chống lại họ Mạc. Năm 1533 (Quí Tỵ), ông này đưa được Lê Ninh (con vua Chiêu Tông) lên ngôi tức Lê Trang Tông đánh chiếm Tây Kinh (1545) thắng lợi. Ðến năm 1545 (Ất Tỵ), Nguyễn Kim mất, con rể là Trịnh Kiểm lên thay, đánh nhau nhiều trận lớn với họ Mạc ở Thanh Hoá, 17 lần quân Mạc đều thua.

Từ năm 1533 đến 1592, triều đình nhà Lê ở Thanh Hoá, quản lý đất nước từ Thanh Hoá trở vào, đóng đô ở Yên Trường (nay thuộc Yên Ðịnh) mở nhiều khoa thi, chọn người hiền tài tham gia chính quyền. Năm 1593, Trịnh Tùng – con trai Trịnh Kiểm, kế tục cha tiêu diệt họ Mạc, đưa vua Lê Thế Tông trở lại Thăng Long, lập phủ chúa, Ðàng Ngoài do vua Lê – Chúa Trịnh trị vì từ năm 1599. Trong thời đó, năm 1588, Nguyễn Hoàng (con trai của Nguyễn Kim) vào trấn thủ xứ Thuận Hoá, mở đầu sự nghiệp các Chúa Nguyễn ở Ðàng trong. Năm 1738, Lê Duy Mật (con vua Lê Dụ Tông Duy Ðường) khởi nghĩa chống Chúa Trịnh, địa bàn hoạt động rộng khắp Tây Nam, Tây, Tây Bắc Thanh Hoá và vùng Tây Bắc lẫn Tây Bắc Bộ. Năm 1770, Duy Mật bị con rể phản bội phải thua và tự sát với vợ con, chấm dứt 32 năm chiến đấu. Từ năm 1557 đến 1786, Thanh Hoá bị 10 trận bão lụt lớn xen đại hạn, 15 lần đói to chết nhiều người và 16 cuộc chiến giữa quân Trịnh – Mạc, những tai hoạ ấy không hề có ở thời Lê sơ.

Những năm quân Tây Sơn tiến công ra Bắc, quân dân Thanh Hoá do Lê Trung Nghĩa (tức Quận Mãn) chỉ huy chống lại rất dữ dội, Lê Trung Nghĩa tử trận ở Tĩnh Gia.

Quân đội Tây Sơn phá huỷ hoàn toàn Lam Kinh và kinh đô An Trường biểu tượng của các vua Lê và còn phá huỷ nhiều chùa chiền miếu mạo khác. Năm 1790, con vua Quang Trung là Quang Bàn được cử ra trấn thủ Thanh Hoá. Năm 1792, ông tách ra 2 phủ Trường An và Thiên Quan của Thanh Hoa ngoại thành trấn Thanh Bình (tức Ninh Bình ngày nay).

Ðặc biệt, triều đình ra lệnh không được đào bới khai mỏ gì ở Thanh Hoá sợ rằng xúc phạm đến oai linh của xứ sở. Nhà Nguyễn xây lăng tổ khai sáng ở Triệu Tường (Hà Trung), thành Triệu Tường lớn thứ 2 sau thành Thanh Hoá, chu vi 182 trượng (1 trượng = 4m), xây dựng lại Lam Kinh để tỏ lòng kính ngưỡng nhà Lê, dựng đền thờ các vua Lê ở Kiều Ðại (TP Thanh Hoá), hằng năm cắt cử các quan lại thay mặt nhà vua cúng tế và tổ chức phòng thủ ở Thanh Hoá rất hùng mạnh gồm một hệ thống 11 đồn binh có quân chính qui trấn giữ 7 bảo súng (pháo đài), 1 đồn thuỷ với 44 khẩu đại bác (súng thần công) mỗi đợt tuyển quân lấy của Thanh Hoá hơn 7.000 người. Ngày 25/11/1885, quân xâm lược Pháp lần đầu tiên tiến công Thanh Hoá. Trước đó, ngày 5 tháng 7, Tôn Thất Thuyết cùng vua Hàm Nghi tuyên bố chọn Thanh Hoá làm thủ phủ kháng chiến, nên tinh thần Cần Vương của quân dân Thanh Hoá rất sôi sục. Vùng rừng núi Thanh Hoá được xây dựng những sơn phòng tích trữ tiền của, lương thảo để chuẩn bị đánh giặc. Ba tháng sau (12/3/1886), nghĩa quân Cần Vương đã tiến đánh quân Pháp đóng ở thành Thanh Hoá. Mùa hè năm 1886, nghĩa quân lập bộ chỉ huy kháng chiến toàn Thanh Hoá do Tống Duy Tân đứng đầu và lập chiến khu ở Ba Ðình (Nga Sơn). Từ 18/12/1887, chiến sự dữ dội nhất giữa quân Việt Nam và Pháp đã nổ ra ở Ba Ðình. Quân Pháp phải tập trung trên địa bàn một số xã ở đây lượng binh lính lớn nhất so với toàn quốc (6.000 người trong một trận) để chiến đấu và bị thiệt hại nặng nề. Cuối cùng vì không được tiếp ứng như kế hoạch dự kiến, nghĩa quân do Ðinh Công Tráng chỉ huy đã rút lui an toàn khỏi các chiến luỹ. Ngày nay quảng trường trọng đại nhất của đất nước mang tên chiến khu này, đó là quảng trường Ba Ðình lịch sử ở thủ đô Hà Nội. Các cuộc chiến đấu chống quân đội Pháp ở Thanh Hoá đến giữa năm 1895 mới chấm dứt cùng với hàng ước của nhà Nguyễn. Thanh Hoá và các tỉnh miền Trung Việt Nam vẫn nằm trong nền độc lập hạn chế của nhà Nguyễn không bị Pháp cai trị trực tiếp. Thực tế chính quyền thuộc địa Pháp chỉ cai quản địa phận thị xã Thanh Hoá được thành lập ngày 12/7/1899 ở khu đất phía Ðông thành Thanh Hoá mà thôi. Năm 1918, chế độ thi cử tuyển hiền tài, kiểu Nho giáo ở Thanh Hoá mới bãi bỏ. Thanh Hoá bắt đầu hình thành xã hội phong kiến nửa thuộc địa hiện đại hoá.

Các năm 1926 – 1927, các tổ chức cách mạng đầu tiên ở Thanh Hoá ra đời. Ngày 25/6/1930, chi bộ Ðảng Cộng sản đầu tiên thành lập ở làng Hàm Hạ (thuộc xã Ðông Tiến, huyện Ðông Sơn), và ngày 29/7/1930, đã thành lập Ðảng bộ tỉnh, Bí thư Tỉnh uỷ đầu tiên là đồng chí Lê Thế Long.

Tháng 9/1942, Tỉnh bộ Việt Minh Thanh Hoá thành lập. Ngày 24/7/1945, nhân dân huyện Hoằng Hoá giành chính quyền huyện thắng lợi. Ngày 19/8/1945, nhân dân thành phố Thanh Hoá và một số huyện tiến hành tổng khởi nghĩa thắng lợi. 4 ngày sau, cách mạng thành công trên toàn tỉnh. Ngày 23/8/1945, chính quyền cách mạng tỉnh Thanh Hoá ra mắt đồng bào ở thị xã Thanh Hoá. Ngày 2/9/1945, Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Cùng với cả nước, lịch sử Thanh Hoá bước vào thời kỳ phát triển mới. Trong thời đại phong kiến, người dân Thanh Hoá đã ghi lại những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước, mở nước và giữ nước của cả dân tộc Việt Nam. Thanh Hoá là nơi phát tích của các vương triều: Tiền Lê, Hậu Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, triều Nguyễn. Trong sự nghiệp cách mạng ngày nay, người dân xứ Thanh cũng góp phần xứng đáng đối với cả nước để xây dựng quê hương mình nhanh chóng trở thành tỉnh giàu đẹp, văn minh./.

Giới Thiệu Đôi Nét Về Tỉnh Thanh Hóa – Công Ty Tnhh Mtv Sông Chu / 2023

Thanh Hoá là một tỉnh lớn của Bắc Trung Bộ có toạ độ địa lý:

            – Điểm cực Bắc: 20040’B (tại xã Tam Chung – huyện Quan Hoá)

            – Điểm cực Nam: 19018’B (tại xã Hải Thượng – Tĩnh Gia)

            – Điểm cực Đông: 106004’Đ (tại xã Nga Điền – Nga Sơn)

            – Điểm cực Tây: 104022’Đ (tại chân núi Pu Lang – huyện Quan Hóa)

Thanh Hoá có lãnh thổ rộng lớn: 11.129,48 km2, là tỉnh có diện tích lớn thứ 5 trong cả nước. Về vị trí địa lý, Thanh Hóa tiếp giáp với các tỉnh và nước bạn như sau:

– Phía Bắc: giáp 3 tỉnh, gồm: Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình với đường ranh giới dài 175km.

            – Phía Nam : giáp Nghệ An với đường ranh giới dài 160 km

            – Phía Đông: giáp biển Đông với chiều dài đường bờ biển 102 km.

            – Phía Tây: giáp tỉnh Hủa Phăn của nước CHDCND Lào với đường biên giới dài 192km.

Thanh hoá nằm ở vị trí trung chuyển giữa các tỉnh phía Bắc và các tỉnh phía Nam nước ta. Trong lịch sử nơi đây từng là căn cứ địa vững chắc chống ngoại xâm, là kho nhân tài vật lực phục vụ tiền tuyến.

Tỉnh Thanh Hoá nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Với 102 km đường bờ biển ở đây có thể phát triển hoạt động du lịch, khai thác cảng biển; có đường quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt xuyên Việt và sân bay Thọ Xuân. Thêm vào đó, Thanh Hóa có quy mô diện tích lớn với nhiều vùng sinh thái khác nhau.

Đặc điểm về vị trí địa lý trở thành một trong những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội của tỉnh Thanh Hóa.

II. Địa chất.

Các chấn động uốn nếp làm nảy sinh hiện tượng tạo sơn mãnh liệt. Đoạn uốn nếp Tam Điệp là mốc kết thúc giai đoạn “biển tiến” tạo ra bán đảo Đông Dương. Do vận động địa chất lãnh thổ Thanh Hoá nâng lên thành núi, đồi uốn nếp, xếp nếp, chia khối phân tầng… phức tạp và đa dạng. Trải qua 120 triệu năm chịu ảnh hưởng của chấn động tạo sơn Himalaya, lục địa Thanh Hoá có hiện tượng nâng lên, lún xuống và tiếp tục bị phong hoá. Kết quả là một số núi biến thành đồi, một số vùng biển được lấp đi thành châu thổ phì nhiêu như hiện nay. Cũng do hiện tượng nâng lên lún xuống, mắc ma trào lên mặt đất và đáy biển hình thành nên những loại đá quý, những dãy núi granit.

III. Địa hình  

Đặc điểm chung:

Địa hình Thanh Hoá khá phức tạp, chia cắt nhiều và thấp dần theo hướng Tây – Đông. Từ phía Tây sang phía Đông có các dải địa hình núi, trung du, đồng bằng và ven biển. Trong tổng diện tích 11.129,48 km2 thì địa hình núi, trung du chiếm 73,3% ; đồng bằng 16% và vùng ven biển 10,7%.

Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành phát triển của địa hình.

Địa hình núi trung du gắn liền với hệ núi cao phía Tây Bắc và hệ núi Trường Sơn ở phía Nam. Đó là dải địa hình nằm ở rìa ngoài của miền Tây Nam Bắc Bộ đang được nâng lên, tiếp giáp với miền sụt võng là các đồng bằng châu thổ. Đây là những khu vực núi thấp uốn nếp được cấu tạo bằng nhiều loại đá khác nhau, từ các đá trầm tích (đá phiến, đá vôi, cát kết, cuội kết, sỏi kết…) đến các đá phun trào (riolit, bazan), đá xâm nhập (granit), đá biến chất (đá hoa). Chúng nằm xen kẽ với nhau, có khi lồng vào nhau và điều đó làm cho phong cảnh thay đổi không ngừng.

Địa hình đồng bằng được hình thành bởi sự bồi tụ của các hệ thống sông Mã, sông Chu, sông Yên.

Còn dải địa hình ven biển như sau: với các đảo đá vôi rải rác ngoài vụng biển, dòng phù sa ven bờ được đưa ra từ các cửa sông đã tạo nên những trầm tích dưới dạng mũi tên cát cô lập dần những khoảng biển ở phía trong và biến chúng thành những đầm nước mặn. Những đầm này về sau bị phù sa sông lấp dần, còn những mũi tên cát thì ngày càng phát triển rộng thêm, nối những cồn cát duyên hải thành những chuỗi dài chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam dạng xoè nan quạt.

Các khu vực địa hình.

Bao gồm  có 3 dạng địa hình: núi và trung du; đồng bằng ven biển.

– Địa hình núi có độ cao trung bình 600 -700m, độ dốc trên 250; ở đây có những đỉnh núi cao như Tà Leo (1560 m) ở hữu ngạn sông Chu, Bù Ginh (1291m) ở tả ngạn sông Chu.

– Địa hình trung du có độ cao trung bình 150 – 200m, độ dốc 12 – 200, chủ yếu là các dạng đồi thấp, đỉnh bằng, sườn thoải. Dạng địa hình này rất đặc biệt, chỉ nhấp nhô lượn sóng và rất thoải.

Dạng địa hình núi và trung du phân bố ở 11 huyện miền núi của tỉnh; là điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành nông – lâm nghiệp với các loại cây lâm sản và các cây như đậu, chè, lạc, mía… các cây trồng nói trên là cơ sở để phát triển ngành chế biến nông – lâm  sản của Thanh Hoá.

– Đồng bằng châu thổ Thanh Hoá được cấu tạo bởi phù sa hiện đại, trải dài trên một bề mặt rộng hơi nghiêng về phía biển ở mé Đông Nam. Rìa Bắc và Tây Bắc là dải đất cao được cấu tạo bởi phù sa cũ của sông Mã, sông Chu, cao từ 2 – 15m. Trên đồng bằng nhô lên một số đồi núi có độ cao trung bình 200 – 300m được cấu tạo bằng nhiều loại đá khác nhau. Còn vùng ven biển phân bố chủ yếu ở các huyện, thị xã: Sầm Sơn, Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương, Tĩnh Gia. Trên địa hình này có các vùng sình lầy ở Nga Sơn và các cửa sông Mã, sông Yên… Vùng đất cát ven biển nằm ở phía trong các bãi cát, có độ cao trung bình từ 3 – 6m, ở phía Nam Tĩnh Gia, chúng có dạng sống trâu do các dãy đồi kéo dài ra biển. Bờ biển của đồng bằng Thanh Hoá là bờ biển phẳng với thềm lục địa tương đối nông và rộng. Trên địa hình ven biển này có nhiều bãi tắm nổi tiếng, như: Sầm Sơn, Hải Hòa, Hải Tiến. Đây là một trong những điểm du lịch hấp dẫn thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.

Về địa hình của Thanh Hoá rất phong phú, đa dạng; là điều kiện để Thanh Hoá phát triển các ngành nông – lâm – ngư nghiệp toàn diện và cho phép chuyển dịch cơ cấu dễ dàng trong nội bộ từng ngành. Nhiều cảnh quan đẹp kết hợp giữa rừng – biển – đồng bằng là điều kiện để phát triển du lịch, dịch vụ. Độ cao chênh lệch giữa các vùng miền núi, trung du, đồng bằng với nhiều hệ thống sông suối, tạo ra tiềm năng thuỷ điện khá phong phú…

IV. TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN.

1. Tài nguyên đất.

Thanh Hóa có 14 nhóm đất chính với 28 loại đất khác nhau, đặc điểm các nhóm đất chính được giới thiệu trong bảng sau:

CÁC NHÓM ĐẤT CHÍNH CỦA THANH HÓA

Ký hiệu Nhóm đất Diện tích (ha) Phân bố

1 2 3 4

E Đất Feralit xói mòn trơ sỏi đá, phát triển trên các đá sa thạch, gnai

Thích hợp với các cây trồng lâm nghiệp lá nhọn, nhu cầu dinh dưỡng không cao

19.998 Phân bố rải rác ở nhiều nơi có địa hình vùng đồi ở Ngọc Lặc, Thường Xuân, Thạch Thành, Bỉm Sơn, Hà Trung, Hậu Lộc, Quảng Xương, Hoằng Hóa

Fh Đất mùn vàng đỏ trên núi

Thích hợp với cây lâm nghiệp và rừng tự nhiên

86.720 Phân bố trên núi cao 800m, như ở Quan Hóa, Lang Chánh, Như Xuân, Thường Xuân, Bá Thước, Quan Sơn, Mường Lát

Fa Đất vàng nhạt trên đá macma axit

Thích hợp với cây ăn quả, cây công nghiệp

136.737 Phân bố ở Quan Hóa, Tây Bắc Lang Chánh, Thường Xuân

Fs Nhóm đất đỏ vàng phát triển trên các loại đá mẹ khác nhau: macma bazơ, trung tính, axit, trầm tích, biến chất…

Thích hợp với cây lâm nghiệp, cây công nghiệp

335.537 Phân bố ở các huyện Thạch Thành, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Bá Thước, Như Xuân, Như Thanh

Fk Đất nâu đỏ phát triển trên đá macma bazơ và trung tính

Thích hợp với cây công nghiệp

44.268 Phân bố rộng rãi ở nhiều vùng thuộc các huyện vùng núi

Fp Đất vàng nhạt trên phù sa cổ

Thích hợp với cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày

16.696 Phân bố rộng rãi ở nhiều vùng thuộc Nông Cống, Tĩnh Gia, Như Thanh

Fq Đất vàng nhạt trên đá cát Thích hợp với cây lâm nghiệp 89.893 Phân bố rộng rãi ở nhiều vùng cát kết cổ thuộc Nông Cống, Tĩnh Gia, Như Thanh

Fj Đất đỏ vàng trên đá biến chất

Thích hợp với cây lâm nghiệp, cây công nghiệp đặc thù

1.525 Phân bố ở huyện Như Xuân

Rr Đất đen

Thích hợp với cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày

3.830 Tập trung nhiều ở vùng núi Nưa

Li,Ly Đất lầy, than bùn

Thích hợp cho việc phát triển đồng cỏ

10.959 Phân bố trên các địa hình trũng khó thoát nước ở các huyện trung du miền núi Như Xuân, Bá Thước, Quan Hóa, Thạch Thành, Lang Chánh, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy

Ba Đất bạc màu phát triển trên đá sản phẩm dộc tụ và trên phù sa cổ

Thích hợp với cây họ đậu và lúa một vụ

26.538 Phân bố trên các địa hình bằng phẳng có nguồn gốc đồng bằng cổ có độ cao tuyệt đối cao hơn các đồng bằng phù sa

P Đất phù sa: Bao gồm loại được bồi hàng năm và loại không được bồi hàng năm, đất phù sa glây và phù sa úng nước vào mùa hè

Thích hợp cho cây lúa

141.275 Tập trung chủ yếu ở đồng bằng, một phần ở ven biển và trung du miền núi thuộc các huyện: Triệu Sơn, Thọ Xuân, Nông Cống, Vĩnh Lộc, Yên Định, Thiệu Hóa, Quảng Xương, Hà Trung, Nga Sơn, Cẩm Thủy

M Đất mặn

Thích hợp trồng cói, nuôi thủy sản và làm muối

12.004 Tập trung ở 6 huyện, thị xã ven biển và khoảng 650ha ở huyện Nông Cống

Cc Đất cát bãi, cát biển (trồng rau quả, cây công nghiệp ngắn ngày)

Thích hợp với cây công nghiệp ngắn ngày, rau màu

15.961 Tập trung ở 6 huyện, thị xã ven biển

Tổng 1.112.033

Nguồn: Theo số liệu điều tra của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,

Địa chí Thanh Hóa, tập 1 và có điều chỉnh với số liệu chung

2. Tài nguyên khí hậu

Do sự tác động của các nhân tố: vĩ độ địa lý, quy mô lãnh thổ, vị trí trong hệ thống hoàn lưu gió mùa trong á địa ô gió mùa Trung – Ấn, hướng sơn văn, độ cao và vịnh Bắc Bộ mà Thanh Hoá có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm với mùa hè nóng, mưa nhiều có gió Tây khô nóng; mùa đông lạnh ít mưa có sương giá, sương muối lại có gió mùa Đông Bắc theo xu hướng giảm dần từ biển vào đất liền, từ Bắc xuống Nam. Đôi khi có hiện tượng dông, sương mù, sương muối làm ảnh hưởng không nhỏ tới cây trồng nông nghiệp.

Nhiệt độ không khí trung bình năm là 22 – 230C, song phân hóa rất khác nhau theo từng tháng và giữa các vùng. Chênh lệch về cực trị của nhiệt độ trong năm cũng rất lớn: mùa hè, nhiệt độ tối cao có thể đạt tới 410C, song về mùa đông, nhiệt độ có thể hạ thấp xuống dưới 20C ở vùng núi, kèm theo sương giá, sương muối.

Lượng mưa trung bình phổ biến là 1.700mm, song có một số vùng đồi núi, lượng mưa lại rất cao. Ở vùng đồi núi, tốc độ gió tương đối đều trong năm, dao động trung bình từ 1 – 2m/s. Còn ở vùng đồng bằng ven biển, tốc độ gió có thể có sự chênh lệch ở các huyện ven biển vào mùa bão lụt từ tháng 6 đến tháng 11. Do sự chi phối của địa hình và những tương tác với các vùng lân cận mà Thanh Hoá có sự phân dị về khí hậu theo vùng, với 3 vùng khí hậu đặc trưng:

            – Vùng đồng bằng, ven biển: có nền nhiệt độ cao, mùa đông không lạnh lắm, ít xảy ra sương muối, mùa hè nóng vừa phải. Mưa ở mức trung bình và có xu hướng tăng dần từ phía Bắc vào phía Nam. Lượng mưa lớn nhất vào tháng 9 và ít nhất vào các tháng 2, 3. Mưa phùn vào các tháng cuối mùa lạnh (1, 2 và 3), đôi khi kéo dài hàng tuần lễ. Có hai thời kỳ khô ngắn và không ổn định vào đầu hè (tháng 5 và 6) và vào các tháng 10, 11. Từ tháng 7 đến tháng 11, có nhiều cơn bão xuất hiện và có thể gây ảnh hưởng lớn đến các huyện ven biển của tỉnh. Thiên tai thường xảy ra là bão, nước dâng trong bão, mưa lớn gây úng, lụt, lũ tập trung vào tháng 9 hàng năm. Hạn và rét đậm kéo dài vào thời gian từ tháng 12 đến tháng 2. Ngoài ra, lốc, vòi rồng, mưa đá có thể xảy ra ở vùng này với tần suất thấp.

            – Vùng trung du: có nhiệt độ cao vừa phải, mùa đông tương đối lạnh, có sương muối nhưng ít. Mùa hè nóng vừa phải, khu vực phía Nam nóng hơn do ảnh hưởng của gió tây khô nóng. Mưa khá nhiều, đặc biệt ở khu vực Như Xuân, Như Thanh, Lang Chánh, Thường Xuân (trên 2.000 mm/năm), Hồi Xuân (1.870mm/năm). Độ ẩm lớn, gió không mạnh lắm. Thiên tai chủ yếu là mưa lớn, gió tây khô nóng, rét đậm kéo dài, lũ đột ngột, kể cả lũ bùn đá, lũ ống và lũ quét. Lượng mưa cao, có khả năng gây lũ ống, lũ quét vào tháng 7 – tháng 8.

            – Vùng đồi núi cao: bao gồm các huyện Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, phần Tây Bá Thước, Yên Khương của Lang Chánh, Yên Nhân, Bát Mọt, Xuân Khao của Thường Xuân. Nền nhiệt độ nói chung thấp, mùa đông khá rét, nhiệt độ thấp nhất có thể dưới 00C, sương muối nhiều và một số nơi có sương giá với tần suất 1 ngày/1 năm. Khi có sương giá, sương muối làm cho một số cây ăn quả có thể bị chết hàng loạt. Vào mùa hè, lũ có thể xuất hiện vào thời gian tháng 7 – 8.

Mùa hè dịu mát, ảnh hưởng của gió tây khô nóng không lớn, biên độ nhiệt năm nhỏ, lượng mưa, số ngày mưa, mùa mưa khác biệt khá nhiều theo các tiểu vùng. Mùa đông ít mưa. Độ ẩm không lớn lắm (trừ khu vực cao trên 800m mới có độ ẩm lớn và mây mù nhiều). Gió nói chung yếu, tốc độ trung bình từ 1,3 – 2m/s.

Lượng mưa lớn, nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào là các điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông lâm ngư nghiệp. Với chế độ nhiệt ẩm như vậy, đồng thời do sự phân dị phức tạp về địa hình mà Thanh Hoá có nhiều vùng có chế độ vi khí hậu khác nhau, tạo điều kiện phát triển các cây trồng nhiệt đới và cả các cây trồng á nhiệt đới, tạo nên sự đa dạng của hệ thống cây trồng. Tuy nhiên, cũng như các tỉnh vùng núi phía Bắc có mùa đông lạnh, khí hậu vùng núi Thanh Hoá cũng thường xuất hiện các hiện tượng thời tiết đặc biệt như sương muối, sương giá vào mùa đông, bão, lụt, áp thấp nhiệt đới về mùa mưa và hạn hán về mùa khô, ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp và đời sống con người. Vì vậy, việc lựa chọn cây trồng thích hợp với từng tiểu vùng khí hậu là điều cần thiết.

3. Tài nguyên nước và mạng lưới sông ngòi

3.1. Tài nguyên nước

Tài nguyên nước của Thanh Hoá khá phong phú. Tổng lượng nước mưa rơi xuống lãnh thổ hàng năm là 19 tỷ mét khối, lượng bốc hơi trung bình là 9 tỷ mét khối, còn lại 9,7 tỷ mét khối nước sinh ra dòng chảy mặt và 0,3 tỷ mét khối sinh ra dòng chảy ngầm. Hàng năm hệ thống sông đổ ra biển 20 tỷ mét khối nước, trong đó có 9,7 tỷ mét khối nước sinh ra trên lãnh thổ Thanh Hoá còn lại là nước sinh ra ở Tây Bắc và Lào.

Modul dòng chảy mặt trung bình 20,4 – 38 lít/s/km2. Vùng đồng bằng biến thiên từ 20 – 30 lít/s/km2, ở miền đồi núi trên 30 lít/s/km2, lớn nhất là tại lưu vực sông Âm: 38 lít/s/km2. Chất lượng nước mặt khá tốt, trừ vùng hạ lưu vào mùa kiệt do chịu ảnh hưởng của thuỷ triều.

Modul dòng chảy ngầm biến thiên từ 2 lít/s/km2 đến 20 lít/s/km2. Khu vực trung lưu sông Mã có modul dòng ngầm trên 20 lít/s/km2. Nhìn chung, chất lượng nước ngầm tốt, trừ một số khu vực ngoại vi thành phố Thanh Hoá, thị xã Sầm Sơn, nước ở tầng mặt đã bị ô nhiễm. Các khu vực cửa sông, ven biển nước ngầm bị nhiễm mặn.

            – Nước ngầm: Ở Thanh Hoá, nước ngầm khá phong phú cả về trữ lượng và chủng loại bởi chúng xuất hiện ở đầy đủ các loại đất đá: trầm tích, biến chất, macma và phun trào. Thanh Hoá có các loại hình nước dưới đất như sau:

* Nước lỗ hổng: Tồn tại trong các thành vách núi, được tạo bởi nguồn gốc trầm tích biển, sông biển tuổi holoxen (tầng QIV), phân bố ở các địa hình đồng bằng bằng phẳng, độ cao tuyệt đối từ 7 đến 15 mét, nằm ở độ sâu từ 0 đến 35 mét. Ngoài ra, còn có nước lỗ hổng trong các thành tạo trầm tích có nguồn gốc sông lũ tuổi pleixtoxen (tầng QI-III), tầng này nằm ở dưới hoặc chỉ lộ ra ở một số vùng chân núi. Cả hai tầng chứa nước này đều có khả năng chứa nước kém, với tỷ lưu lượng từ 0,2 đến 11 lít/s.m, có quan hệ thuỷ lực với nước mặt. Độ tổng khoáng hoá dao động từ 0,1-5g/lít, nhiều nơi, tầng nước này bị nhiễm mặn. Vì vậy, khả năng khai thác chỉ đáp ứng các nhu cầu nhỏ trong sinh hoạt và sản xuất.

* Nước khe nứt: Tồn tại trong các đá cứng nứt nẻ có thành phần khác nhau, phân bố ở các khu vực đồi núi. Nước có chất lượng tốt với độ tổng khoáng hoá < 1mg/lít, song phân bố rất phức tạp phụ thuộc vào cấu trúc địa chất của từng vùng. Hiện nay, việc khảo sát thăm dò các khu vực này còn rất hạn chế.

3.2. Mạng lưới sông suối

            – Các hệ thống sông chính: Thanh Hoá có 5 hệ thống sông chính là sông Hoạt, sông Mã, sông Yên, sông Lạch Bạng và sông Chàng.

+ Sông Hoạt: Sông bắt nguồn từ núi Hang Cửa, vùng Yên Thịnh (Hà Trung) có diện tích lưu vực tính đến cầu Chính Đại (cách cửa sông 13km) là 250km2. Sông dài 55km, chảy qua huyện Hà Trung, thị xã Bỉm Sơn và men theo tạo địa giới giữa huyện Nga Sơn và huyện Kim Sơn (Ninh Bình). Do vị trí của sông nằm trong khu vực ít mưa (dưới 1.500mm), lại chảy qua nhiều vùng đá vôi nên dòng chảy mùa kiệt rất nghèo nàn và bị ảnh hưởng mạnh của thuỷ triều. Vào mùa mưa, do địa hình lòng chảo nên sông tiêu nước chậm và thường xuyên gây úng lũ ở Hà Trung (Hà Bắc, Hà Yên, Hà Giang, Hà Vân) và Nga Sơn.

+ Sông Mã: Đây là hệ thống sông lớn nhất tỉnh. Dòng chính dài 528km, bắt nguồn từ độ cao 800 – 1.000m ở vùng Điện Biên Phủ, sau đó chảy qua Lào (118km) và vào Thanh Hoá ở phía Bắc bản Sóp Sim (Mường Lát). Chiều dài sông Mã ở địa phận Việt Nam là 410km, riêng tỉnh Thanh Hoá 242km. Toàn bộ diện tích lưu vực là 28.106km2, trong đó phần bên nước bạn Lào là 7.913km2, phần Việt Nam là 20.193km2, riêng Thanh Hoá gần 9.000km2. Sông Mã có 89 phụ lưu, các phụ lưu chính trên đất Thanh Hoá gồm suối Sim (40km), suối Quanh (41km), suối Xia (22,5km), sông Luồng (102km), sông Lò (74,5km), Hón Nủa (25km), sông Bưởi (130km), sông Cầu Chày (87,5km), sông Chu (325km). Hệ thống sông Mã có thể cho công suất lý thuyết là 1.890.020Kw, với sản lượng điện là 12,07 tỷ Kw/h. Bình quân trên 1km chiều dài, sông Mã cho 3.578Kw. Hiện đã xây dựng trên hệ thống sông Mã nhà máy thuỷ điện Cửa Đạt có công suất lắp máy 140Mw.

+ Sông Yên. Bắt nguồn từ xã Bình Lương (Như Xuân), ở độ cao 100 – 125m, chảy xuống đồng bằng Nông Cống, Quảng Xương và đổ ra biển ở lạch Ghép. Sông dài 94,2km, trong đó gần 50km ở miền đồi núi. Diện tích lưu vực là 1.996km2. Sông Yên có 4 sông nhánh là sông Nhơm (66,9km), sông Hoàng (81km), sông Lý (27,5km) và sông Thị Long (50,4km).

+ Sông Lạch Bạng bắt nguồn từ vùng núi Huôn, xã Phú Lâm (Tĩnh Gia), ở độ cao 100m, chảy qua vùng núi Tĩnh Gia, tới Khoa Trường bắt đầu xuống đồng bằng và đổ ra biển ở cửa Bạng. Sông dài 34,5km, trong đó 18km ở vùng núi. Diện tích lưu vực là 236km2.

+ Sông Chàng. Đây là con sông duy nhất ở tỉnh đổ ra tỉnh khác (Nghệ An). Sông Chàng là một nhánh của sông Hiếu (Nghệ An). Diện tích lưu vực sông ở đoạn Thanh Hoá khoảng 250km2.

4. Tài nguyên sinh vật

4.1. Thực vật: Do nằm ở vị trí trung gian giữa các hệ thực vật Himalaya, Hoa Nam, Ấn Độ – Myanmar, Malaysia – Indonesia và sự tác động của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa trên nền thổ nhưỡng và địa hình khác nhau, Thanh Hoá có hệ thực vật rất phong phú. Rừng Thanh Hoá tập trung một số loại thảm thực vật tiêu biểu sau:

            – Rừng nhiệt đới ở đai thấp: Các loại rừng này phân bố ở độ cao thường dưới 500m và chiếm diện tích lớn nhất tỉnh. Thành phần loài trong thảm thực vật rất phong phú, các loại cây gỗ chiếm ưu thế là các cây thuộc họ đậu, họ dầu, họ xoan, họ bồ hòn, v.v.. Ở đai thấp, hầu như không có cây hạt trần.

            – Rừng cận nhiệt đới trên núi: Loại rừng phân bố ở độ cao từ 500m tới 1.600m (còn gọi là rừng nhiệt đới trên núi thấp).

            – Rừng trồng: Rừng trồng ở Thanh Hoá đã được chú trọng phát triển từ lâu.

Rừng Thanh Hoá chủ yếu là rừng lá rộng, thường xanh, có hệ thực vật phong phú, đa dạng về họ, loài… Gỗ quý hiếm có lát, pơ mu, trầm hương. Gỗ nhóm II có sa mu, lim xanh, táu, sến. Gỗ nhóm III, IV có vàng tâm, dổi, de, chò chỉ… Các loại thuộc họ tre, nứa có luồng, nứa, vầu, giang, bương, tre. Ngoài ra, còn có mây, song, dược liệu, cánh kiến đỏ…

            – Hệ thống rừng đặc dụng: Theo tiêu chuẩn quốc gia, Thanh Hóa có một số rừng đặc dụng như: Vườn quốc gia Bến En (rộng 16.000ha ở các huyện Như Xuân, Như Thanh), vườn quốc gia Cúc Phương (phần thuộc tỉnh Thanh Hóa gồm các xã Thạch Lâm và Thành Mỹ, huyện Thạch Thành), Khu bảo tồn cây gỗ sến rộng 300ha ở xã Tam Quy, huyện Hà Trung. Khu bảo tồn Pù Luông, Xuân Nha. Ngoài ra, có các khu bảo tồn gen gắn với di tích lịch sử – văn hóa như: khu Lam Kinh (bảo tồn rừng Lim), khu đền Bà Triệu với rừng thông nhựa (xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc), khu vườn rừng Hàm Rồng, khu vườn thực vật thị xã Sầm Sơn.

4.2. Động vật: Những kết quả điều tra cho thấy ở Thanh Hoá hệ động vật rừng rất phong phú và đa dạng, bao gồm cả động vật trên cạn lẫn động vật dưới nước, cả động vật bản địa lẫn động vật di cư đến, cả động vật tự nhiên lẫn động vật do con người tạo ra, v.v.. Thanh Hoá có một số dạng quần cư động vật chính như: quần cư động vật đồng ruộng đồng bằng và đồi thấp; quần cư động vật ở rừng tre, nứa, vầu, giang; quần cư động vật ở rừng cây bụi, trảng cỏ; quần cư động vật ở rừng gỗ và trảng cây; quần cư động vật nước ngọt…

Thanh Hoá có nhiều loài động vật đã được ghi vào sách Đỏ, bao gồm:

– Các loài đang bị tiêu diệt như: nhóm thú voọc mông trắng, voọc vá, voọc đen tuyền, vượn đen bạc má, gấu đen, gấu ngựa, báo mai hoa, hổ, voi, hươu sao, bò tót, sơn dương, trâu rừng; nhóm chim có trĩ, gà lôi; nhóm bò sát, lưỡng cư có rắn hổ mang chúa.

– Các loài sắp bị tiêu diệt: nhóm thú cu li nhỏ, khỉ mặt đỏ, khỉ mốc, khỉ đuôi lợn, voọc xám, báo lửa, báo gấm, cheo cheo nam dương, tê tê, sóc bay; về chim có cò chìa, hồng hoàng; về bò sát lưỡng cư có kỳ đà nước, thằn lằn, rắn hổ trâu, rùa híp, rùa núi vàng, giải. Nhóm động vật không xương sống có trai cóc hình tai, cà cuống; về thú có cầy mực, dơi thuỳ frit, sóc bay lông tai; về chim có bồ nông chân xám, choắt chân vàng lớn, mòng biển mỏ đen; về động vật không xương sống có cua Kim Bôi, cua Cúc Phương. Một số loài khác như tắc kè, rắn cạp nong, rắn hổ mang cũng có nhiều song cũng đang bị săn bắt quá mức nên số lượng suy giảm nhanh chóng…

5. Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên Khoáng sản Thanh Hóa

Thanh Hoá là một trong số ít các tỉnh ở nước ta có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú và đa dạng, có những tiền đề địa chất khá thuận lợi cho các quá trình tạo khoáng. Kết quả điều tra đến nay cũng đã cho thấy lãnh thổ Thanh Hoá có nhiều loại hình khoáng sản khác nhau, bao gồm:

– Kim loại màu và kim loại hiếm: Đã phát hiện thấy 7 mỏ và điểm quặng chì – kẽm, trong đó mỏ Quan Sơn (Tân Trường, huyện Tĩnh Gia) trữ lượng ước tính 121.000 tấn; antimoan có 6 mỏ và điểm quặng phân bố ở Bá Thước, Cẩm Thuỷ, Quan Hoá với trữ lượng phát hiện được là không lớn, song cần điều tra thêm; niken – coban có lẫn trong quặng crômit Cổ Định, trữ lượng khoảng 137.840 tấn niken và 27.570 tấn coban; quặng đồng có ở Lương Sơn (Thường Xuân), nhưng trữ lượng nhỏ; đồng, thiếc và thiếc – vonfram có trữ lượng nhỏ và phân bố ở Thường Xuân (các mỏ Bù Me, làng Tôm và đồi Tròn). Ngoài ra, còn các quặng molipđen, thuỷ ngân ở rải rác nhiều nơi nhưng trữ lượng nhỏ. Riêng quặng vàng, đã phát hiện thấy nhiều mỏ và điểm khoáng sản vàng ở nhiều nơi thuộc Như Xuân, Thường Xuân, Ngọc Lặc, Quan Hoá, Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Bá Thước. Đó là các loại khoáng hoá vàng hoặc vàng gốc thuộc thành hệ thạch anh – vàng – sunfua, đa kim, tồn tại trong các đới dập vỡ, thành mạch riêng của các đá phun trào axit hoặc trong đá vôi. Nhiều điểm mỏ đã được điều tra kỹ như mỏ Ban Công ở Bá Thước trữ lượng cấp C1 đạt 321kg, mỏ Cẩm Quỳ (Cẩm Thủy) trữ lượng cấp C1 đạt 263kg, mỏ Làng Bẹt (Cẩm Thuỷ) trữ lượng cấp C1 đạt 150kg. Ngoài  ra, còn rất nhiều mỏ khác như vàng gốc Cẩm Tân (Cẩm Thủy), vàng gốc làng Nèo, Ban Công (Bá Thước), Eo Khanh, Thạch Cẩm (Thạch Thành), Xuân Chính, Xuân Thắng (Thường Xuân), Thanh Quân (Như Xuân), vàng sa khoáng còn có ở nhiều nơi thuộc huyện Như Xuân, Thường Xuân, Bá Thước, Thạch Thành, Cẩm Thủy.

– Nguyên liệu hoá chất – phân bón: Có secpentin phân bố ở khu vực núi Nưa, là nguồn nguyên liệu quý cho sản xuất phân lân, với trữ lượng 15 triệu tấn và hiện đang khai thác tại bãi Áng (Nông Cống); quặng photphorit có ở Cao Thịnh (Ngọc Lặc) có trữ lượng 74.698 tấn, Hàm Rồng (thành phố Thanh Hoá) có trữ lượng 24.500 tấn, Cao Thịnh – Yên Lâm có trữ lượng 125.000 tấn; quặng đôlômit ở núi Long (thành phố Thanh Hoá) có trữ lượng 4,7 triệu tấn và đồng Vựa (Nga An, huyện Nga Sơn), có trữ lượng 1 triệu tấn. Ngoài ra, photphorit còn có ở nhiều nơi khác trong tỉnh như ở huyện Thường Xuân, Thọ Xuân, Cẩm Thuỷ, Hà Trung. Đôlômit cũng rất phong phú ở Ngọc Long (thành phố Thanh Hoá), Nhân Sơn (huyện Nga Sơn), đây là nguyên liệu trợ dụng cho sản xuất thép, thuỷ tinh ở lò cao. Pyrit cũng có ở nhiều nơi trong tỉnh, là nguyên liệu tốt cho việc sản xuất một số loại hoá chất, hoặc barit là vật liệu cần thiết cho một số ngành sản xuất (như khoan dầu khí, chế tạo cao su…) song trữ lượng còn chưa được đánh giá cụ thể.

– Nguyên liệu cho sản xuất sành, sứ, thuỷ tinh và vật liệu xây dựng: Có cao lanh với tổng trữ lượng ước tính 5 triệu tấn và phân bố ở bến Đìn, làng Cày (Thường Xuân), làng En (Lang Chánh), Kỳ Tân (Bá Thước), Quyền Cây (Bỉm Sơn); sét trắng có trữ lượng nhỏ và phân bố ở núi Bợm (Tĩnh Gia), Tập Cát (Minh Thọ, Nông Cống); quặng macsalit ở Đồng Khang (Triệu Sơn) khoảng 4,3 triệu tấn, Các Sơn (Tĩnh Gia), Mỹ Tân (Ngọc Lặc); quặng fenspat có ở núi Trường Lệ (Sầm Sơn) và núi Hoằng Trường (Hoằng Hoá); cát thuỷ tinh có trữ lượng hàng chục triệu tấn và phân bố ở Tĩnh Gia; đá, cát, sỏi, sét xây dựng có trữ lượng rất lớn và phân bố khá rộng rãi ở nhiều vùng; quặng puzơlan ở Thăng Long (Nông Cống), trữ lượng 4,7 triệu tấn; cát kết chịu lửa ở núi Bợm (Tĩnh Gia); đá hoa có ở nhiều nơi, đáng chú ý là đá hoa khe Cang, Na Mèo (huyện Quan Sơn), Trung Sơn (huyện Quan Hoá), Định Thành (Yên Định), Yên Duyên (Bỉm Sơn), núi Vức (Đông Sơn); đá vôi làm xi măng trữ lượng trên 370 triệu tấn, chất lượng tốt và phân bố khá rộng rãi.

             – Nhiên liệu: Than bùn có ở tất cả các huyện với tổng trữ lượng 3 triệu tấn; than đá có trữ lượng nhỏ và phân bố ở Cẩm Yên, Cẩm Ngọc, Cẩm Phú, Phúc Mỹ (Cẩm Thuỷ), Tuy Hoá (Đông Sơn), Hà Long (Hà Trung), v.v..

Ngoài ra, Thanh Hoá còn một số loại khoáng sản khác: thạch anh tinh thể ở Thường Xuân; đá quý như topa, canxedoan, berin ở Thường Xuân; graphit ở Quan Hoá; nước khoáng ở một số điểm thuộc các huyện Thường Xuân, Bá Thước, Lang Chánh và Quan Hoá.

6. Tài nguyên biển và ven biển

Bản đồ tài nguyên biển Thanh Hóa

Vùng biển Thanh Hoá có diện tích 17.000 – 18.000km2, gấp 1,6 lần diện tích đất liền. Đường bờ biển có dạng cánh cung dài 102km. Bờ biển tương đối phẳng, nhưng bị chia cắt bởi 7 cửa lạch. Các cửa sông đều là những khu vực tự nhiên rất nhạy cảm và có năng suất sinh học cao. Từ Nam Sầm Sơn đến Quảng Xương có inmenhit, trữ lượng 73.500 tấn. Đây là loại nguyên liệu quan trọng để sản xuất que hàn, men sứ. Bờ biển Tĩnh Gia có trữ lượng lớn cát trắng để sản xuất thuỷ tinh. Các bãi triều rộng ở Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương… là nơi nuôi trồng thuỷ sản. Ven bờ cũng có nhiều đồng muối ở Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Quảng Xương, Tĩnh Gia.

Ven biển Thanh Hoá có đảo hòn Nẹ cao, đảo hòn Mê, cụm đảo Nghi Sơn và hàng loạt đảo nhỏ như: hòn Đót, hòn Miệng, hòn Vạt, hòn Góc, v.v.. Diện tích đảo của tỉnh khoảng 800ha. Về mặt tài nguyên và môi trường, có thể xây dựng các khu bảo tồn biển xung quanh các đảo nhằm bảo vệ sự đa dạng sinh học biển đồng thời cũng là cơ sở cho hoạt động du lịch. Với vị trí của mình các đảo này có vai trò tiền tiêu trong việc bảo vệ đất liền song các đảo này cũng chính là điểm tựa để phát triển kinh tế hướng ra biển.

Dải ven bờ biển Thanh Hoá có diện tích bãi triều trên 8.000ha (chưa tính bãi triều 2 huyện Nga Sơn và Hậu Lộc mỗi năm bồi tăng thêm từ 10 – 50m) là nguồn tài nguyên lớn về nuôi trồng thuỷ sản nước lợ như tôm sú, tôm he, cua và rong câu… Diện tích nước mặn khoảng trên 5.000ha, phân bố chủ yếu ở vùng đảo Mê, Biện Sơn có thể nuôi cá song, cá cam, trai ngọc, tôm hùm dưới hình thức nuôi lồng bè. Ngoài ra với hàng ngàn hecta vùng nước mặn ven bờ, thuận lợi nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ như ngao, sò, ngán… Đặc biệt là với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, khu kinh tế Nghi Sơn đã và đang được xây dựng (theo Quyết định 102/2006 của Thủ tướng Chính phủ) với nhiều hạng mục công trình lớn như: cảng nước sâu, nhà máy xi măng, sân bay… sẽ mở ra nhiều hướng phát triển mới cho dải ven biển nói riêng cũng như cho cả tỉnh nói chung.

B. Đặc điểm dân cư và kết cấu hạ tầng kỹ thuật:

I. ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ.

1. Dân số và mật độ dân cư.

Theo Niên giám Thống kê Thanh Hóa năm 2014, tỉnh Thanh Hoá có 3.496.600 người, là tỉnh có số dân đông thứ ba trong cả nước (sau thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội) và là tỉnh đông dân nhất so với sáu tỉnh Bắc Trung Bộ. Thanh Hoá là tỉnh có nhiều đơn vị hành chính nhất cả nước với 27 đơn vị hành chính cấp huyện và tương đương, có 579 xã, 30 phường, 28 thị trấn và 6.031 thôn, xóm, bản làng; trong đó có 184 xã miền núi và 12 thị trấn miền núi (số liệu năm 2014). Tỉnh có 6 huyện, thị xã thuộc vùng ven biển, 11 huyện thuộc vùng núi và 10 huyện, thị xã, thành phố thuộc vùng đồng bằng.

Đặc điểm hành chính thể hiện tiềm năng to lớn về mặt xã hội của tỉnh, song cũng có không ít khó khăn, phức tạp cho việc quản lý kinh tế – xã hội trên địa bàn.

Là tỉnh có nhiều thành phần dân tộc, trong đó người Kinh chiếm tỷ lệ lớn nhất (84,4%), người Mường (8,7%), người Thái (6%). Các dân tộc thiểu số khác như Mông, Dao, Tày, Sán Dìu, Hoa, Cao Lan, Thổ… chiếm tỷ lệ không đáng kể (gần 1%). Tính đa dạng về thành phần dân tộc là lợi thế cho sự phát triển văn hóa, du lịch song cũng là những khó khăn cho sự phát triển đồng đều giữa các vùng miền trong tỉnh.

Do dân số tăng nhanh trong các thập kỷ trước, nên hàng năm Thanh Hoá vẫn có thêm gần ba vạn người bước vào tuổi lao động. Đây là một vấn đề lớn của xã hội và để giải quyết việc làm cho người lao động, cần phải có sự chuyển dịch nhanh và đa dạng hoá cơ cấu nền kinh tế. Năm 2010, nguồn lao động của Thanh Hoá có 2.116,4 người; năm 2011 là 2.152,0 người, trong đó người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động chiếm 97,7% và người ngoài độ tuổi lao động thực tế có tham gia lao động chiếm 2,3%. Đến năm 2014, số người trong độ tuổi lao động của Thanh Hóa là 2.209,5 người. Việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đặc biệt là khu vực kinh kế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm thị phần ngày càng cao tại Thanh Hóa đã phần nào giảm được lực lượng lao động làm việc trong khu vực kinh tế nhà nước và lực lượng lao động nông nghiệp khu vực nông thôn, tăng nguồn lao động làm việc trong các khu vực kinh tế ngoài quốc doanh.

Sự chuyển dịch cơ cấu lao động của tỉnh diễn ra với tốc độ chậm; tỷ lệ lao động trong khu vực kinh tế truyền thống (nông, lâm, ngư nghiệp) vẫn rất lớn (71,83%). Trong nông nghiệp phần lớn lao động tập trung trong ngành trồng trọt. Số lao động tham gia ngành chăn nuôi và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp rất ít. Cơ cấu lao động này đang cản trở quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá lãnh thổ. So sánh với cả nước và trên thế giới thì tỷ lệ lao động của khu vực nông, lâm, ngư đang giảm nhanh và chiếm tỷ lệ thấp, tỷ lệ lao động làm trong khu vực công nghiệp, xây dựng giảm và tỷ lệ lao động làm trong khu vực dịch vụ tăng lên…

Cũng theo Niên giám Thống kê Thanh Hóa năm 2014; tính bình quân, số người đang làm việc trong các ngành kinh tế ở Thanh Hoá luôn chiếm trên 80%, khá cao so với cả nước. Tỷ lệ này đang tăng lên một cách chậm chạp (từ 2.074,1 người năm 2010 lên đến 2.161,6 người năm 2014), song vẫn phản ánh tốc độ đột phá trong kinh tế còn chậm. Điều đó cũng bị ảnh hưởng một phần bởi chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh ta còn hạn chê; nếu năm 2010 toàn tỉnh chỉ có 16,2% nguồn lực lao động đã qua đào tạo thì đến năm 2014, chỉ số này chỉ tăng lên là 18,9%. Trong khi đó, số người trong độ tuổi lao động không có việc làm tăng từ 2,00% năm 2010 lên 2,14% năm 2012 trong tổng số nguồn lực lao động Thanh Hóa. Đến năm 2014, nhờ một số thay đổi lớn trong cải cách thủ tục hành chính đã đẩy mạnh việc thu hút đầu tư, nhiều nhà máy, xí nghiệp được đầu tư xây dựng đã giải quyết được một số lượng lớn nguồn lao động dư thừa của địa phương; nhờ đó tỷ lệ người lao động thất nghiệp của Thanh Hóa lại giảm xuống còn 2,00% trong tổng số lực lượng lao động. Số người ngoài độ tuổi lao động thực tế có tham gia lao động cũng giảm xuống.

Tuy nhiên, tình trạng đó vẫn là một thách thức lớn đặt ra với việc giải quyết việc làm cho người lao động, song cũng thể hiện tiềm năng sức lao động của tỉnh là còn khá lớn. Nếu biết huy động được mọi khả năng về nguồn lao động một cách phù hợp thì sẽ tạo nên những đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế, xã hội.

Về mức thu nhập, năm 1995, GDP bình quân đầu người chỉ 212 USD, năm 2000 chỉ 293 USD và năm 2001 là 319 USD, đến năm 2005 đạt 430 USD (so với bình quân cả nước là 543 USD), tốc độ tăng đạt 8,5% (cả nước là 7,6%). Sự phân bố giàu nghèo cũng rất không đồng đều giữa các vùng, trong đó, các huyện vùng ven biển như Nga Sơn, Hậu Lộc và đặc biệt là các huyện vùng núi phía Tây thì tỷ lệ hộ nghèo còn chiếm rất cao (Ngọc Lặc: 21,8%, Mường Lát: 25,8%), đây là vấn đề bức xúc và khó khăn cần giải quyết trong kế hoạch phát triển kinh tế của tỉnh. Tính đến năm 2005, tổng sản phẩm theo giá so sánh trên địa bàn của tỉnh đạt 11.910 tỷ đồng, tăng bình quân năm thời kỳ 2001 – 2005 là 9,1%. Cơ cấu GDP của Thanh Hóa là: nông lâm nghiệp, thủy sản 31,6%, công nghiệp và xây dựng 35,1%, các ngành dịch vụ 33,3% (tỷ lệ này so với cả nước là: 21,8%, 40,1% và 38,1%). Giá trị xuất khẩu bình quân đầu người năm 2005 mới đạt 28,6 USD (cả nước là 323 USD). Tỷ lệ này cho thấy tốc độ công nghiệp hóa và các ngành dịch vụ, xuất khẩu còn phát triển ở mức thấp.

Sau nhiều đổi mới, cải cách trong thủ tục hành chính cũng như kêu gọi đầu tư; đến năm 2014, tình hình kinh tế – xã hội của tỉnh đã có bước tăng trưởng khá. Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GDP) năm 2014 theo giá so sánh năm 1994 tăng 11,6% so với năm 2013 (năm 2013 tăng 11,2%); trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4,8%; khu vực công nghiệp, xây dựng tăng 13,5%; khu vực dịch vụ tăng 12,0%. Trong 11,6% tăng trưởng của năm 2014; ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,8%; ngành công nghiệp, xây dựng 6,8%; các ngành dịch vụ 4,0%. Cơ cấu GDP chuyển dịch theo hướng tăng dần khu vực II (công nghiệp, xây dựng) từ 40,0% lên 40,9%, khu vực III (các ngành dịch vụ) giữ như năm 2013 là 40,3%; giảm khu vực I (nông, lâm nghiệp, thuỷ sản) từ 19,7% xuống còn 18,8%. Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành bình quân đầu người năm 2014 ước đạt 28,9 triệu đồng, nếu tính theo USD đạt 1.365 USD. Nhờ những kết quả tích cực đó, tỷ lệ hộ nghèo trong những năm qua của Thanh Hóa đã giảm xuống một cách rõ rệt; nếu như năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh chiếm 24,86% thì đến năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh giảm xuống còn 9,90%.

Về chất lượng môi trường sống, đến nay đã được cải thiện nhiều ở quy mô rộng trong toàn tỉnh, song còn ở mức trung bình. Số liệu thống kê tới năm 2014, cho thấy số lượng bác sĩ bình quân cho 1 vạn dân là 7,30 người; số giường bệnh tính bình quân trên 1 vạn dân là 21,15 giường; tỷ lệ trạm y tế cấp xã, phường, thị trấn có bác sỹ chiếm 71,43%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng năm 2005 là 32,3%, đến 2014 đã giảm xuống còn 18,20%. Bước đầu Thanh Hóa đã thực hiện được chữa bệnh miễn phí cho người nghèo và cho trẻ em dưới 6 tuổi. Tỷ lệ sử dụng thuê bao điện thoại, tăng một cách chóng mặt; nếu như năm 2005, tỷ lệ máy điện thoại cho 1.000 dân là 42 (bình quân cả nước là 121) thì đến năm 2010 phải tính bằng đơn vị số người sử dụng thuê bao di động là 1.905,3 người và đến năm 2014 thì tỷ lệ này đã lên đến 2.750,4 người. Tỷ lệ người dân được dùng điện sinh hoạt là 99,2% (2010) đến nay đã đạt 100%. Các cơ sở phúc lợi xã hội như nhà văn hoá, trạm y tế đã được đầu tư, nâng cấp. 56,5% phòng học đã được kiên cố hóa với tốc độ phát triển nhanh, mỗi năm tăng thêm 6%. Truyền hình đã phủ kín 100% các làng bản vùng sâu, vùng xa trên địa bàn toàn tỉnh, nâng tổng số giờ phát sóng lên đến 4.298 giờ trong năm 2014, với đa dạng bằng nhiều thứ tiếng, trong đó có cả tiếng dân tộc và tiếng nước ngoài. Tỷ lệ các phường, xã có nhà văn hoá, có bưu điện đạt 100%; khoảng 87% số hộ gia đình có đời sống vật chất tinh thần nâng lên nhiều so với trước. Toàn tỉnh đã có 76,0% (2014) hộ dân cư từ cấp thôn, bản, xã, phường trở lên đạt chuẩn văn hóa. Các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa, hoạt động thể thao, dân số kế hoạch hóa gia đình đã luôn được chú trọng, góp phần làm nâng cao chất lượng sống của người dân.

Để đáp ứng nhu cầu về nguồn lao động, Thanh Hóa đã có sự chú trọng trong việc đào tạo nguồn lao động. Đến năm 2015, hệ thống đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh đã phát triển khá mạnh mẽ, bao gồm 2 trường Đại học, 1 Phân viện Đại học, 1 cơ sở Đại học của trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, 1 trường Dự bị Đại học Dân tộc, 1 trường Chính trị, 11 trường Cao đẳng (gồm: Cao đẳng thực hành FPT Polytechnic, Cao đẳng Y tế Thanh Hóa, Cao đẳng Thể dục thể thao Thanh Hóa, Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Miền Trung, Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công thương, Cao đẳng Nông Lâm Thanh Hóa, Cao đẳng nghề Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thanh Hóa, Cao đẳng nghề Lilama 1, Cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa, Cao đẳng nghề Lam Kinh, Cao đẳng nghề An Nhất Vinh) và nhiều hệ thống trường Trung cấp hệ trung ương, địa phương, trường dạy nghề; các trung tâm dạy nghề, trung tâm dịch vụ việc làm, trung tâm khuyến nông – khuyến ngư; các trung tâm giáo dục thường xuyên – dạy nghề cấp tỉnh, cấp huyện, các cơ sở dạy nghề khác và gần 1000 trung tâm học tập cộng đồng ở các xã, phường, thị trấn. Kết quả đào tạo đã từng bước tiếp cận với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và tiến bộ khoa học kỹ thuật, dần nâng cao được chất lượng nguồn nhân lực.

2. Các dân tộc thiểu số ở Thanh Hóa.

2.1. Dân tộc Thái.

– Nguồn gốc và sự hình thành dân cư:

Thế kỷ thứ XI, sách “Đại Việt sử ký toàn thư” mới chép về một cộng đồng Thái tộc. Đó là một cộng đồng người gọi là Ngưu Hống, họ có chữ viết như chữ của người Ai Lao, một cư dân thuộc ngôn ngữ Tày – Thái. Bộ tộc này được xem như là tổ tiên của người Thái hiện nay. Đời vua Lê Thái Tổ (1418 – 1433) ở miền Tây Bắc Việt Nam đã có 15 – 16 đời tù trưởng (tính đến đời tù trưởng Đèo Cát Hãn) Thái trị vì – họ từ miền Bắc Hà di cư xuống đây tập trung và đông nhất là mường Then (vùng đất Điện Biên Phủ ngày nay). Xưa kia vùng đất mường Then có lẽ rộng hơn mường Tè (Lai Châu) đến sông Mã (Sơn La) và một phần tỉnh Phông Sa Lỳ nước Lào nữa. Mường Then có nghĩa là mường Trời, hầu hết dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam, ở Lào và Thái Lan đều nhận mường Then là đất tổ của mình.

Dựa vào kho tàng truyện kể bản Mường (Quắm Tố Mương – viết bằng chữ Thái cổ trên giấy gió, giấy bản) thì tộc người Thái ở Thanh Hóa có mối quan hệ gần gũi và chặt chẽ với người Thái ở Tây Bắc. Theo nhóm tác giả (do Đặng Nghiêm Vạn chủ biên) tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái “suốt trong thiên niên kỷ thứ II, các chúa đất nước Thái thuộc dòng họ Lò Khăm (tiếng Thái Đen) phân nhau ra làm các chủ mường lớn… cũng từ đó, người Thái Đen tản dần sang Lào, vào miền núi Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh…”

Như vậy có thể khẳng định rằng, người Thái từ miền Tây theo hướng Tây Bắc – Đông Nam di cư vào Thanh Hóa, lúc đầu tập trung chủ yếu ở huyện Quan Hóa rồi dần dần tiến xuống theo dọc các dòng sông cho đến khi tiếp giáp với cư dân Mường thì dừng lại. Buổi đầu mới di cư vào “miền đất mới” ở tỉnh Thanh họ có riêng rẽ thành từng mường, mỗi mường do một người đứng đầu dòng họ cai quản, gọi là tạo mường. Trong mường thường có một vài dòng họ sinh sống – mối quan hệ kinh tế, xã hội mang tính chất thân tộc. Bởi vậy dòng họ thường được gắn liền với việc cai quản bản mường. (ví dụ như họ Hà ở mường Chanh, mường Pùng; họ Phạm ở mường Ánh, mường Ca Da…). Mối quan hệ hàng ngày mang tính chất thân tộc cộng với điều kiện kinh tế nương rẫy dần dần hình thành các mường có tính “cát cứ” khu biệt, mỗi mường như một “vương quốc” riêng theo luật lệ Thái quy định. Mỗi mường thường dựa vào sông suối hay núi cao có thung lũng để dựng bản, dựng mường. Yếu tố quyết định đến sự hình thành bản mường người Thái là “con nước” (sông suối). Tục ngữ Thái có câu “Táy kin nậm” nghĩa là Thái ăn theo nước. Ngày nay trong kho tàng truyện kể dân gian Thái rất phong phú các bài ca ngợi những người đi mở đất, xây dựng bản mường được lưu giữ lại trong cuốn “Quắm tố mương” (chuyện kể bản mường). Tục ngữ Thái có câu “o lóc có noong, xoong hương có bản”  (một vùng nước nhỏ cũng là ao, hai nhà cũng là bản). Như vậy bản là đơn vị tổ chức của một cộng đồng, một thực thể xã hội tồn tại chứa đựng nhiều mối quan hệ  của con người với tự nhiên và xã hội. Do sự hình thành cư dân Thái gắn liền là hạt nhân cấu thành bản. Bản là một tổ hợp của nhiều gia đình nhỏ (có gia đình có nhiều thế hệ, ông, cha, con, cháu cùng chung sống trong một nóc nhà). Trong bản các nóc nhà được bố trí theo kiểu “quần cư mặt tập”. Nếu nhìn toàn cảnh ta thấy đầu hồi nhà nọ sát với hồi nhà kia. Phải chăng đây là tàn dư của buổi đầu dựng bản.

Trong lịch sử hình thành bản Thái thường gắn liền sự tác động của con người với thiên nhiên và sự ra đời của tổ chức hình thái xã hội. Vì vậy, thiên nhiên và xã hội là đối tượng đặt tên cho đơn vị cư trú (bản). Đặt tên bản theo ngoại cảnh là hiện tượng phổ biến (ví dụ như núi Lát có tên là bản Lát, suối Sim có tên bản Sim) vì thế mà người ta dễ hình dung ra địa bàn cư trú của họ có đặc điểm gì là nổi bật. Ngoài hiện tượng đặt tên bản theo tự nhiên, người ta còn đặt tên bản theo ruộng và công trình thủy lợi (Na Tao – na là ruộng) cũng có nơi đặt tên bản theo hiện tượng tâm lý như bản Mòn – nghĩa là mơ ước. Từ đó ta có thể phân loại bản theo hai cách chủ yếu nhất, một là dựa vào sự tác động của con người đối với tự nhiên; hai là phân theo thành phần đẳng cấp xã hội, nhưng càng về sau thì những bản phân chia theo thành phần đẳng cấp chiếm đa số trông xã hội Thái xưa.

Như vậy vì quyền lợi chung mà các bản đã có nhu cầu hình thành một số tổ chức xã hội liên kết. Chính nhu cầu này đã được thực hiện khi cơ cấu tổ chức của mường ra đời. Cũng chính từ quyền lợi chung mà phát sinh ra luật lệ quy định nghĩa vụ của mọi thành viên sống trong tổ chức mường – nghĩa vụ ấy gọi là việc mường. Với sự xuất hiện nghĩa vụ của các thành viên trong việc mường được coi như luật của mường, nên ngoài việc con người dồn sức lao động để tạo ra cơm áo còn có một công việc ở ngoài lĩnh vực sản xuất vật chất đó là công sức bỏ ra trong việc mường – một việc có nhiều ý nghĩa trừu tượng nhưng hàm chứa ý nghĩa của cộng đồng và cho cả cộng đồng. Việc mường rất dễ bị lợi dụng cho mưu cầu lợi ích riêng, nhất là khi kẻ nắm quyền việc mường tham lam tàn ác.

Từ chỗ do nhu cầu tất yếu phải liên kết để tồn tại và phát triển, các dòng họ cũng trên cơ sở ấy mà lớn mạnh, sự lớn mạnh phân hóa dần thành người giàu người nghèo, dựa trên cơ sở phân chia ruộng công. Giai cấp bóc lột cũng từ đó mà ra đời và nó tồn tại mãi cho đến khi hình thành cải cách dân chủ năm 1960 mới chấm dứt.

– Đặc điểm và sự phát triển:

Người Thái ở Thanh Hóa có hai nhánh gọi là Thái trắng (Táy Dọ) và Thái đen (Táy Đăm). Người Thái trắng chủ yếu sống tập trung ở phía Tây Nam huyện Thường Xuân và một số bản giáp với Triệu Sơn. Người Thái đen chiếm đa số, sống tập trung ở các huyện Quan Hóa Bá Thước, Lang Chánh, Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh. Dân số: 209.806 người (1/4/1999), (cả nước có 1.200.000)

Đặc điểm của người Thái trắng và Thái đen về cơ bản giống nhau, chỉ khác nhau ở trang phục phụ nữ, Thái trắng cạp váy ngắn, phần váy thêu hình con rồng. Còn về tiếng nói chỉ khác chút ít về cách phát âm, cùng chung ngữ hệ Tày – Thái. Người Thái có chữ viết riêng, ở nhà sàn; trước đây còn có nhiều thế hệ ở chung trong một nhà, nay thì đã phân chia thành các gia đình theo cặp vợ chồng.

Người Thái ở theo nước, bản làng trù phú đông vui có luật Mường, lệ bản quy định rõ ràng về quyền lợi và nghĩa vụ cho mỗi thành viên trong cộng đồng. Ai vi phạm sẽ bị phạt bằng bạc trắng hoặc rượu, thịt, gạo, trâu, bò.

Trước cách mạng tháng tám năm 1945, vùng cư trú của người Thái có 35 mường, thuộc 6 dòng họ: Họ Hà: 12 mường; họ Phạm Bá: 13 mường; họ Lang: 9 mường; họ Đinh: 1 mường… Trong đó mường Chiêng Vạn, mường Khô, mường Khoòng, mường Ca Da là những mường lớn vì có người của mường là Tri châu.

2.2. Dân tộc Mường.

– Nguồn gốc và sự hình thành dân cư:

Người Mường ở Thanh Hóa phân chia ra Mường trong và Mường ngoài. Người Mường trong theo quan niệm của đồng bào là mường gốc. Người Mường ngoài từ Hòa Bình chuyển vào Thạch Thành và một phần của huyện Cẩm Thủy.

Người Mường trong coi trung tâm của mình là vùng đất Mường Ống của huyện Bá Thước. Ở đây có núi cao, sông Mã chảy qua và có nhiều hang động, có di chỉ khảo cổ Mái đá Điều. Đặc biệt vùng đất này được miêu tả kĩ trong cuốn sử thi Mường “Đẻ đất đẻ nước”. Người Mường ngoài, chủ yếu sống tập trung ở huyện Thạch Thành.

Dựa vào tài liệu sử, khảo cổ, nhân chủng, văn học dân gian… đã được công bố thì người Mường cùng chung một nguồn gốc với người Việt cổ.

Dân cư Mường sinh sống chủ yếu hiện nay là vùng đồi và núi thấp, có khả năng phát triển kinh tế đồi rừng. Địa bàn cư trú của người Mường ở Thanh Hoá tập trung ở các huyện:

Quan Hoá:        11.910 người

Bá Thước:        47.238 người

Lang Chánh:      13.169 người

Ngọc Lặc:         77.430 người

Thường Xuân:     3.062 người

Cẩm Thuỷ:        48.240 người

Thạch Thành:     57.735 người

Như Xuân:        18.780 người

Thọ Xuân:           6.991 người

Triệu Sơn:           4.267 người

Vĩnh Lộc:               743 người

Hà Trung:               945 người

Tổng cộng: 290.519 người (số liệu năm 1993). Đến năm 1999 tăng lên 322.879 người, trong khi cả nước có 914.600 người.

Như vậy, ở các huyện miền núi và các miền của Thanh Hoá đều có người Mường sinh sống. Dân tộc Mường có dân số nhiều nhất (sau đó là Thái) so với các dân tộc ở miền núi Thanh Hoá.

– Đặc điểm và sự phát triển:

Người Mường ở Thanh Hoá sống tập trung ở Ngọc Lặc, Bá Thước, Lang Chánh, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành. Sau này có thiên di vào vùng núi thấp của Quan Hoá, Như Xuân, Thường Xuân và các huyện giáp ranh với miền núi.

Người Mường ở nhà sàn, quần tụ lại thành chòm bản ở chân đồi hoặc gần sông suối. Nguồn sống chủ yếu của đồng bào dựa vào ruộng, rẫy, bãi bồi ven sông suối. Nghề chính của họ là làm ruộng, rẫy. Nghề đan lát chủ yếu là tự túc tự cấp phục vụ cho sinh hoạt trong gia đình. Người Mường có một nền văn hoá lâu đời, dân ca, dân vũ phong phú đa dạng. Người Mường chưa có chữ viết; ngôn ngữ theo nhóm ngôn ngữ Việt Mường.

Trước Cách mạng Tháng Tám, cuộc sống của đồng bào Mường thuộc vào thổ ti lang đạo. Vùng Mường cư trú có 39 mường, thuộc 7 dòng họ cai trị:

Họ Hà 4 mường; họ Phạm 15 mường, họ Lê Xuân 4 mường; họ Trương Công 5 mường; họ Cao 2 mường. họ Quách 2 mường; họ Nguyễn Đình 7 mường.

Trong đó có 4 mường lớn là: mường Dược thuộc họ Nguyễn Đình; mường Lân Ru thuộc họ Quách; mường Chếch thuộc họ Lê Xuân; mường Rặc thuộc họ Phạm.

Về hình thức tổ chức xã hội, bộ máy cai trị và các cách thức chiếm đoạt bóc lột của chế độ thổ ti lang đạo người Mường cũng tương tự như ở người Thái, chủ yếu là dựa vào thẩm quyền và cường quyền để bóc lột.

2.3. Dân tộc H.Mông.

Ở miền núi Thanh Hoá, các dân tộc Thái và Mường chiếm đa số và giữ – vị trí quan trọng về phát triển kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng. Còn các dân tộc H.Mông, Dao, Khơ Mú vừa ít về số lượng, đang sống cảnh du canh, du cư, cho nên liên tục có những biến động lớn. Tuy vậy, mỗi dân tộc đều có sức mạnh riêng và đều tham gia tích cực vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Đồng thời, mỗi dân tộc lại mang sắc thái riêng làm nên sự phong phú, đa dạng của một tỉnh có nhiều dân tộc.

Dân tộc H.Mông ở Thanh Hoá trước 1992 chỉ có một số ít, ở một số chòm. Từ năm 1992, dân tộc H.Mông ở các tỉnh phía Bắc, từ Sơn La và Lào di cư đến, sống tập trung ở xã Pù Nhi, Trung Lý (Mường Lát) theo các cụ kể lại cách ngày nay 4 – 5 đời.

Trước đây đồng bào sống tập trung ở xã Pù Nhi có 14 chòm, một chòm Pù Dứa ở xã Quang Chiểu và một chòm Pù Nghiu ở xã Tam Chung. Có 2 dòng họ Thao và Hớ là 2 dòng họ lớn thay nhau và cùng nhau quản lí; còn các dòng họ Lâu, Sung là những dòng họ nhỏ. Sau Cách mạng Tháng Tám họ mới có điều kiện tham gia công tác xã hội.

Người H.Mông sống du canh du cư. Sau 26 năm vận động định canh định cư ở vùng này đã đem lại cho đồng bào nhiều biến đổi. Trước năm 1945, người H.Mông chỉ có 900 người sống trên đỉnh núi Pù Nhi, vùng Toọng Ma Pa Pứng. Đến năm 1994 dân số tăng lên 5.044 người trong đó có hơn 2.000 người di cư từ năm 1992 vào (từ Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Nghĩa Lộ). (dân số năm 1999: 13.863 người, trong đó di cư từ các nơi đến từ năm 1990 đến nay khoảng 8.000 người (cả nước 558.000).

Địa bàn cư trú của đồng bào H.Mông (cũ và mới) đều tập trung vào vùng núi cao, rừng nguyên sinh đầu nguồn sông suối. Cuộc sống dựa vào đốt rừng làm nương rẫy. Trong những năm vận động định canh định cư đồng bào có khai hoang làm ruộng, song lại bỏ vì thiếu nước.

Tuy ở núi cao, nhưng đồng bào có phong trào đi học tốt do công lao vận động của Anh hùng lao động, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Xuân Trạc. Nhờ có giáo dục phát triển nên 48 cán bộ, giáo viên người H.Mông đã được đào tạo, trong đó có người tốt nghiệp đại học. Giáo dục ở Pù Nhi đã thành điển hình giáo dục vùng cao trong cả nước.

Đặc điểm: có tiếng nói, chữ viết riêng, có những phong tục tập quán đặc biệt để ràng buộc các thành viên trong cộng đồng. Tâm lí của người H.Mông là tư tưởng duy lí mà ta thường quen gọi là lí “mẹo”. Họ đã tin là bất biến, khó làm thay đổi được chính kiến của họ. Trong quan hệ xã hội thì vai trò dòng họ chi phối các mối quan hệ khác. Đôi khi “tộc quyền” chi phối cả “chính quyền”. Hiện nay, vùng đồng bào H.Mông cư trú gặp khó khăn nhất trong tỉnh. Đường giao thông từ huyện đến trung tâm xã, đến các làng còn là đường mòn dốc cao. Nếu như trước đây đồng bào chỉ ở các xã Pù Nhi, Quang Chiểu, thì đến năm 1992 do người H.Mông từ ngoài vào nên địa bàn lan toả ra 7 xã Sơn Thuỷ, Trung Thành, Trung Sơn, Trung Lý, Pù Nhi, Quang Chiểu, Tam Chung ở vùng cao biên giới.

2.4. Dân tộc Dao.

Đồng bào dân tộc Dao ở Thanh Hoá, theo các cụ già kể lại (và có một số dòng họ còn giữ được gia phả), là từ Tuyên Quang, Vĩnh Phú, Quảng Ninh chuyển vào khoảng 4 đến 5 đời.

Khi mới chuyển vào Thanh Hoá, đồng bào sống ở vùng núi cao của huyện Quan Hoá, Bá Thước, Lang Chánh. Từ 1968 có cuộc vận động định canh, định cư, vận động đồng bào xuống núi. Từ các đỉnh núi cao đồng bào tự nguyện sống thành từng xóm lẻ cho đến nay.

Ở vùng cao huyện Mường Lát có 2 nhóm: Chòm Suối Tút (xã Quang Chiểu) và chòm Pù Quăn (xã Pù Nhi), cả 2 chòm có 430 người. Nhóm này gọi là Dao Tiền.

Ở vùng núi thấp của huyện Ngọc Lặc có 3 chòm của 3 xã Phùng Minh, Ngọc Khê và Thạch Lập dân số 1.274 người. Ở huyện Cẩm Thuỷ có 6 chòm thuộc các xã Cẩm Châu, Cẩm Bình và Cẩm Liên, dân số 2.619 người. Nhóm này gọi là Dao Quần Chẹt. Tổng số dân tộc Dao 4.323 người (1994). Năm 1999 có 5.031 người (cả nước 470.000).

Hiện nay cả 11 chòm đều trong vùng vận động định canh, định cư. Đồng bào sống thành từng bản lẻ, xen ghép với đồng bào dân tộc Mường, H.Mông.

Tuy là cư dân sống du canh, du cư và nay là định cư, du canh, nhưng khả năng tiếp nhận và giao tiếp với xã hội bên ngoài của đồng bào rất nhạy bén, trình độ hiểu biết cao hơn so với các dân tộc xung quanh.

Đồng bào Dao dùng chữ Nho để ghi chép, khi đọc phát âm theo tiếng Dao. Ở các chòm đều có người biết chữ Nho, có nơi đã truyền dạy lại cho con cháu. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Mông Dao.

Trong quan hệ xã hội đáng chú ý là quan hệ dòng họ. Người Dao ở Thanh Hóa có họ Đại Triệu là họ lớn ngoài ra còn có họ Bàn, họ Phan, họ Phùng.

Hàng năm đồng bào có làm lễ cấp sắc cho những thành viên trong họ nhằm tăng thiết chế đồng tộc. Trong quan niệm của đồng bào Dao, người nào chưa đưọc cấp sắc thì được tôn trọng, đã cấp sắc rồi thì phải sống chết với đồng tộc.

Nhà cửa đồng bào làm theo kiểu nửa sàn, nửa đất. Đến nay, trừ 2 chòm ở vùng cao, đồng bào Dao ở vùng thấp làm nhà theo kiểu chồng giường bẩy kẻ, theo kiểu nhà người Kinh.

Nguồn sống của đồng bào dựa vào nương rẫy, thực hiện định canh định cư. Đồng bào đã đắp hồ đập xây dựng đồng ruộng, làm vườn nhà, vườn rừng. Các nhóm đều có lớp học cho các em nhỏ, đến nay đã có nhiều người có trình độ đại học.

Tuy sống xen ghép với dân tộc đông người, nhưng bản sắc dân tộc Dao không bị pha trộn. Họ vẫn giữ được tính độc đáo, riêng biệt. Hàng năm đồng bào vẫn tổ chức lễ hội truyền thống. Các bài hát, điệu múa vẫn được truyền lại cho con cháu.

2.5. Dân tộc Khơ Mú.

Bộ phận dân tộc Khơ Mú ở Thanh Hoá, từ xã Tranh Đấu, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La chuyển đến, cách đây khoảng 70 năm – 100 năm. Có 2 chòm, chòm Lách ở xã Mường Chanh và chòm Đoàn Kết ở xã Tén Tần huyện Mường Lát Hai chòm này sát đường biên người Việt – Lào. Dân số 2 chòm có 558 người. Năm 1999: 642 người (cả nước có 43.000 nguời).

Đây là dân tộc thiểu số vào loại đặc biệt khó khăn của tỉnh. Về tên gọi có 4 tên khác nhau. Đồng bào tự gọi mình là Khơ Mú, các dân tộc khác gọi là dân tộc Tình, Đoàn Kết. Dân tộc Khơ Mú Thanh Hoá kiêng không được gọi họ là dân tộc Xá (vì danh từ xá họ cho là từ miệt thị ).

Người Khơ Mú ở tỉnh Thanh Hoá có 5 dòng họ, mỗi dòng họ đều kiêng một “con” hay một “cây”.

Họ Lương kiêng con cọp.

Họ Lò kiêng chim “tăng lo”.

Họ Chinh kiêng cây “tu vạ cút”.

Họ Pít kiêng chim “rích”.

Họ Tơmong kiêng con “cầy cun”.

Mối quan hệ dòng họ rất nghiêm ngặt. Tộc trưởng có quyền quyết đoán mọi chuyện. Người Khơ Mú hầu như chỉ quan hệ với bên ngoài về kinh tế như trao đổi mua bán các mặt hàng gia dụng, thuốc men. Còn quan hệ tình cảm, văn hoá khép kín trong đồng tộc. Họ có tư tưởng tự ti, mặc cảm vì cho rằng mình quá lạc hậu và “xấu… Khó khăn nhất hiện nay là họ không có người “cúng” và trai gái thành niên khó khăn trong việc lấy vợ lấy chồng vì chỉ ở chòm bản đều là anh em họ hàng.

Hiện nay đường vào chòm bản đã mở rộng thông suốt, xe máy có thể qua sông vào chòm được. Từ năm 1993, nhờ thực hiện dự án đầu tư hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn, làng bản đã quy hoạch xây dựng mới, có đường sá, có nước sạch, có trạm thu hình chương trình truyền hình Việt Nam, có trường học cho trẻ em học sinh cấp I. Có chi bộ Đảng, dân tộc Khơ Mú không có chữ viết, tiếng nói theo nhóm ngôn ngữ Khơ Me.

2.6. Dân tộc Thổ.

Dân tộc Thổ tập trung ở huyện Như Xuân gồm các xã Yên Lễ, Yên Cát, Cát Tân, Cát Vân, Bình Lương, Xuân Bình thị trấn Bãi Trành, Thượng Ninh, Tân Bình, Hoá Quỳ, Xuân Quỳ, Dân số: 7.642 (năm 1994). Năm 1999: 9.464 người (cả nước có 51.000).

Người Thổ quê ở Thanh Hoá chỉ có một họ duy nhất là họ Lê. Người Thổ có nhiều nét gần với người Mường và người Kinh.

II. HỆ THỐNG KẾT CẤU HẠ TẦNG KỸ THUẬT:

1. Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải:

Thanh Hóa có hệ thống giao thông thuận lợi cả về đường sắt, đường bộ, đường không và đường thuỷ:

– Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua địa bàn Thanh Hoá dài 92km với 9 nhà ga, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá và hành khách.

– Đường bộ có tổng chiều dài trên 8.000 km, bao gồm hệ thống quốc lộ quan trọng như: quốc lộ 1A, quốc lộ 10 chạy qua vùng đồng bằng và ven biển, đường chiến lược 15A, đường Hồ Chí Minh xuyên suốt vùng trung du và miền núi; Quốc lộ 45, 47 nối liền các huyện đồng bằng ven biển với vùng miền núi, trung du của tỉnh, quốc lộ 217 nối liền Thanh Hoá với tỉnh Hủa Phăn của nước bạn Lào.

– Thanh Hoá có hơn 1.600 km đường sông, trong đó có 487 km đã được khai thác cho các loại phương tiện có sức chở từ 20 đến 1.000 tấn. Cảng Lễ Môn cách trung tâm Thành phố Thanh Hoá 6km với năng lực thông qua 300.000 tấn/năm, các tàu trọng tải 600 tấn cập cảng an toàn. Cảng biển nước sâu Nghi Sơn có khả năng tiếp nhận tàu trên 5 vạn tấn, hiện nay đang được tập trung xây dựng thành đầu mối về kho vận và vận chuyển quốc tế.

– Đầu năm 2013, Cảng hàng không Thọ Xuân được đưa vào sử dụng dân sự, tính đến nay Cảng hàng không Thọ Xuân đã có các tuyến bay đi miền Nam và Tây Nguyên. Số lượt hành khách qua cảng năm 2013 là 90.000, năm 2014 là 160.000 (tăng gần 78%) và chỉ trong 6 tháng đầu năm nay đã đạt con số 280.000 lượt, tăng hơn 156 % kế hoạch năm. Dự kiến, đến hết năm 2015, lượng hành khách qua cảng Thọ Xuân sẽ đạt 400.000 lượt. Hiện cảng hàng không Thọ Xuân đang phấn đấu trở thành dự bị cho cảng hàng không quốc tế Nội Bài.

2. Hệ thống điện: 

Mạng lưới cung cấp điện của Thanh Hoá ngày càng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, đảm bảo cung cấp điện ổn định cho sản xuất và sinh hoạt.

Hiện tại điện lưới quốc gia đã có 508 km đường dây điện cao thế; 3.908 km đường dây điện trung thế, 4.229 km đường dây điện hạ thế; 9 trạm biến áp 110/35/6-10 KV; 38 trạm trung gian; 2.410 trạm phân phối. Năm 2005, điện năng tiêu thụ trên 1,2 triệu Kwh. Đến nay, 27/27 huyện, thị, thành phố với 94% số xã phường và 91% số hộ được dùng điện lưới quốc gia.

Tiềm năng phát triển thuỷ điện tương đối phong phú và phân bố đều trên các sông với công suất gần 800 MW. Ngoài những nhà máy thuỷ điện lớn như Cửa Đặt, bản Uôn đang và sẽ đầu tư, Thanh Hóa có thể phát triển nhiều trạm thuỷ điện nhỏ có công suất từ 1-2 MW.

3. Hệ thống Bưu chính viễn thông:

Trong những năm qua, hệ thống bưu chính viễn thông của Thanh Hóa đã phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trên địa bàn toàn tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thông tin liên lạc trong tỉnh, trong nước và quốc tế với các phương thức hiện đại như telex, fax, internet.

Năm 2015, 100% trung tâm xã các xã, phường, thị trấn có hạ tầng truyền dẫn cáp quang, có 4.210 trạm BTS (trong đó có 2.650 trạm 2G, 1.560 trạm 3G) đặt tại 2.232  vị trí trạm BTS. Thuê bao điện thoại hiện có 2.742.000 thuê bao, mật độ đạt gần 77,9 máy/100 dân; Có trên 690.000 thuê bao internet cố định hữu tuyến, vô tuyến đạt, mật độ 19,61 thuê bao/100 dân. Trên địa bàn tỉnh hiện có 9 doanh nghiệp hoạt động cung cấp dịch vụ bưu chính và chuyển phát; 634/635 điểm phục vụ bưu chính; 591/635 xã phường thị trấn có báo đọc trong ngày xuất bản. 100% các trường THPT, 98,7% các trường THCS và 30,44 % các trường tiểu học đã có phòng máy tính riêng làm phòng học thực hành dạy CNTT, mỗi phòng trung bình có 20 máy tính; 80% các bệnh viện đã ứng dụng CNTT phục vụ chuyên môn, nghiệp vụ.

Mục tiêu đến năm 2020, tỉnh Thanh Hóa nằm trong nhóm các tỉnh, thành phố có hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động phát triển tiên tiến, hiện đại của cả nước. Trong đó, phát triển băng thông rộng đến hầu hết các thôn, bản; khoảng 35 đến 40% số hộ truy cập internet băng thông rộng (từ 10 đến 15% truy cập Internet băng thông rộng cố định); phủ sóng thông tin di động băng thông rộng đến 95% dân cư.

4. Hệ thống cấp nước: 

Hệ thống cung cấp nước ngày càng được mở rộng, đáp ứng yêu cầu cho sinh hoạt và sản xuất, nhất là ở khu vực thành phố, thị xã, thị trấn và các khu công nghiệp. Nhà máy nước Mật Sơn và Hàm rồng với công suất 30.000m3/ngày đêm, đang chuẩn bị mở rộng lên 50.000 m3/ngày đêm đảm bảo cấp nước sạch đủ cho Thành phố Thanh Hoá, thị xã Sầm Sơn và các khu công nghiệp Lễ Môn, Đình Hương. Tỉnh đang triển khai xây dựng nhà máy cấp nước cho Khu kinh tế Nghi Sơn và các thị trấn cấp huyện. Đến nay, 80% dân số nông thôn và 90% dân số thành thị đã được dùng nước sạch. Các cơ sở sản xuất kinh doanh đều được cung cấp đủ nước theo yêu cầu.

Có Nên Đặt Phòng Paracel Resort Hải Tiến Thanh Hóa? Review Từ A / 2023

Paracel Resort Hải Tiến Thanh Hóa cách thủ đô Hà Nội 155km, từ trung tâm thành Phố Thanh Hóa về đây khoảng 17km, dọc theo quốc lộ 1A chỉ mất 14km. Paracel resort biển Hải Tiến được đánh giá khá cao về dịch vụ, chất lượng và hệ thống phòng ốc sạch, đẹp, sang trọng.

Khu nghỉ dưỡng Paracel resort Hải Tiến có đường bờ biển dài gần 1km thích hợp để du khách tổ chức gala, team building trên biển

Tìm hiểu Paracel Resort Hải Tiến review hình ảnh thực tế

Paracel resort Hải Tiến Thanh Hóa xây dựng theo kiến trúc tân cổ điển của Châu Âu nên nhìn từ ngoài vào trong đã thấy được sự sang trọng, hiện đại và độc đáo xứng đáng với tên gọi resort 4 sao. Paracel resort xây dựng ngay mặt biển Hải Tiến, có đường bờ biển dọc theo khu resort lên đến gần 1km thoải mái để vui chơi, tắm biển, tổ chức team buiding, gala dinner…

Hệ thống phòng resort Paracel Hải Tiến lên đến 279 phòng có sức chứa hàng nghìn người có thể ở cùng một thời điểm. Các phòng được chia làm 4 loại: Phòng Silver, Shapphier, Grand Shapphier và Premier Platium King giá phòng Paracel Resort Hải Tiến được phân theo loại phòng, thời điểm du khách lựa chọn.

Hình ảnh thực tế khu nghỉ dưỡng Paracel resort Hải Tiến xây dựng ngay mặt biển với diện tích rộng lớn

Paracel Hải Tiến có cả trung tâm tổ chức sự kiện rộng lớn, sang trọng phục vụ các đoàn khách du lịch lên đến hàng nghìn người

Hiện tại, khi đến đặt phòng Paracel Resort Hải Tiến bạn sẽ thấy các phòng ở đây đều xây dựng với view cửa sổ hướng biển, hệ thống phòng vip ban công hướng thẳng ra biển nhìn không gian rộng lớn, tiện nghi. Toàn bộ các tiện ích trong phòng đều đầy đủ theo tiêu chuẩn 4 sao của một resort cao cấp.

Ngoài ra, ở khu vui chơi của resort paracel biển Hải Tiến cao cấp có xây dựng với nhiều trò chơi giải trí, trò chơi trí tuệ, khu hát karaoke, trò chơi cảm giác mạnh cực kì hấp dẫn. Điểm cộng khiến du khách cũng không thể bỏ lỡ đó là các hình ảnh check in sống ở ở các bể bơi vô cực, khu vườn cây bon sai hay dọc theo hệ thống bar đặt cạnh bãi biển vừa nhâm nhi nước vừa ngắm toàn cảnh bãi biển Hải Tiến Thanh Hóa xinh đẹp.

Paracel resort Hải Tiến review nhiều nhất chính là sức hút của bể bơi vô cực xây ngay mặt biển hiện đại và sang trọng với không gian ấn tượng

Các tiện ích không thể bỏ qua khi đặt phòng Paracel resort Hải Tiến

Khu nghỉ dưỡng Paracel Hải Tiến resort xây dựng hệ thống bể bơi vô cực ngoài trời rộng đến 600m2 (có bể bơi riêng dành cho người lớn và trẻ nhỏ), đồng thời phục vụ Pool Bar bên cạnh hồ bơi với nhiều món ăn nhẹ, đồ uống “check in” chanh sả.

Cận cảnh hình ảnh thực tế hồ bơi Paracel rescort Hải Tiến Thanh Hóa

Cận cảnh cầu cảng biển Hải Tiến ngay cạnh Paracel resort Hải Tiến Thanh Hóa như một trời Tây thu nhỏ

Bên cạnh các tiện ích nổi bật trên, Paracel Resort Hải Tiến còn có thêm các khu massage bằng thảo dược, khu công viên nước, hội trường, trung tâm tổ chức sự kiện với nhiều trò chơi giải trí hấp dẫn.

Đặt phòng Paracel resort Hải Tiến và giá phòng

Giá phòng Paracel resort Hải Tiến – hạng phòng Silver dao động từ 1,150,000 đồng – 2,300,000 đồng/ngày/đêm

Giá phòng Paracel resort Hải Tiến – hạng phòng Saphire từ 1,250,000 đồng – 2,500,000 đồng/ngày/đêm

Giá phòng Paracel resort Hải Tiến – hạng phòng Grand Saphire dao động từ 2,000,000 đồng – 4,000,000 đồng/ngày/đêm

Giá phòng Paracel resort Hải Tiến – hạng phòng Premier Platinum từ 2,100,000 đồng – 4,200,000 đồng/ngày/đêm

Đặt phòng Paracel Hải Tiến resort hạng phòng Silver diện tích 35m2 bố trí 2 giường ngủ lớn hợp với gia đình 4 người

Phòng Grand Saphire có giá phòng Paracel resort Hải Tiến cập nhật năm nay dao động từ 2,000,000 đồng – 4,000,000 đồng/ngày/đêm

Hình ảnh phòng Premier Platinum view mặt biển diện tích 42m2 thiết kế sang trọng, cao cấp

Bạn có thể đặt phòng Paracel resort Hải Tiến theo hotline: 0868.555.331 để được hưởng ưu đãi giảm giá phòng tới 40%. Đồng thời hưởng trọn các ưu đãi tốt nhất khi đi du lịch biển Hải Tiến. Khi nghỉ dưỡng tại Paracel Resort Hải Tiến bạn sẽ tận hưởng được trọn vẹn nhất những tiện nghi tốt nhất của biển Hải Tiến cũng như cách phục vụ chuyên nghiệp, tận tình, chu đáo từ dịch vụ tiêu chuẩn 4 sao.

Trung tâm tổ chức sự kiện tại khu nghỉ dưỡng Paracel Resort

Tổ chức gala tiệc tối sân khấu ngoài trời tại Paracel

Paracel Resort Hải Tiến cũng là một trong những resort có phong cách phục vụ chuyên nghiệp thuê đầu bếp tiêu chuẩn 4 sao về phục vụ du khách. Menu thực đơn ở đây khá đa dạng gồm các món hải sản tươi, đồ ăn đặc sản vùng miền, thực phẩm đồi núi… giúp du khách lựa chọn thoải mái.

Menu thực đơn với rất nhiều món hải sản biển tại Paracel Resort biển Hải Tiến

Khu nghỉ dưỡng Paracel Resort là một trong những resort đẹp ở biển Hải Tiến uy tín bạn có thể tham khảo nên đang băn khoăn không biết có nên đặt phòng Paracel Resort Hải Tiến Thanh Hóa không? Với những chia sẻ của Du lịch biển Hải Tiến ở trên, chúng tôi khuyên bạn có thể tham khảo resort biển Hải Tiến này bởi nhiều lợi thế về dịch vụ phòng ốc, vị trí resort đẹp, phong cách phục vụ chuyên nghiệp cùng giá cả hợp lý… xứng đáng bỏ tiền ra đi.

Ý Nghĩa Tên Nguyên Tố Hóa Học / 2023

1. Vàng – Autum(Latinh): Bình minh vàng. 2. Bạc – Argentum(latinh): Sáng bóng. 3. Thiếc – Stanum(Latinh): Dễ nóng chảy. 4. Thuỷ ngân: -Hydragyrum(Latinh): Nước bạc. -Mercury(Angloxacxong cổ). -Mercure(Pháp). 5. Chì – Plumbum: nặng. 6. Stibi: -Stibium(Latinh): Dấu vết để lại. -Antimoine(Pháp): Phản lại,thầy tu. 7. Kẽm: -Seng(Ba tư): Đá. -Zinke(Đức): Đá. 8. Asen: -Zarnick(Ba tư): Màu vàng. -Arsenikos(Hi Lạp): Giống đực. 9. Hiđro – Hidrogenium(Latinh): Sinh ra nước. 10. Oxi – Oxigenium, Oksysgen(Latinh): Sinh ra axit. 11. Brom – Bromos(Latinh): Hôi thối. 12. Argon – Aergon(Latinh) – Argon(Hy Lạp cổ): Không hoạt động. 13. Radium – Radium, Radon: Tia. 14. Iot – Ioeides: Màu tím. 15. Iridi – Iris: cầu vồng. Irioeides(Hy Lạp):Ngũ sắc 16. Xesi – Cerius: Màu xanh da trời. 17. Tal i- Thallos: Xanh lục. 18. Nitơ: -Azot(Hi Lạp): Không duy trì sự sống. -Nitrogenium: Sinh ra diêm tiêu. 19. Heli: Trời. 20. Telu: Đất. 21. Selen: Mặt trăng. 22. Xeri-Cerium: Sao Thần Nông. 23. Urani: Sao Thiên Vương. 24. Neptuni: Sao Hải Vương. 25. Plutoni: Sao Diêm Vương. 26. Vanadi: Tên nữ thấn sắc đẹp Vanadis trong thần thoại cổ Scandinavia. 27. Titan: Tên những người khổng lồ con cái của thần Uran và nữ thần Hea. 28. Ruteni – (Latinh): Tên cổ nước Nga. 29. Gali – (Latinh): Tên cổ nước Pháp. 30. Gecmani – Germany: Tên nước Đức. 31. Curi: Tên nhà nữ bác học Marie Curie. 32. Mendelevi: Tên nhà bác học Mendelev. 33. Nobeli: Tên nhà bác học Anfred Nobel. 34. Fecmi: Tên nhà bác học Fermi. 35. Lorenxi: Tên nhà bác học Lorentz. 36. Lantan – (Hi Lạp): Sống ẩn náu. 37. Neodim – (Hi Lạp): Anh em sinh đôi của Lantan. 38. Prazeodim – (Hi Lạp): Anh em sinh đôi xanh 39. Atatin: -Astatum(La tinh). -Astatos(Hy Lạp): Không bền. 40. Bitmut: -Bismuthum(La tinh). -(Tiếng Đức cổ): Khối trắng. 41. Bo: -Borum(La tinh). -Burac(Ả rập): Borac. 42. Cađimi: -Cadmium(La tinh). -Cadmia(Hy Lạp cổ): Các quặng kẽm và kẽm oxit. 43. Canxi: -Calcium(La tinh). -Calo: Đá vôi,đá phấn. 45. Clo: -Chlorum(La tinh). -Chloas(Hy lạp): Vàng lục. 46. Coban: -Coballum(La tinh). -Cobon: Tên từ tên của bọn quỷ Cobon xão quyệt trong các truyện thần thoại. 47. Crom – Croma(Hy Lạp): Màu. 48. Flo-Fluoros(Hy Lạp): Sự phá hoại,sự tiêu diệt. 49. Hafini – Hafnin: Tên thủ đô cũ của Đan Mạch. 50. Iot – Ioeides(Hy Lạp cổ): Tím. 51. Kali – Alkali(Ả rập): Tro. 52. Platin(Tây ban nha): Trắng bạc. 53. Rođi – Rodon(Hy Lạp): Hồng. 54. Osimi – Osmi(Hy Lạp): Mùi. 55. Palađi(Hy Lạp): Thiên văn. 56. Reni – Rhin: Tên sông Ranh(Rhin). 57. Rubiđi – Rubidis: Đỏ thẫm. 58. Scandi: Tên vùng Scandinavia. 59. Silic-Silix: Đá lửa. 60. Stronti – Stronxien(Hy Lạp): Tên làng Strontian ở Scotland. 61. Tali – Thallos: Nhánh cây màu lục. 62. Tantali – Tantale: Tên một nhân vật trong truyện thần thoại Hy Lạp là hoàng đế Tantale. 63. Tecnexi – Technetos(Hy Lạp): Nhân tạo. 64. Kripton: Ẩn. 65. Neon: Mới. 66. Xenon: Da. 67. Rađon: Lấy từ tên gọi Rađi(Rađon là sản phẩm phân rã phóng xạ của Rađi). 68. Liti – Lithos(Hy Lạp): Đá. 69. Molipđen – Molindos: Tên của Chì. 70. Amerixi: Tên châu Mỹ. 71. Beckeli: Tên thành phố Beckeli ở bang Califocnia ở Mỹ. 72. Kursatovi: Tên của nhà bác học I.V.Kursatop. 73. Jolioti: Tên của nhà bác học I.Joliot Curie. 74. Ninbori: Tên của nhà bác học Niels Bohr. 75. Gani: Tên của nhà phát minh ra hiện tượng phân rã của Uran là O.Hanh. 76. Prometi – Prometei: Tên của thần Promete trong thần thoại Hi Lạp. 77. Niken – Nick: Tên của con quỷ lùn lão Nick trong trong những truyền thuyết của thợ mỏ. 78. Niobi – Nioba:Tên con gái của hoàng đế Tantal trong truyện thần thoại đã bị Zeus kết án suốt đời phải chịu sự hành hạ. 79. Thori – Thor:Tên thần Thor trong truyện cổ ở Scandinavia. 80. Einsteinum: Tên nhà bác học Albe