Đề Xuất 1/2023 # Trong Phật Giáo Bắc Tông,Tu Sĩ Và Phật Tử Được Đặt Tên Theo Những Nguyên Tắc Nào? # Top 9 Like | Welovelevis.com

Đề Xuất 1/2023 # Trong Phật Giáo Bắc Tông,Tu Sĩ Và Phật Tử Được Đặt Tên Theo Những Nguyên Tắc Nào? # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Trong Phật Giáo Bắc Tông,Tu Sĩ Và Phật Tử Được Đặt Tên Theo Những Nguyên Tắc Nào? mới nhất trên website Welovelevis.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trong Phật giáo Bắc tông, tu sĩ được đặt tên theo dòng phái. Tu sĩ sau khi vào chùa tu, được thầy đặt cho tên, gọi là pháp tự. Tên được đặt dựa vào cá tính của người ấy, có được sau khi đã thọ giới Sa Di giới (10 giới), gọi là Giới danh.

Khi đi cầu pháp ở một vị thầy giỏi về giáo lý, sẽ được đặt tên gọi là pháp hiệu. Thầy phú pháp đặt tên này để ấn chứng một sự thụ đắc nào đó của người theo học. Có dòng phái thường ra hai bài kệ song song, một dùng đặt pháp danh, một dùng đặt pháp hiệu. Tên đặt theo bài kệ gọi là tên Húy (pháp danh), dùng ghi vào bài vị sau khi người tu sĩ qua đời. Từng chữ trong bài kệ tiêu biểu cho một thế hệ truyền thừa. Như bài kệ của dòng Đạo Bổn Nguyên, có câu đầu là “Đạo Bổn Nguyên thành Phật tổ tiên…”. Chữ Đạo thuộc đời thứ 31 do Đạo Mẫn khai sáng bài kệ. Như vậy, chữ Bổn thuộc đời thứ 32, và chữ Nguyên thuộc đời thứ 33, như Nguyên Thiều, người có công đầu mang Phật giáo vào Đàng Trong…

Đạo hiệu là tên vua phong. Thụy hiệu là tên đặt sau khi người tu sĩ đã mất. Trong Phật giáo, khái niệm là tín đồ không thật sự rõ ràng. Thời Đức Phật còn tại thế, những người chưa xuất gia, cảm mến đường hướng và giáo thuyết của Đức Phất, hỗ trợ cho tăng đoàn phẩm vật, hoặc nghe họ nói pháp… đều được xem là thí chủ. Sau khi đức Phật viên tịch, những người xuất gia có số đệ tử đông đúc, theo từng hệ phái riêng. Từ nay, khái niệm tín đồ đã tương đối được rõ ràng hơn, còn gọi là Phật tử.

Một tín đồ Phật giáo phải là một người đã tiến hành lễ thọ “tam quy, ngũ giới”. Thọ tam quy là quy y Tam Bảo, tức trở về (quy) dựa vào (y) Tam Bảo (Phật, pháp, tăng). Thọ ngũ giới là phát nguyện giữ gìn năm giới không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu. Thọ tam quy ngũ giới, người đó đã được xem là một Phật tử, tu hành tại gia, được đặt cho tên đạo, gọi là pháp danh.

Thông thường, pháp danh được đặt theo chữ đầu của bài kệ thuộc dòng phái mà bổn sư truyền giới đã theo. Bổn sư thuộc đời nào thì đệ tử sẽ dưới đó một đời. Nếu bổn sư thuộc thế hệ truyền thừa của dòng Lâm Tế, phái Liễu Quán, đời thứ 38 thì đệ tử phải thuộc đời thứ 39. Đấy là cách đặt tên pháp danh áp dụng cho những người đã xuất gia.

Còn đối với Phật tử tại gia, sau ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vào năm 1964, có Hiến chương của giáo hội, cách đặt tên của Phật tử thông thường có chữ đầu là Minh đi kèm với tên, dành cho nam giới và chữ đầu là Diệu, đi kèm với tên, dành cho nữ giới… như nam Phật tử Minh Thọ, nữ Phật tử Diệu Nghĩa…

Đứng đầu các tên là họ Thích, vì được quan niệm theo đạo Phật, tất cả đều là con của Phật, có họ của đức Thích Ca. Tuy nhiên tên gọi có cả họ thường chỉ được dùng cho hàng tăng sĩ đã xuất gia.

Người nam có họ Thích rồi kèm theo pháp danh, người nữ có họ Thích nữ kèm theo pháp danh. Như Hòa thượng Thích Thiện Chiếu, ni sư Thích nữ Như Thanh…

Trong Phật Giáo Bắc Tông, Tu Sĩ Và Phật Tử Được Đặt Tên Theo Những Nguyên Tắc Nào?

Trong Phật giáo Bắc tông, tu sĩ được đặt tên theo dòng ph ái. Tu sĩ sau khi vào chùa tu, được thầy đặt cho tên, gọi là pháp tự. Tên được đặt dựa vào cá tính của người ấy, có được sau khi đã thọ giới Sa Di giới ( 10 giới), gọi là Giới danh.

Khi đi cầu pháp ở một vị thầy giỏi về giáo lý, sẽ được đặt tên gọi là . Thầy phú pháp đặt tên này để ấn chứng một sự thụ đắc nào đó của người theo học. Có dòng ph ái thường ra hai bài kệ song song, một dùng đặt pháp danh, một dùng đặt pháp hiệu. Tên đặt theo bài kệ gọi là tên Húy ( pháp danh), dùng ghi vào bài vị sau khi người tu sĩ qua đời. Từng chữ trong bài kệ tiêu biểu cho một thế hệ truyền thừa. Như bài kệ của dòng Đạo Bổn Nguyên, có câu đầu là “Đạo Bổn Nguyên thành Phật tổ tiên…”. Chữ Đạo thuộc đời thứ 31 do Đạo Mẫn khai sáng bài kệ. Như vậy, chữ Bổn thuộc đời thứ 32, và chữ thuộc đời thứ 33, như Nguyên Thiều, người có công đầu mang Phật giáo vào Đàng Trong…

Đạo hiệu là tên vua phong. Thụy hiệu là tên đặt sau khi người tu sĩ đã mất. Trong Phật giáo, kh ái niệm là tín đồ không thật sự rõ ràng. Thời Đức Phật còn tại thế, những người chưa xuất gia, cảm mến đường hướng và giáo thuyết của Đức Phất, hỗ trợ cho tăng đoàn phẩm vật, hoặc nghe họ nói pháp… đều được xem là thí chủ. Sau khi đức Phật viên tịch, những người xuất gia có số đệ tử đông đúc, theo từng hệ ph ái riêng. Từ nay, kh ái niệm tín đồ đã tương đối được rõ ràng hơn, còn gọi là Phật tử.

Một tín đồ Phật giáo phải là một người đã tiến hành lễ thọ “tam quy, ngũ giới”. Thọ tam quy là quy y Tam Bảo, tức trở về (quy) dựa vào (y) Tam Bảo ( Phật, pháp, tăng). Thọ ngũ giới là phát nguyện giữ gìn năm giới không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu. Thọ tam quy ngũ giới, người đó đã được xem là một Phật tử, tu hành tại gia, được đặt cho tên đạo, gọi là pháp danh.

Thông thường, pháp danh được đặt theo chữ đầu của bài kệ thuộc dòng ph ái mà bổn sư truyền giới đã theo. Bổn sư thuộc đời nào thì đệ tử sẽ dưới đó một đời. Nếu bổn sư thuộc thế hệ truyền thừa của dòng Lâm Tế, ph ái Liễu Quán, đời thứ 38 thì đệ tử phải thuộc đời thứ 39. Đấy là cách đặt tên pháp danh áp dụng cho những người đã xuất gia.

Còn đối với Phật tử tại gia, sau ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vào năm 1964, có Hiến chương của giáo hội, cách đặt tên của Phật tử thông thường có chữ đầu là Minh đi kèm với tên, dành cho nam giới và chữ đầu là Diệu, đi kèm với tên, dành cho nữ giới… như nam Phật tử Minh Thọ, nữ Phật tử Diệu Nghĩa…

Đứng đầu các tên là họ Thích, vì được quan niệm theo đạo Phật, tất cả đều là con của Phật, có họ của đức Thích Ca. Tuy nhiên tên gọi có cả họ thường chỉ được dùng cho hàng tăng sĩ đã xuất gia.

Người nam có họ Thích rồi kèm theo pháp danh, người nữ có họ Thích nữ kèm theo pháp danh. Như Hòa thượng Thích Thiện Chiếu, ni sư Thích nữ Như Thanh…

Bhutan: Đặt Tên Hoàng Tử Theo Nghi Thức Phật Giáo

GNO – Ngày 16-4 vừa qua, đất nước Bhutan ngập tràn niềm vui và hoan hỷ khi quốc vương làm lễ đặt tên con theo truyền thống Phật giáo.

Theo đó, toàn thể người dân của “xứ sở hạnh phúc” đã vân tập về cung điện hoàng gia để cầu nguyện và chúc phúc cho hoàng tử vừa chào đời vào tháng 2 của năm nay.

Hoàng tử được đặt tên là Jigme Namgyel Wangchuck

Nghi lễ diễn ra trang trọng với sự tham dự của cựu vương Druk Gyalpo, chư Tăng Ni tại ngôi chùa linh thiêng Machen Lhakhang tọa lạc trong hoàng cung.

Dịp này, toàn thể người tham dự đã dành phút tưởng niệm đến Lama Zhabdrung Ngawang Namgyel, người đã có công thống nhất Bhutan và làm nền tảng để đất nước này phát triển an bình, thịnh vượng cho đến ngày nay.

Jigme Namgyel Wangchuck là tên mà hoàng tử vừa chào đời được đặt với ý nghĩa sẽ là một con người có đủ nghị lực, biết tu dưỡng thân tâm để kế nghiệp các bậc tiền nhân, vượt qua những thách thức, đưa đất nước Bhutan phát triển vững bền trên căn bản đạo đức Phật giáo.

Đông đảo người dân Bhutan cầu nguyện cho hoàng tử nhân lễ đặt tên

“Đây là dịp toàn thể các thành viên của hoàng gia nhiều thế hệ hiện diện đông đủ để cầu nguyện và chúc phúc cho người kế tục. Tôi tin tưởng rằng, hoàng nhi sẽ sống một cuộc sống nhân bản trong ý niệm tận lực phục vụ cho đất nước, luôn rèn luyện nhân cách và duy trì mạch sống Phật giáo tại đất nước mà các bậc tiền nhân đã dày công gầy dựng, truyền bá hàng trăm năm qua” – đương kiêm Quốc vương Bhutan Jigme Khesar Namgyel Wangchuck khẳng định.

Hoàng tử – người kế vị xuất hiện trong niềm hoan hỷ của hoàng gia Mỗi người tham dự đều nhận được hình chân dung của hoàng tử “Tôi tin tưởng rằng, hoàng nhi sẽ sống một cuộc sống nhân bản trong ý niệm tận lực phục vụ cho đất nước, Không chỉ hoàng gia mà dân chúng, ai cũng hoan hỷ đón mừng hoàng tử cùng sự kiện trọng đại này

Không chỉ hoàng gia mà dân chúng, ai cũng hoan hỷ đón mừng hoàng tử cùng sự kiện trọng đại này

Bảo Thiên (theo DW

Đặt Tên Con Gái Theo Phật Giáo

Tên gắn liền với vận mệnh con trẻ

1. Đặt tên cho con gái hay theo vần A

Ái Hồng: Cô gái nhỏ dễ thương.

Ái Nhi: Con gái nhỏ luôn được yêu thương.

An Bình: Mẹ mong con luôn bình an.

An Nhàn: Mẹ mong con có một cuộc sống êm đềm.

Ánh Dương: Con sáng chói như vầng mặt trời.

Ánh Ngọc: Con đẹp như một viên ngọc.

Anh Thi: Cô gái nhỏ yêu kiều.

Anh Thư: Con là một cô gái mạnh mẽ.

Ngọc Anh: Bé là viên ngọc trong sáng, quý giá tuyệt vời của bố mẹ

Nguyệt Ánh: Bé là ánh trăng dịu dàng, trong sáng, nhẹ nhàng

Diệu Anh: Con gái khôn khéo của mẹ ơi, mọi người sẽ yêu mến con

Quỳnh Anh: Người con gái thông minh, duyên dáng như đóa quỳnh

Trâm Anh: Con thuộc dòng dõi quyền quý, cao sang trong xã hội.

2. Đặt tên cho con gái theo vần B – C

Bạch Cúc: Đóa cúc trắng bình dị.

Bạch Loan: Con là cô gái xinh đẹp thanh cao.

Bạch Tuyết: Con xinh đẹp như công chúa trong chuyện cổ tích.

Băng Băng: Con thật kiêu sa.

Bảo Châu: Viên ngọc quý của mẹ.

Bảo Lan: Loài hoa quý.

Bảo Quyên: Con chim quý.

Bảo Tiên: Cô gái quý giá và xinh đẹp của mẹ.

Bảo Uyên: Cô gái đài các, uyên bác và duyên dáng.

Bích Chiêu: Con hội tụ nét đẹp như một viên ngọc bích.

Bích Hà: Dòng sông màu ngọc bích.

Bích Hợp: Người con gái dịu dàng.

Bích Loan: Người con gái kiêu kỳ.

Bích Ngọc: Con là viên ngọc quý.

Bích Quyên: Con chim màu ngọc bích.

Bích Thu: Mùa thu màu ngọc bích.

Gia Bảo: Bé là “tài sản” quý giá nhất của bố mẹ, của gia đình

Ngọc Bích: Bé là viên ngọc trong xanh, thuần khuyết

Minh Châu: Bé là viên ngọc trai trong sáng, thanh bạch của bố mẹ

Bảo Châu: Bé là viên ngọc trai quý giá

Kim Chi: “Cành vàng lá ngọc” là câu nói để chỉ sự kiều diễm, quý phái.

Cẩm Hiền: Người con gái hiền thục.

Cẩm Ly: Con là món đồ quý giá.

Cẩm Thúy: Con chim quý.

Cát Cát: Con luôn gặp may mắn trên đường đời.

Chi Lan: Nhành hoa lan.

3. Đặt tên con gái theo vần D-H

Tên con gái từ vần D -H

Dã Lâm: Con như một khu rừng bí ẩn và quyến rũ.

Dã Thảo: Hồn nhiên như cỏ.

Đài Trang: Cô gái đài cát và đoan trang.

Đan Thanh: Người con gái có nét thanh tao.

Diễm Châu: Con là viên ngọc sáng.

Diễm Hương: Mùi hương tràn đầy.

Diễm Thảo: Loài cỏ đẹp.

Diễm Trinh: Cô gái trinh trắng.

Diệp Vy: Cây lá xinh đẹp.

Diệu Hương: Hương thơm kỳ diệu.

Diệu Nương: Cô gái tuyệt diệu.

Đông Đào: Hoa đào nở trong mùa đông.

Đông Trà: Hoa trà trong mùa đông.

Duy Mỹ: Con là một cô gái yêu cái đẹp.

Duyên Mỹ: Xinh đẹp và duyên dáng.

Ngọc Diệp: là Lá ngọc, thể hiện sự xinh đẹp, duyên dáng, quý phái của cô con gái yêu

Mỹ Duyên: Đẹp đẽ và duyên dáng là điều bạn đang mong chờ ở con gái yêu đó.

Nguyệt Cát: Hạnh phúc cuộc đời con sẽ tròn đầy

Trân Châu: Con là chuỗi ngọc trai quý của bố mẹ

Quế Chi: Cành cây quế thơm và quý

Trúc Chi: Cành trúc mảnh mai, duyên dáng

Xuyến Chi: Hoa xuyến chi thanh mảnh, như cây trâm cài mái tóc xanh

Thiên Di: Cánh chim trời đến từ phương Bắc

Ngọc Diệp: Chiếc lá ngọc ngà và kiêu sa

Nghi Dung: Dung nhan trang nhã và phúc hậu

Linh Đan: Con nai con nhỏ xinh của mẹ ơi

Thục Đoan: Hãy là cô gái hiền hòa đoan trang

Đặt tên cho con gái theo vần G – K

Gia Linh: Con là điều tốt lành của gia đình.

Giang Thanh: Dòng sông màu xanh.

Giao Linh: Điều tốt lành luôn đến với con.

Hà My: Hàng lông mày đẹp.

Hà Thanh: Dòng sông xanh.

Hạ Vy: Mùa hạ dịu dàng.

Hải Châu: Viên ngọc của biển.

Hải My: Cô gái nhỏ mà mạnh mẽ.

Hải Phương: Hướng về phía biển.

Hải Thanh: Biển xanh.

Thanh Hà: Dòng sông trong xanh, thuần khiết, êm đềm, đây là điều bố mẹ ngụ ý cuộc đời bé sẽ luôn hạnh phúc, bình lặng, may mắn.

Hải Vy: Bông hoa giữa biển.

Hàm Thơ: Cô gái đầy ý thơ.

Hạnh Dung: Dung mạo hạnh phúc.

Hạnh Phương: Đi về phía hạnh phúc.

Hạnh Vi: Luôn làm điều hạnh phúc.

Hiền Mai: Bông hoa mai hiền thục.

Hiểu Vân: Đám mây buổi sáng.

Họa Mi: Con sẽ hát hay như chú chim họa mi.

Hoài Giang: Dòng sông thương nhớ.

Hoài Trang: Món trang sức đẹp mãi.

Hoàng Hà: Dòng sông vàng.

Hoàng Miên: Cây thảo miên vàng.

Hoàng Yến: Chim hoàng yến.

Hồng Đào: Ngon như quả hồng đào.

Hồng Hạnh: Cuộc đời con có phúc lớn và đức hạnh.

Gia Hân: Cái tên của bé không chỉ nói lên sự hân hoan, vui vẻ mà còn may mắn, hạnh phúc suốt cả cuộc đời

Bé như một bông hoa bằng ngọc, đẹp đẽ, sang trọng, quý phái

Ngọc Hoa: Bé như một bông hoa bằng ngọc, đẹp đẽ, sang trọng, quý phái.

Lan Hương: Nhẹ nhàng, dịu dàng, nữ tính, đáng yêu

Quỳnh Hương: Giống như mùi hương thoảng của hoa quỳnh, cái tên có sự lãng mạn, thuần khiết, duyên dáng

Hồng Khuê: Viên ngọc nhiều hồng phúc.

Hồng Như: Nhiều hồng phúc.

Hồng Phương: Đi về phía hạnh phúc.

Hồng Thảo: Cỏ hạnh phúc.

Huệ An: Ơn huệ từ trời cao, mẹ mong con bình an.

Huệ Lâm: Rừng cây nhân ái.

Huệ Phương: Về phía ân huệ.

Hương Lâm: Khu rừng mùi hương.

Hương Mai: Hương hoa mai.

Hương Thủy: Dòng nước thơm.

Hương Xuân: Hương thơm mùa xuân.

Huyền Ngọc: Viên ngọc huyền diệu.

Huyền Trâm: Trâm Anh, huyền diệu.

Khả Ái: Con là cô gái xinh đẹp, khả ái.

Vân Khánh: Cái tên xuất phát từ câu thành ngữ “Đám mây mang lại niềm vui”, Vân Khánh là cái tên báo hiệu điềm mừng đến với gia đình.

Ngọc Khuê: Một loại ngọc trong sáng, thuần khiết

Diễm Kiều: Vẻ đẹp kiều diễm, duyên dáng, nhẹ nhàng, đáng yêu.

Thiên Kim: Xuất phát từ câu nói “Thiên Kim Tiểu Thư” tức là “cô con gái ngàn vàng”, bé yêu của bạn là tài sản quý giá nhất của cha mẹ đó.

5. Đặt tên cho con gái theo vần L – T

Ngọc Lan: Cành lan ngọc ngà của bố mẹ

Mỹ Lệ: Cái tên gợi nên một vẻ đẹp tuyệt vời, kiêu sa đài các.

Kim Liên: Với ý nghĩa là bông sen vàng, cái tên tượng trưng cho sự quý phái, thuần khiết.

Gia Linh: Cái tên vừa gợi nên sự tinh anh, nhanh nhẹn và vui vẻ đáng yêu của bé đó.

Thanh Mai: xuất phát từ điển tích “Thanh mai trúc mã”, đây là cái tên thể hiện một tình yêu đẹp đẽ, trong sáng và gắn bó, Thanh Mai cũng là biểu tượng của nữ giới.

Tuệ Mẫn: Cái tên gợi nên ý nghĩa sắc sảo, thông minh, sáng suốt.

Nguyệt Minh: Bé như một ánh trăng sáng, dịu dàng và đẹp đẽ.

Diễm My: Cái tên thể hiện vẻ đẹp kiều diễm và có sức hấp dẫn vô cùng.

Kim Ngân: Bé là “tài sản” lớn của bố mẹ.

Bảo Ngọc: Bé là viên ngọc quý của bố mẹ.

Khánh Ngọc: Vừa hàm chứa sự may mắn, lại cũng có sự quý giá

Thu Nguyệt: Trăng mùa thu bao giờ cũng là ánh trăng sáng và tròn đầy nhất, một vẻ đẹp dịu dàng

Hiền Nhi: Con luôn là đứa trẻ đáng yêu và tuyệt vời nhất của cha mẹ

Hồng Nhung: Con như một bông hồng đỏ thắm, rực rỡ và kiêu sa

Kim Oanh: Bé có giọng nói “oanh vàng”, có vẻ đẹp quý phái

Diễm Phương: Một cái tên gợi nên sự đẹp đẽ, kiều diễm, lại trong sáng, tươi mát

Bảo Quyên: Quyên có nghĩa là xinh đẹp, Bảo Quyên giúp gợi nên sự xinh đẹp quý phái, sang trọng

Ngọc Quỳnh: Bé là viên ngọc quý giá của bố mẹ

Ngọc Sương: Bé như một hạt sương nhỏ, trong sáng và đáng yêu

Mỹ Tâm: Không chỉ xinh đẹp mà còn có một tấm lòng nhân ái bao la.

Phương Thảo: “Cỏ thơm” đó đơn giản là cái tên tinh tế và đáng yêu

Hiền Thục: Hiền lành, đảm đang, giỏi giang, duyên dáng là những điều nói lên từ cái tên này

Bích Thủy: Dòng nước trong xanh, hiền hòa là hình tượng mà bố mẹ có thể dành cho bé

Thủy Tiên: Một loài hoa đẹp

Ngọc Trâm: Cây trâm bằng ngọc, một cái tên gắn đầy nữ tính

Ðoan Trang: Cái tên thể hiện sự đẹp đẽ mà kín đáo, nhẹ nhàng, đầy nữ tính

Thục Trinh: Cái tên thể hiện sự trong trắng, hiền lành

Thanh Trúc: Cây trúc xanh, biểu tượng cho sự trong sáng, trẻ trung, đầy sức sống

Khánh Chi: Những điều may mắn.

Khánh Huyền: Điều may mắn và huyền diệu của bố mẹ.

Khánh My: Cô gái nhỏ mang lại điều may mắn.

Khánh Quỳnh: Đóa hoa mang lại niềm vui.

Khánh Vi: Đóa tường vi tốt lành.

Khúc Lan: Như một đóa hoa lan.

Kiều Anh: Cô gái đẹp, kiều diễm.

Kiều Hạnh: Cô gái đẹp và đức hạnh.

Kiều Mai: Đóa hoa mai kiều diễm.

Kiều Nguyệt: Vầng nguyệt kiêu sa.

Kiều Trinh: Điều tốt lành xinh đẹp của bố mẹ.

Kim Cương: Con là viên kim cương quý giá.

Con hãy là búp sen trắng toả hương thơm ngát

Bạch Liên: Hãy là búp sen trắng toả hương thơm ngát

Ngọc Liên: Đoá sen bằng ngọc kiêu sang

Mộc Miên: Loài hoa quý, thanh cao, như danh tiết của người con gái

Hà Mi: Con có hàng lông mày đẹp như dòng sông uốn lượn

Thương Nga: Người con gái như loài chim quý dịu dàng, nhân từ

Đại Ngọc: Viên ngọc lớn quý giá

Thu Nguyệt: Tỏa sáng như vầng trăng mùa thu

Share this:

Twitter

Facebook

Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam

Mọi người muốn có tên pháp danh cần phải quy y thì được gọi là phật tử, còn những người chỉ muốn lấy một cái tên để cầu mạnh khỏe, hay vì mục đích ý nghĩa riêng khi nhờ thầy đặt cho thì việc đó cũng chỉ là có một cái tên hiệu để gọi mà thôi. 

Vì đạo một đời mà tu sửa 

Quay đầu chuyển đổi nghiệp khi xưa 

Khai tâm chơn chánh xua màn tối 

Mở trí thông hành xóa mây mưa 

Y áo sửa sang lo trọn vẹn 

Mõ Chuông chỉnh đốn để xin thưa 

Mười phương phát nguyện cùng Tam Bảo 

Lạy Phật quy y cũng đã vừa! – (Nguyễn Tâm)

Theo đạo Phật tức là chúng ta hành theo những điều chỉ dạy của đức Phật về sự từ bi vô lượng, thương độ hữu chúng sinh. Những người hay đi chùa thì đều biết về Tam quy ngũ giới. Đó là nơi chúng ta có thể trở về tìm lại suối nguồn chân hạnh phúc mà ta đã vô tình đánh mất từ thửa nào, một nơi nương tựa tâm linh vững chắc, quay về nương tựa Tam Bảo đó cũng chính là lúc chúng ta có một cuộc sống có ý nghĩa và an lành hơn. 

Giáo lý nhà Phật, cũng như đức Phật có quy định là có bốn hàng đệ tử Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni là những người xuất gia, còn Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di là những cư sĩ tại gia là cận sự nam và cận sự nữ luôn phụng sự Tam bảo. Theo một lẽ thông thường thì để có pháp danh tức nói nôm na là tên ở chùa thì cần phải Quy y Tam Bảo. Cái tên đó do sư thầy bổn sư đặt và lúc đó chúng ta mới là một phật tử chân chính, đệ tử của đức Phật. Đệ tử tại gia thì sẽ làm lễ Quy y trở thành một đệ tử của đức Phật và thọ năm giới. Đối với một số chùa thì ngày Rằm, lễ lớn hay chùa đó tổ chức Quy y thì đệ tử sẽ phải có mặt. Trong lễ Quy y đối với một số nơi vùng sâu, xa xôi thì có thể tại tư gia của một gia đình phật tử, ở đó thiết lập một bàn thờ Phật và một bàn cho sư thầy bổn sư, sau đó thầy sẽ làm lễ Quy y, truyền năm giới cơ bản cho phật tử tại gia rồi thầy sẽ đặt tên (pháp danh). Tên pháp danh thì sẽ tùy theo thầy bổn sư đặt có thể là theo dòng kệ các phái, cũng có thể đặt theo tên chùa hoặc đặt nữ là Diệu nam là Tự hay Thiện… cái đó sẽ tùy mỗi cách đặt tên của thầy bổn sư.

Chúng ta sống ở đời nhiều nên sẽ có những tập khí của cuộc sống ngoài đời, nên theo cá nhân con xin pháp danh qua mạng sẽ giống như chúng ta xin một món đồ, món ăn… Vậy tại sao ngay bây giờ mình không tách riêng biệt giữa đời và đạo, con nghĩ như vậy mình sẽ có cơ hội nhận diện bản thân mình rõ hơn.

Có nhiều người xin các thầy đặt cho một pháp danh qua mạng thì con chỉ có vài điều chia sẻ rằng đó chỉ là tên gọi mà thôi và khi đã xin pháp danh tức là chúng ta đang hạnh theo lời đức Phật, thiên hướng một phần ý niệm về Phật giáo. Vậy tại sao chúng ta không thu xếp một ngày nào đó tới một ngôi chùa và bạch thầy trụ trì xin làm lễ Quy y Tam Bảo và trong lễ Quy y đó sẽ có tên pháp danh. Con thấy hành động đó rất dễ thương. Điều đó không mấy khó khăn mà còn rất ý nghĩa.

Hãy xem trong một bát canh

Oán sâu thành biển, hận thành non cao

Muốn xem nguồn gốc binh đao

Lắng nghe lò thịt tiếng gào đêm thâu

Bạn đang đọc nội dung bài viết Trong Phật Giáo Bắc Tông,Tu Sĩ Và Phật Tử Được Đặt Tên Theo Những Nguyên Tắc Nào? trên website Welovelevis.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!